Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN THÁP MƯỜI

TỈNH ĐỒNG THÁP

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 14/2024/HS-ST

Ngày: 25/4/2024

 

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THÁP MƯỜI

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Dũng.

Các Hội thẩm nhân dân: Bà Hồ Thị Thủy.

Ông Đào Văn Hiến.

- Thư ký phiên tòa: Bà Phạm Thị Thống Nhất- Thư ký Tòa án nhân dân huyện Tháp Mười, tỉnh Đồng Tháp.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tháp Mười tham gia phiên tòa:

Ông Phạm Tuấn Kiệt- Kiểm sát viên.

Ngày 25 tháng 4 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Tháp Mười, tỉnh Đồng Tháp, mở phiên tòa xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 08/2024/TLST-HS ngày 07 tháng 3 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 11/2024/QĐXXST-HS ngày 26 tháng 3 năm 2024, đối với các bị cáo:

  1. Họ và tên: Lê Văn T. Giới tính: Nam. Sinh năm: 2000. Nơi sinh: Đồng Tháp. Nơi cư trú: Khóm C, thị trấn M, huyện T, tỉnh Đồng Tháp. Quốc tịch: Việt Nam. Dân tộc: Kinh. Tôn giáo: không. Trình độ học vấn: 4/12. Nghề nghiệp: Không. Con ông: Lê Văn T1, sinh năm: 1979 (Còn sống). Con bà: Văn Thị T2, sinh năm: 1979 (Còn sống). Gia đình có 3 anh, em, bị cáo là con thứ hai trong gia đình. Vợ, con: Không có. Tiền sự: Không có. Tiền án: Bị Tòa án nhân dân huyện Tháp Mười xử phạt 04 năm tù về tội “Trộm cắp tài sản” theo Bản án số 16/2020/HS-ST ngày 25-5-2020. Chấp hành xong hình phạt tù ngày 16-9-2023 (Chưa được xóa án tích). Tạm giữ: Không. Tạm giam: ngày 15/12/2023. Hiện bị cáo đang bị tạm giam tại Nhà Tạm giữ Công an huyện T (Bị cáo có mặt tại phiên tòa).

  2. Họ và tên: Huỳnh Minh L. Giới tính: Nam. Sinh năm: 1992. Nơi sinh: Đồng Tháp. Nơi cư trú: Ấp D, xã H, huyện T, tỉnh Đồng Tháp. Quốc tịch: Việt Nam. Dân tộc: Kinh. Tôn giáo: không. Trình độ học vấn: 5/12. Nghề nghiệp: Không. Con ông: Huỳnh Kim E, sinh năm: 1971 (Còn sống). Con bà: Nguyễn Thị Kim V, sinh năm: 1973 (Còn sống). Gia đình có 02 anh, em, bị cáo là con thứ nhất trong gia đình. Vợ: Phạm Thị Huỳnh N, sinh năm 1993. Con: Có 03 người con, sinh năm 2013, 2015, 2017. Tiền án: Bị Tòa án nhân dân huyện Tháp Mười xử phạt 02 năm tù về tội “Gây rối trật tự công cộng” theo Bản án số 59/2020/HS-ST ngày 03-12-2020. Chấp hành xong hình phạt tù ngày 29-3-2022 (Chưa được xóa án tích). Tiền sự: không. Tạm giữ: ngày 23/12/2023, Tạm giam: ngày 28/12/2023.

Nhân thân: Bị Tòa án nhân dân huyện Tháp Mười xử phạt 09 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản” theo Bản án số 34/2010/HS-ST ngày 29-6-2010. Chấp hành xong hình phạt tù ngày 16-5-2011. Hiện bị cáo đang bị tạm giam tại Nhà Tạm giữ Công an huyện T (Bị cáo có mặt tại phiên tòa).

* Người bị hại:

  1. Huỳnh Hoàng H, sinh năm: 1991.

    Địa chỉ: Ấp M, xã M, huyện T, tỉnh Đồng Tháp.

  2. Nguyễn Xuân H1, sinh năm: 1966.

    Địa chỉ: Khóm C, thị trấn M, huyện T, tỉnh Đồng Tháp.

* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

  1. Nguyễn Chí H2, sinh ngày: 08/11/2007.

    Người giám hộ Nguyễn Chí H2: Nguyễn Chí L1, sinh năm: 1980 (là cha của Chí H2).

    Cùng địa chỉ: Ấp M, xã P, huyện T, tỉnh Đồng Tháp.

  2. Nguyễn Văn N1, sinh năm: 1972.

    Địa chỉ: Ấp T, xã T, huyện C, tỉnh Tiền Giang.

* Người làm chứng:

  1. Trần Thị L2, sinh năm: 1962.

    Địa chỉ: Khóm C, thị trấn M, huyện T, tỉnh Đồng Tháp.

  2. Huỳnh Thị Ngọc L3, sinh năm: 1956.

    Địa chỉ: Ấp M, xã M, huyện T, tỉnh Đồng Tháp.

  3. Bùi Cao D, sinh năm 1989.

    Địa chỉ: Ấp M, xã P, huyện T, tỉnh Đồng Tháp.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Bị cáo Lê Văn T có 01 tiền án về tội “Trộm cắp tài sản”, bị Tòa án nhân dân huyện Tháp Mười xử phạt 04 năm tù theo Bản án số 16/2020/HS-ST ngày 25/5/2020. Trong thời gian chấp hành án tại Trại giam C, bị cáo T quen biết với bị cáo L. Đến tháng 9/2023, sau khi chấp hành án xong, về địa phương sinh sống, cả hai thường xuyên đi chơi chung với nhau.

Vào tối ngày 09/12/2023, thì T, LNguyễn Chí H2 sau khi đi uống rượu với nhau, cả 03 người đến thuê phòng tại nhà trọ “N" thuộc khóm C, thị trấn M, huyện T để ngủ.

Đến khoảng 7 giờ ngày 10/12/2023, trong lúc H2 còn đang ngủ, T rủ L đi trộm tài sản để bán lấy tiền tiêu xài thì được L đồng ý. Khi đi, T mang theo 01 cây kiềm cộng lực. L điều khiển xe mô tô biển số 63K8-1625 chở T từ nhà trọ N2 rồi đi trên tuyến lộ nông thôn dọc theo Kênh Nhất đến ấp M, xã M, huyện T, tỉnh Đồng Tháp thì phát hiện nhà của anh Huỳnh Hoài H3 đang khóa cửa. Cả hai dừng xe, quan sát xung quanh. Khi biết nhà không có người trong giữ, T xuống xe đi vào dùng kiềm cộng lực cắt khoen cửa sắt, mở cửa, còn L đứng bên ngoài cảnh giới. Khi mở được cửa, T ra hiệu cho L đi vào nhà lục tìm tài sản để lấy trộm. Trong phòng ngủ, L phát hiện hộp nhựa hình chữ nhật bên trong có một máy khoan điện trị giá 400.000 đồng (Theo Kết luận định giá số 54/KLĐG ngày 18/12/2023 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện T) liền lấy để lên xe đang đậu bên ngoài. Sau đó, cả hai lấy thêm 01 xe mô tô hiệu Honda loại Future biển số 66P1-423.80 trị giá 10.000.000 đồng (Theo Kết luận định giá số 54/KLĐG ngày 18/12/2023 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện T) đang dựng trong nhà. Khi dắt xe ra đến lộ, L tháo biển số xe để tránh bị phát hiện. Do không có chìa khóa để nổ máy xe Future, L điều khiển xe biển số 63K8-1625 dùng chân đẩy xe vừa trộm được do T điều khiển đem đi cất giấu tại căn chòi trong vườn mít của anh Lê Đồng T3 thuộc khóm C, thị trấn M, huyện T, tỉnh Đồng Tháp. Sau đó, T điều khiển xe biển số 63K8-1625 chở L về Nhà trọ N2. Trên đường đi, L gặp Bùi Cao D nên gửi hộp nhựa chứa máy khoan để Diễn giữ giùm.

Khoảng 09 giờ ngày 10/12/2023, bà Trần Thị L2 là mẹ của anh Lê Đồng T3 phát hiện xe mô tô Future biển số 66P1-423.80 trong căn chòi, không biết của ai nên đến Công an Thị trấn M trình báo sự việc và giao nộp chiếc xe. Đến sáng ngày 11/12/2023, T đến vườn mít thì không nhìn thấy xe Future. Biết hành vi phạm tội bị phát hiện, T đến Công an huyện T đầu thú.

Đến khoảng 01 giờ 30 phút ngày 15/12/2023, tại nhà bị cáo T ở khóm C, thị trấn M, huyện T, T tiếp tục rủ Nguyễn Chí H2 đi tìm tài sản để lấy trộm thì được H2 đồng ý. Sau đó, cả hai đi bộ đến nhà của ông Nguyễn Xuân H1 (gần nhà T) thì phát hiện cửa sau không khóa. T kêu H2 đứng ngoài cảnh giới. T đột nhập vào bên trong nhà, lén lút lấy trộm một điện thoại di động Samsung Galaxy A02s màu đỏ trị giá 1.500.000 đồng (Theo Kết luận định giá số 01/KLĐG ngày 05-01-2024 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện T) để trên bàn và một túi xách màu đen để trong tủ. Sau khi đem được tài sản ra bên ngoài, TH2 lục tìm tài sản trong túi xách nhưng không có, T kêu H2 đem túi xách ném xuống sông rồi đi về nhà bà nội của T là bà Nguyễn Thị T4 tại khóm C, thị trấn M để ngủ. Đến sáng ngày 15/12/2023, ông H1 phát hiện bị mất trộm nên trình báo sự việc đến Công an thị trấn M. Lê Văn TNguyễn Chí H2 được mời đến trụ sở Công an huyện T để làm việc. Tại đây, cả hai thừa nhận hành vi phạm tội như nội dung trên và giao nộp lại điện thoại đã lấy trộm.

Quá trình giải quyết vụ án, Cơ quan Cảnh sát Điều tra Công an huyện T đã thu giữ và xử lý vật chứng có liên quan, gồm:

  • - 01 xe mô tô biển số 66P1-423.80, nhãn hiệu Honda Future F1 và 01 hộp nhựa hình chữ nhật bên trong có 01 máy khoan điện là tài sản của anh Huỳnh Hoàng H bị chiếm đoạt. Cơ quan Cảnh sát Điều tra đã trao trả tài sản cho chủ sở hữu.

  • - 01 điện thoại di động Samsung Galaxy A02s màu đỏ là tài sản của ông Cao Xuân H4 bị chiếm đoạt. Cơ quan Cảnh sát Điều tra đã trao trả điện thoại cho ông H4.

  • - 01 cái nón lưỡi trai hiệu LV màu nâu - đen và đôi dép quai ngang màu đen là trang phục Lê Văn T mặc khi phạm tội.

  • - 01 mô tô biển số 63K8-1625 của ông Nguyễn Văn N1, T mượn để sử dụng, sau đó tự ý điều khiển làm phương tiện đi trộm cắp tài sản, ông N1 không biết. Cơ quan Cảnh sát Điều tra đã trao trả xe cho ông N1.

  • - 01 đĩa DVD chứa đoạn video có nội dung liên quan đến tội phạm xảy ra ngày 10/12/2023 được camera giám sát ghi lại.

  • - Đối với cây kìm cộng lực và túi xách màu đen, Cơ quan Cảnh sát Điều tra đã truy tìm nhưng không tìm được.

Về trách nhiệm dân sự, sau khi nhận lại tài sản, những người bị hại không yêu cầu bồi thường thiệt hại.

Tại bản cáo trạng số 10/CT-VKSTM ngày 07 tháng 3 năm 2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Tháp Mười, truy tố bị cáo Lê Văn THuỳnh Minh L về tội “Trộm cắp tài sản” quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa:

Kiểm sát viên giữ quyền công tố giữ nguyên quyết định truy tố theo Cáo trạng, khẳng định việc truy tố trên là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

Trên cơ sở phân tích tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội do hành vi của các bị cáo đã gây ra, nguyên nhân, điều kiện dẫn đến việc thực hiện tội phạm, nhân thân của các bị cáo và quy định của pháp luật. Kiểm sát viên đề nghị:

Áp dụng khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự, tuyên bố bị cáo Lê Văn THuỳnh Minh L phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

Áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm h, điểm g khoản 1 Điều 52; Điều 17; Điều 38 Bộ luật Hình sự, đề nghị xử phạt bị cáo Lê Văn T 01 năm 06 tháng đến 02 năm tù.

Áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52; Điều 17, Điều 38 Bộ luật Hình sự, đề nghị xử phạt bị cáo Huỳnh Minh L 09 tháng đến 01 năm tù.

Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với các bị cáo.

Về trách nhiệm dân sự: Các bị hại đã nhận lại tài sản, không yêu cầu bồi thường.

Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 47 Bộ luật hình sự; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự đề nghị Tòa án tuyên xử:

Trả lại 01 cái nón lưỡi trai hiệu LV màu nâu - đen và đôi dép quai ngang màu đen cho bị cáo Lê Văn T.

Lưu hồ sơ vụ án 01 đĩa DVD chứa đoạn video có nội dung liên quan đến tội phạm xảy ra ngày 10/12/2023 được camera giám sát ghi lại.

Đối với Nguyễn Chí H2 tham gia thực hiện hành vi trộm cắp tài sản cùng bị cáo T vào ngày 15/12/2023. Xét thấy Nguyễn Chí H2 chưa có tiền án, tiền sự về các tội được quy định tại điểm a, b khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự và tài sản bị chiếm đoạt có giá trị 1.500.000 đồng, dưới định lượng cấu thành tội Trộm cắp tài sản. Do đó, Cơ quan Cảnh sát Điều tra đã chuyển cơ quan có thẩm quyền xem xét xử phạt vi phạm hành chính.

Đối với hộp nhựa và túi xách màu đen bị chiếm đoạt, các anh Huỳnh Hoàng H, Nguyễn Xuân H1 xác định đây là tài sản đã cũ, không còn giá trị, không yêu cầu xử lý nên không xem xét.

Đối với ông Nguyễn Văn N1 không biết bị cáo T mượn xe mô tô biển số 63K8-1625 để thực hiện tội phạm, nên không xem xét xử lý.

Đối với Lê Đồng T3Bùi Cao D không biết việc phạm tội của các bị cáo, nên không xem xét xử lý.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về sự vắng mặt của những người tham gia tố tụng: Người bị hại; người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan; người làm chứng đều có Đơn đề nghị vắng mặt phiên tòa. Hội đồng xét xử xét thấy, người bị hại đã nhận lại tài sản và không có yêu cầu gì thêm trong vụ án này; người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đã nhận lại tài sản (ông N1); người làm chứng vắng mặt không làm ảnh hưởng đến việc xét xử vụ án. Do đó, Hội đồng xét xử căn cứ khoản 1 Điều 292; khoản 1 Điều 293 Bộ luật tố tụng hình sự, tiến hành xét xử vắng mặt người bị hại; người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan; người làm chứng.

[2] Về hành vi, Quyết định tố tụng của Cơ quan Cảnh sát Điều tra Công an huyện T, Điều tra viên; Viện kiểm sát nhân dân huyện T, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và chuẩn bị xét xử và tại phiên tòa, các bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[3] Hội đồng xét xử xét thấy, lời khai nhận tội của bị cáo TL tại phiên tòa hôm nay là phù hợp với lời khai của các bị cáo tại Cơ quan Điều tra, phù hợp với lời khai của người bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan, người làm chứng cùng với các tài liệu, chứng cứ khác do Cơ quan Điều tra thu thập có trong hồ sơ vụ án và tại phần tranh luận, các bị cáo cũng thống nhất với lời luận tội của Kiểm sát viên. Các bị cáo là người đã thành niên, có đầy đủ thể lực và trí lực nhận thức hành vi của mình là biết rõ hành vi chiếm đoạt tài sản của người khác là vi phạm pháp luật mà vẫn thực hiện, thực hiện với lỗi cố ý, tổng giá trị tài sản chiếm đoạt 11.900.000 đồng (trong đó bị cáo L tham gia lần chiếm đoạt 10.400.000 đồng) nên đã đủ yếu tố cấu thành tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự.

Tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự quy định:

1. Người nào trộm cắp tài sản của người khác trị giá từ 2.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng hoặc dưới 2.000.000 đồng nhưng thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm.

...".

[4] Xét, hành vi phạm tội của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã trực tiếp xâm phạm đến quyền sở hữu về tài sản của các bị hại một cách trái phép. Quyền sở hữu về tài sản là khách thể được Luật hình sự bảo vệ, nghiêm cấm mọi hành vi trái phép xâm phạm đến. Nhưng, vì bản chất lười biếng, tham lam, muốn mau chóng có tiền tiêu xài mà không phải bỏ ra công sức lao động hợp pháp, với ý thức xem thường pháp luật nên các bị cáo lợi dụng sự chủ quan, sơ hở của chủ sở hữu tài sản để lấy trộm tài sản, cụ thể như sau:

Khoảng 07 giờ 30 phút ngày 10/12/2023, lợi dụng nhà anh Huỳnh Hoàng H tại ấp M, xã M, huyện T không có người trong giữ, bị cáo TL đã lén lút dùng kìm cộng lực cắt khóa cửa, đột nhập vào nhà lấy trộm 01 xe môtô hiệu Future biển số 66P1-423.80 và 01 máy khoan điện với tổng giá trị 10.400.000 đồng.

Khoảng 01 giờ 30 phút ngày 15/12/2023, lợi dụng đêm khuya, bị cáo TNguyễn Chí H2 lén lút đột nhập vào nhà của ông Nguyễn Xuân H1 tại khóm C, thị trấn M, huyện T lén lút lấy trộm một điện thoại di động Samsung Galaxy A02s màu đỏ trị giá 1.500.000 đồng.

Hành vi này, không những vi phạm pháp luật mà còn làm ảnh hưởng xấu đến tình hình an ninh trật tự tại địa phương, gây hoang mang trong quần chúng nhân dân. Do đó, việc đưa các bị cáo ra xét xử công khai như hôm nay là cần thiết, cần phải cách ly các bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian phù hợp để đủ cải tạo, giáo dục các bị cáo thành người tốt, thể hiện sự nghiêm minh của pháp luật, đồng thời nhằm mục đích giáo dục, phòng ngừa chung trong xã hội.

[5] Vai trò của từng bị cáo:

Bị cáo T là người chủ mưu, rũ rê, người thực hành. Đối với lần trộm ngày 10/12/2023, thì ngày 11/12/2023 bị cáo đến Công an huyện T đầu thú (Biên bản tiếp nhận người phạm tội ra đầu thú ngày 11/12/2023). Nhưng, bị cáo T chưa bị tạm giữ, tạm giam, được về gia đình, đến ngày 15/12/2023, bị cáo T tiếp tục rủ Nguyễn Chí H2 đi trộm tài sản, chứng minh là bị cáo xem thường pháp luật.

Bị cáo L người giúp sức, người thực hành.

[6] Tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

Các bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải theo quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự. Bị cáo T đầu thú theo quy định tại khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.

Ngoài ra, tại phiên tòa, bị cáo T trình bày có ông cố tên Lê Văn V1 là liệt sĩ. Theo điểm c khoản 5 Nghị quyết số 01/2000/NQ-HĐTP ngày 04/8/2000 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án Tối cao quy định “Bị cáo là thương binh hoặc có người thân thích như vợ, chồng, cha, mẹ, con (con đẻ hoặc con nuôi), anh, chị, em ruột là liệt sỹ”. Như vậy, bị cáo T không đủ đều kiện hưởng thêm tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

[7] Tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự:

Các bị cáo phạm tội chưa được xóa án tích, thuộc trường hợp tái phạm theo quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự.

Bị cáo Lê Văn Trọng phạm t hai lần theo quy định tại điểm g khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự.

[8] Về hình phạt bổ sung: Hội đồng xét xử xét thấy, các bị cáo sống phụ thuộc gia đình, có cuộc sống kinh tế khó khăn, nên không áp dụng đối với các bị cáo.

[9] Về trách nhiệm dân sự: Bị hại đã nhận lại tài sản, không có yêu cầu gì khác trong vụ án này nên Hội đồng xét xử không đặt vấn đề xem xét, giải quyết.

[10] Về xử lý vật chứng: Xét đề nghị của Kiểm sát viên là đúng với quy định tại Điều 47 Bộ luật hình sự và Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự nên Hội đồng xét xử chấp nhận. Đối với cây kìm cộng lực và túi xách màu đen, cơ quan điều tra đã truy tìm nhưng không tìm được. Đối với hợp nhựa (đã trả lại cho anh H) và túi xách màu đen (của ông H1, không tìm được) đã cũ, không còn giá trị, không yêu cầu xử lý, không định giá. Do đó, Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.

[11] Đối với Nguyễn Chí H2 tham gia thực hiện hành vi trộm cắp tài sản cùng bị cáo T vào ngày 15/12/2023. Xét thấy, Nguyễn Chí H2 chưa có tiền án, tiền sự về các tội được quy định tại điểm a, b khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự và tài sản bị chiếm đoạt có giá trị 1.500.000 đồng, dưới định lượng cấu thành tội “Trộm cắp tài sản”. Do đó, Cơ quan Cảnh sát Điều tra đã chuyển cơ quan có thẩm quyền xem xét xử phạt vi phạm hành chính là phù hợp.

[12] Đối với ông Nguyễn Văn N1 không biết việc bị cáo T mượn xe môtô biển số 63K8-1625 để thực hiện tội phạm nên không xem xét xử lý.

[13] Đối với Lê Đồng T3Bùi Cao D, không biết việc phạm tội của các b cáo nên không xem xét xử lý.

[14] Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định.

[15] Bị cáo, người bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo bản án theo quy định.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

  1. Căn cứ khoản 1 Điều 173; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm h, điểm g khoản 1 Điều 52; Điều 17; Điều 38 Bộ luật Hình sự.

    Tuyên bố bị cáo Lê Văn Trọng phạm t “Trộm cắp tài sản”.

    Xử phạt bị cáo Lê Văn T 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù, thời hạn từ tính từ ngày tạm giam, ngày 15/12/2023.

  2. Căn cứ khoản 1 Điều 173; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52; Điều 17, Điều 38 Bộ luật Hình sự.

    Tuyên bố bị cáo Huỳnh Minh L phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

    Xử phạt bị cáo Huỳnh Minh L 09 (chín) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ, ngày 23/12/2023.

  3. Về hình phạt bổ sung: Không áp dụng.

  4. Về trách nhiệm dân sự: Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.

  5. Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 47 Bộ luật hình sự; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự:

    Trả lại 01 cái nón lưỡi trai hiệu LV màu nâu - đen và đôi dép quai ngang màu đen cho bị cáo Lê Văn T.

    Lưu hồ sơ vụ án 01 đĩa DVD chứa đoạn video có nội dung liên quan đến tội phạm xảy ra ngày 10/12/2023 được camera giám sát ghi lại.

    Hiện Chi cục Thi hành án dân sự huyện T đang quản lý vật chứng theo biên bản giao nhận vật chứng, tài sản ngày 13/3/2024.

  6. Về án phí: Căn cứ Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

    Bị cáo Lê Văn T, Huỳnh Minh L mỗi bị cáo phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) tiền án phí hình sự sơ thẩm.

  7. Quyền kháng cáo: Bị cáo có mặt, có quyền kháng cáo Bản án lên Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Tháp trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án. Người bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan vắng mặt, có quyền kháng cáo Bản án lên Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Tháp trong hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được Bản án hoặc kể từ ngày Tòa án niêm yết bản án tại nơi cư trú.

Nơi nhận:

  • - VKS Tỉnh, Huyện;
  • - Tòa án Tỉnh;
  • - Sở Tư pháp Tỉnh;
  • - Chi cục THADS Huyện;
  • - Trại tạm giam Công an Tỉnh;
  • - Bị cáo, bị hại;
  • - Lưu: HSVA + VPTA (D).

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Văn Dũng

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 14/2024/HS-ST ngày 25/04/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THÁP MƯỜI về trộm cắp tài sản

  • Số bản án: 14/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 25/04/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THÁP MƯỜI
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: hình sự
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger