|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TAM NÔNG TỈNH PHÚ THỌ |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số:14/2024/HS-ST Ngày 25-4-2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TAM NÔNG, TỈNH PHÚ THỌ
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thơm.
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Đức Khởi.
Ông Nguyễn Văn Cường.
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Đào - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Tam Nông.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tam Nông tham gia phiên tòa: Bà Phạm Thị Thùy Linh - Kiểm sát viên.
Ngày 25 tháng 4 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Tam Nông, tỉnh Phú Thọ xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 11/2024/TLST-HS ngày 29 tháng 3 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 11/2024/QĐXXST-HS ngày 03 tháng 4 năm 2024 đối với các bị cáo:
-
Nguyễn Thị H - sinh ngày 12 tháng 6 năm 1961 tại huyện T, tỉnh Phú Thọ; Nơi cư trú:Tổ B, khu H, phường G, thành phố V. tỉnh Phú Thọ; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: 7/10; dân tộc: Kinh; Giới tính: Nữ; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông: Nguyễn Vi S (đã chết) và bà Nguyễn Thị H1 (đã chết);chồng: Nguyễn Tiến H2 (đã chết);Con:có 02 con (lớn 36 tuổi, nhỏ 32 tuổi). Tiền án, tiền sự: Không; Nhân thân: Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 67 ngày 12/10/2005 của Công an phường T phạt 500.000₫ về hành vi Đánh bạc. Đã nộp phạt ngày 12/10/2005.
Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 07 ngày 9/3/2010 của Công an phường T phạt 500.000đ về hành vi Đánh bạc.Đã nộp phạt ngày 10/3/2010
Bị cáo không bị bắt, tạm giữ, tạm giam.Hiện bị cáo đang bị áp dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú tại:Tổ B, khu H, phường G, thành phố V. tỉnh Phú Thọ. Có mặt.
-
Nguyễn Doãn T - sinh ngày 25 tháng 8 năm 1959 tại huyện L, tỉnh Phú Thọ; Nơi cư trú: Tổ C, khu L, phường G, thành phố V, tỉnh Phú Thọ; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn:10/10; dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông: Nguyễn Doãn T1 (đã chết) và bà Nguyễn Thị L (đã chết); vợ: Hán Thị Vân T2, sinh năm 1964; Con: Có 02 con (lớn 35 tuổi, nhỏ 24 tuổi); Tiền án, tiền sự: Không.
Bị cáo không bị bắt, tạm giữ, tạm giam.Hiện bị cáo đang bị áp dụng biện pháp cấm đo khỏi nơi cư trú tại Tổ C, khu L, phường G, thành phố V. tỉnh Phú Thọ. Có mặt.
- Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan:
- Bà Đỗ Thị B, sinh năm 1964.
- Ông Nguyễn Xuân T3, sinh năm 1963.
Địa chỉ: Khu A, xã H, huyện T, tỉnh Phú Thọ.(Có mặt).
Địa chỉ: Khu A, xã H, huyện T, tỉnh Phú Thọ.(Có mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Hồi 18 giờ 05 phút ngày 10/01/2024, tổ công tác của Công an huyện T, tỉnh Phú Thọ nhận được tin báo của quần chúng nhân dân về việc tại nhà ở của bà Đỗ Thị B, sinh năm 1964, tại khu A, xã H, huyện T có biểu hiện mua bán số lô, đề. Tổ công tác đã tiến hành kiểm tra và phát hiện: Tại gian phòng bếp của gia đình bà B có Nguyễn Thị H, sinh năm 1961, HKTT: Tổ B, khu H, phường G, thành phố V, tỉnh Phú Thọ đang thực hiện việc mua bán số lô, đề qua điện thoại. Tổ công tác đã tiến hành lập biên bản sự việc và thu giữ 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 6s Plus màu vàng trắng, số IMEI: 353290075970418, bên trong lắp sim số thuê bao 0332612830. Cơ quan điều tra đã tiến hành khám xét khẩn cấp người, nơi thực hiện hành vi phạm tội cũng như khám xét khẩn cấp nơi ở của Nguyễn Thị H ở Tổ B, khu H, phường G, thành phố V nhưng không thu giữ được gì liên quan đến hành vi mua bán số lô, đề. Quá trình điều tra đã chứng minh làm rõ hành vi của các đối tượng như sau:
Do có quen biết với Nguyễn Thị H từ trước nên ngày 10/01/2024, bà Đỗ Thị B vừa rủ H sang nhà chơi, vừa nhờ H sang để bơm nước từ bể chứa phân lên thùng chở đi tưới cây bưởi ở vườn nhà bà B. Chiều cùng ngày, sau khi tưới cây xong, bà B đi cho lợn, gà ăn ở vườn, ông Nguyễn Xuân T3, sinh năm 1963 (chồng bà B) đi thể dục và bà B nhờ H về nhà nấu cơm. Vào hồi 17 giờ 56 phút ngày 10/01/2024, khi H đang ở bếp nhà bà B thì có Nguyễn Doãn T, sinh năm 1959, trú tại khu L, phường G, thành phố V, tỉnh Phú Thọ sử dụng điện thoại di động lắp sim số 0779.201.081 nhắn tin qua tin nhắn điện thoại đến số điện thoại 0332.612.xxx của Nguyễn Thị H để mua số lô, số đề (T đã quen biết H nhiều năm từ khi T làm bảo vệ Trung tâm thiếu nhi của tỉnh còn H bán vé sổ xố ở cổng Trung tâm thiếu nhi). T nhắn cho H 03 tin nhắn, mua số lô, số đề với tổng số tiền đánh bạc là 5.180.000đồng (Năm triệu một trăm tám mươi nghìn đồng).
Ngoài ra, khoảng 17 giờ 13 phút cùng ngày thông qua tài khoản zalo “Ha Loan” được đăng ký bằng số điện thoại 0332.612.xxx, H còn bán số lô, đề cho người phụ nữ tên H3 ở khu C tầng, phường G, thành phố V (tài khoản zalo “Hiệu D”) với tổng số tiền là 1.640.000đ (Một triệu sáu trăm bốn mươi nghìn đồng).
Như vậy, về tổng số tiền mua, bán số lô, số đề giữa H và các đối tượng nêu trên trong ngày 10/01/2024 là 6.820.000 đồng (Sáu triệu tám trăm hai mươi nghìn đồng)(trong đó: Số tiền H đã bán số lô, đề cho T là 5.180.000đ, số tiền H đã bán số lô, đề cho người phụ nữ tên H3 là 1.640.000đ). Số tiền này các đối tượng chưa thanh toán cho nhau. Về số tiền T đã mua số lô, đề của H, trong quá trình điều tra bị cáo T đã tự nguyện nộp lại.
Về cách thức ghi số lô, số đề các đối tượng cùng xác định như sau: Các số lô, số đề là các số tự nhiên từ 00 đến 99, người chơi có thể ghi các số tự chọn với số tiền tùy ý. Đối với số đề: Nếu số đã ghi trùng với hai số cuối giải đặc biệt
kết quả xổ số kiến thiết miền B mở thưởng trong ngày, thì người ghi sẽ được hưởng số tiền gấp 70 lần số tiền đã ghi đề. Đối với số lô, giá ghi một điểm lô là 20.000đồng, nếu số đã ghi trùng với hai số cuối của tất cả các giải xổ số kiến thiết miền B mở thưởng trong ngày thì người ghi sẽ được 70.000đồng/điểm lô, trường hợp số lô trùng nhiều lần trong các giải thì người ghi sẽ nhận số tiền tương ứng gấp số lần trùng nhau số lô đã mua (tính không quá hai lần) nếu không trùng thì sẽ mất số tiền đã ghi.
Ngày 11/01/2024, sau khi biết Nguyễn Thị H bị triệu tập đến Cơ quan điều tra để làm việc thì Nguyễn Doãn T đã đến Công an huyện T đầu thú và khai nhận hành vi phạm tội của mình. Lời khai của T phù hợp với lời khai của Nguyễn Thị H.
Đối với chiếc điện thoại bên trong có gắn sim số 0779201081, T dùng để nhắn tin mua số lô đề với Nguyễn Thị H, T khai: Sim số điện thoại nêu trên T đã dùng từ lâu nhưng không đăng ký chính chủ tên của T. Buổi chiều ngày 10/01/2024 trong quá trình đạp xe thể dục đã vô tình làm rơi mất chiếc điện thoại gắn sim số nêu trên nên không tìm lại được. Tuy nhiên Cơ quan điều tra đã đề nghị Công ty D - Chi nhánh Tổng công ty V cung cấp thông tin, danh sách các cuộc gọi đi, gọi đến, tin nhắn đi, tin nhắn đến trong thời gian từ ngày 05/01/2024 đến ngày 10/01/2024 của số thuê bao 0779201081. Kết quả cung cấp thông tin thể hiện: Số thuê bao nêu trên đăng ký chính chủ tên anh Hoàng Tất C, sinh năm 1965, ở phường T, thành phố V, tỉnh Phú Thọ. Cơ quan điều tra đã tiến hành lấy lời khai của anh Hoàng Tất C thì anh C cung cấp: Năm 2019, anh C đánh rơi ví nên đã mất chứng minh thư và giấy tờ bên trong, còn anh C không sử dụng số điện thoại 0779.201.xxx và cũng không biết ông Nguyễn Doãn T là ai. Về lịch sử tin nhắn giữa thuê bao trên và thuê bao 0332612830 của H phù hợp với lời khai của T, H.
Cơ quan điều tra đã tiến hành xác minh tài sản của các bị cáo xác định: Các bị cáo hiện đều đang sinh sống cùng gia đình, có tài sản chung và không có tài sản riêng gì có giá trị. Các bị cáo đều là lao động tự do, Nguyễn Thị H thu nhập bình quân hàng tháng là 5.000.000 đồng, Nguyễn Doãn T hiện không có việc làm nên không có thu nhập.
Tại cáo trạng số 10/CT-VKSTN ngày 28 tháng 3 năm 2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Tam Nông, tỉnh Phú Thọ truy tố các bị cáo Nguyễn Thị H, Nguyễn Doãn T về tội “Đánh bạc” theo quy định tại khoản 1, Điều 321, Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tam Nông giữ nguyên quan điểm truy tố các bị cáo như bản cáo trạng đã nêu và đề nghị Hội đồng xét xử:
Căn cứ khoản 1 Điều 321 Bộ luật Hình sự.
1. Tuyên bố các bị cáo: Nguyễn Thị H, Nguyễn Doãn T phạm tội “Đánh bạc”.
Căn cứ khoản 1, Điều 321; điểm i,s khoản 1 Điều 51;Điều 35 Bộ luật Hình sự: Xử phạt bị cáo Nguyễn Thị H từ 30.000.0000đ (Ba mươi triệu đồng) đến 35.000.000₫ (Ba mươi lăm triệu đồng)
Căn cứ khoản 1 Điều 321; điểm i, s, khoản 1; khoản 2 Điều 51; Điều 35 Bộ luật Hình sự:
+ Xử phạt bị cáo Nguyễn Doãn T từ 25.000.000đ (Hai mươi lăm triệu đồng) đến 30.000.000₫ (Ba mươi triệu đồng).
Hình phạt bổ sung: Do đã áp dụng hình phạt chính là hình phạt tiền đối với các bị cáo nên không áp dụng hình phạt bổ sung là hình phạt tiền đối với bị cáo H và bị cáo T.
2. Về xử lý vật chứng: Áp dụng điểm a, b, khoản 1, Điều 47 Bộ luật Hình sự; điểm a,b,c khoản 2, Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự:
- Buộc bị cáo Nguyễn Doãn T phải nộp lại số tiền 5.180.000đ (Năm triệu một trăm tám mươi nghìn) để nộp Ngân sách Nhà nước là tiền bị cáo Nguyễn Doãn T dùng để đánh bạc
(Theo giấy nộp tiền ngày 02/4/2023 tại Kho bạc Nhà nước huyện T)
- Tịch thu để bán nộp ngân sách nhà nước 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 6s màu vàng trắng, số IMEI :353290075970418 của bị cáo Nguyễn Thị H
- Tịch thu và tiêu hủy phôi sim điện thoại 0332.612.xxx của Nguyễn Thị H.
3. Về án phí hình sự sơ thẩm:Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự 2015; Luật phí và lệ phí 2015; điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết 326 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án:
Tại phiên tòa các bị cáo có đề nghị được miễn án phí hình sự sơ thẩm do các bị cáo là người cao tuổi nên bị cáo Nguyễn Thị H và bị cáo Nguyễn Doãn T được miễn án phí hình sự sơ thẩm.
Tại phiên tòa các bị cáo nói lời sau cùng: Các bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử xem xét hoàn cảnh gia đình các bị cáo khó khăn, cho các bị cáo được hưởng mức án thấp nhất.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1].Về tính hợp pháp của các hành vi, quyết định tố tụng Cơ quan Điều tra Công an huyện T, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện T, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2].Về hành vi cấu thành tội phạm của bị cáo:
Tại phiên tòa cũng như tại Cơ quan điều tra các bị cáo Nguyễn Thị H và bị cáo Nguyễn Doãn T đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình đúng như trong nội dung bản cáo trạng đã truy tố. Lời khai nhận của các bị cáo được thẩm tra tại phiên tòa, phù hợp với biên bản vụ việc,vật chứng đã thu giữ và các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Hội đồng xét xử có đủ cơ sở để kết
luận: Hồi 18 giờ 05 phút, ngày 10/01/2024 tại nhà của gia đình ông Nguyễn Xuân T3, sinh năm 1963 và bà Đỗ Thị B, sinh năm 1964 tại khu A, xã H, huyện T, Nguyễn Thị H đã có hành vi đánh bạc bằng hình thức bán số lô, số đề cho Nguyễn Doãn T và một người phụ nữ có tài khoản zalo “Hiệu Diệu Hoà” với tổng số tiền đánh bạc là 6.820.000 đồng (Sáu triệu tám trăm hai mươi nghìn đồng). Trong đó Nguyễn Doãn T đã mua số lô, đề của Nguyễn Thị H với số tiền là 5.180.000 đồng (Năm triệu một trăm tám mươi nghìn đồng). Do vậy Nguyễn Thị H phải chịu trách nhiệm hình sự về tội “Đánh bạc” với số tiền 6.820.000 đồng, Nguyễn Doãn T phải chịu trách nhiệm hình sự về tội “Đánh bạc” với số tiền 5.180.000 đồng.
Hành vi nêu trên của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, trực tiếp xâm phạm đến trật tự công cộng, ảnh hưởng xấu đến tình hình an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội tại địa phương. Bản thân các bị cáo có đủ năng lực trách nhiệm hình sự, số tiền các bị cáo sử dụng vào việc đánh bạc là từ 5.000.000đ đến dưới 50.000.000đ. Hội đồng xét xử kết luận: Viện kiểm sát nhân dân huyệnTam Nông truy tố các bị cáo về tội: “ Đánh bạc” theo khoản 1, Điều 321 của Bộ luật hình sự là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
[3].Xét về nhân thân và các tình tiết tăng nặng giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho các bị cáo như sau:
Về nhân thân: Bị cáo H đã bị Công an phường T, thành phố V ra quyết định xử phạt hành chính về hành vi Đánh bạc. Tuy nhiên bị cáo H đã nộp phạt, thi hành xong.Bị cáo T có nhân thân tốt, chưa có tiền án tiền sự.
Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự:Bị cáo H và bị cáo T không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nào.
Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Quá trình điều tra và tại phiên tòa hôm nay các bị cáo H và bị cáo T đều thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, các bị cáo đều phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm i, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
Bị cáo T đã tự đến cơ quan điều tra đầu thú về hành vi phạm tội của mình nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
[4].Về hình phạt:
- Hình phạt chính: Qua xem xét về nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, tính chất mức độ hành vi phạm tội của các bị cáo, Hội đồng xét xử xét thấy các bị cáo H và bị cáo T đều phạm tội lần đầu,thuộc trường hợp ít nghiêm trọng và có nơi cư trú rõ ràng, có khả năng tự cải tạo có tài sản chung với gia đình có khả năng thi hành hình phạt tiền.Vì vậy Hội đồng xét xử xét thấy không cần cách ly các bị cáo khởi đời sống xã hội có thể áp dụng hình phạt tiền là hình phạt chính theo quy định tại Điều 35 Bộ luật hình sự cũng đủ để giáo dục các bị cáo trở thành công dân có ích cho gia đình và xã hội.
Đối với bị cáo H và bị cáo T khi xem xét lượng hình Hội đồng xét xử sẽ xem xét đến nhân thân, căn cứ vào tính chất, mức độ phạm tội của từng bị cáo để quyết định hình phạt.
[5]Về xử lý vật chứng:
- Đối với 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 6s màu vàng trắng,
số IMEI:353290075970418 của bị cáo Nguyễn Thị H,đây là phương tiện bị cáo sử dụng vào việc đánh bạc nên cần tịch thu sung ngân sách nhà nước.
- Đối với phôi sim điện thoại 0332.612.xxx của Nguyễn Thị H là công cụ phạm tội hiện không còn giá trị sử dụng cần tịch thu tiêu hủy.
- Buộc bị cáo Nguyễn Doãn T phải nộp lại số tiền 5.180.000đ (Năm triệu một trăm tám mươi nghìn) để nộp Ngân sách Nhà nước là tiền bị cáo Nguyễn Doãn T dùng để đánh bạc. Nhưng cần xác nhận bị cáo Nguyễn Doãn T đã nộp số tiền 5.180.000đ (Năm triệu một trăm tám mươi nghìn đồng) trong quá trình điều tra.
[6] Về các vấn đề khác :
Đối với bà Đỗ Thị B và ông Nguyễn Hữu T4 (chồng bà B) là chủ ngôi nhà nơi Nguyễn Thị H thực hiện hành vi ghi số lô đề ngày 10/01/2024, quá trình điều tra, xác minh xác định: Bà B, ông T4 nhờ Nguyễn Thị H đến làm giúp việc nhà và không biết việc Nguyễn Thị H thực hiện hành vi mua bán số lô, số đề và cũng không được hưởng lợi gì từ việc H mua bán số lô, đề nên Cơ quan điều tra không xem xét, xử lý đối với bà B, ông T4 là phù hợp với quy định của pháp luật.
Đối với người phụ nữ tên H3 ở khu C tầng, phường G, thành phố V (tài khoản zalo “Hiệu D”) là người đã mua số lô, đề của H ngày 10/01/2024 với số tiền là 1.640.000đ (Một triệu sáu trăm bốn mươi nghìn đồng), giữa H và H3 cũng chưa thanh toán tiền đánh bạc cho nhau. Do H không có số điện thoại cũng không biết họ, tên đầy đủ, địa chỉ nơi ở của người phụ nữ nêu trên và Cơ quan điều tra đã tiến hành xác minh nhưng không xác định được người phụ nữ trên là ai nên không xem xét xử lý là phù hợp.
Cơ quan điều tra đã tiến hành xác minh tài sản của các bị cáo xác định: Các bị cáo hiện đều đang sinh sống cùng gia đình, có tài sản chung và không có tài sản riêng gì có giá trị. Các bị cáo đều là lao động tự do, Nguyễn Thị H thu nhập bình quân hàng tháng là 5.000.000 đồng, Nguyễn Doãn T hiện không có việc làm nên không có thu nhập.
[7] Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự 2015; Luật phí và lệ phí 2015; điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết 326 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án: Miễn án phí Hình sự sơ thẩm cho các bị cáo.
[8] Các bị cáo được quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tam Nông thực hành quyền công tố tại phiên tòa đề xuất về hình phạt đối với bị cáo, Hội đồng xét xử xét thấy phù hợp nên chấp nhận.
Vì các lẽ trên:
QUYẾT ĐỊNH
Căn cứ khoản 1 Điều 321 Bộ luật Hình sự.
1.Tuyên bố các bị cáo: Nguyễn Thị H và Nguyễn Doãn T phạm tội “Đánh bạc”.
Căn cứ khoản 1, Điều 321; điểm i, s khoản 1 Điều 51, Điều 35 Bộ luật Hình sự:
Xử phạt bị cáo Nguyễn Thị H: 35.000.000đ (Ba mươi lăm triệu đồng).
Căn cứ khoản 1 Điều 321; điểm i, s, khoản 1,2 Điều 51; Điều 35 Bộ luật Hình sự:
Xử phạt bị cáo Nguyễn Doãn T: 25.000.000đ (Hai mươi lăm triệu đồng)
Hình phạt bổ sung:Do đã áp dụng hình phạt chính là hình phạt tiền đối với các bị cáo nên không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo H và bị cáo T.
2.Về xử lý vật chứng: Áp dụng điểm a, b, khoản 1, Điều 47 Bộ luật Hình sự; khoản 2, Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự:
- Buộc bị cáo Nguyễn Doãn T phải nộp ngân sách Nhà nước số tiền 5.180.000đ (Năm triệu một trăm tám mươi nghìn đồng).Xác nhận bị cáo Nguyễn Doãn T đã nộp số tiền 5.180.000đ (Năm triệu một trăm tám mươi nghìn đồng (Theo giấy nộp tiền ngày 02/4/2023 tại Kho bạc Nhà nước huyện T)
- Tịch thu để bán nộp ngân sách nhà nước 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 6SPlus màu vàng trắng, số IMEI :353290075970418 của bị cáo Nguyễn Thị H
- Tịch thu và tiêu hủy các phôi sim điện thoại 0332612830 của Nguyễn Thị H.
(Theo biên bản giao nhận vật chứng, tài sản giữa Công an huyện T và Chi cục Thi hành án dân sự huyện Tam Nông ngày 29/3/2024)
3.Về án phí hình sự sơ thẩm:Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự 2015; Luật phí và lệ phí 2015; điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết 326 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án:
Bị cáo Nguyễn Thị H và bị cáo Nguyễn Doãn T được miễn án phí hình sự sơ thẩm.
Áp dụng điều 26 Luật thi hành án dân sự, các bị cáo phải thực hiện nghĩa vụ thi hành án dân sự, nếu không tự nguyện thi hành án thì bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại điều 7a, điều 9 Luật thi hành án dân sự.
Về quyền kháng cáo: Áp dụng Điều 331, Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự: Các bị cáo có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa Nguyễn Thị Thơm |
Bản án số 14/2024/HS-ST ngày 25/04/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TAM NÔNG, TỈNH PHÚ THỌ về tội đánh bạc (gambling)
- Số bản án: 14/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Tội Đánh bạc (Gambling)
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 25/04/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TAM NÔNG, TỈNH PHÚ THỌ
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Các bị cáo Nguyễn Thị Hoa, Nguyễn Doãn Tình phạm tội “Đánh bạc” theo quy định tại khoản 1, Điều 321, Bộ luật Hình sự.
