TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ NGÃ BẢY TỈNH HẬU GIANG Bản án số: 14/2024/HNGĐ-ST Ngày: 24-7-2024. V/v: “Tranh chấp ly hôn” | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ NGÃ BẢY
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Huỳnh Kim Cương.
Các Hội thẩm nhân dân:
- Ông Nguyễn Thanh Phương.
- Ông Nguyễn Văn Hải.
- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Hùng Thẩm – Thẩm tra viên Tòa án nhân dân thành phố Ngã Bảy.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Ngã Bảy tham gia phiên tòa: Ông Võ Hoài Vinh – Kiểm sát viên.
Ngày 24 tháng 7 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Ngã Bảy mở phiên tòa xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân và gia đình thụ lý số 49/2024/HNGĐ-ST, ngày 22/4/2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 10/2024/QĐST-HNGĐ, ngày 25/6/2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số 03/2024/QĐST-HNGĐ ngày 11/7/2024, về việc "Tranh chấp ly hôn", giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Nguyễn Thị Kim X, sinh năm: 1989. (Có mặt)
- Bị đơn: Đặng Văn V, sinh năm: 1975. (Vắng mặt)
Trú tại: Khu vực B, phường NB, thành phố NB, tỉnh Hậu Giang.
Trú tại: Khu vực B, phường NB, thành phố NB, tỉnh Hậu Giang.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện ngày 15/02/2024 và tại phiên tòa nguyên đơn Nguyễn Thị Kim X trình bày:
Nguyên đơn và bị đơn tự quen biết, tìm hiểu nhau một thời gian sau đó quyết định đi đến hôn nhân. Anh chị được hai bên gia đình tổ chức đám cưới và có đăng ký kết hôn năm 2013 tại Ủy ban nhân dân phường Ngã Bảy, thành phố Ngã Bảy, tỉnh Hậu Giang, hôn nhân hoàn toàn tự nguyện. Thời gian đầu cuộc sống gia đình hạnh phúc; sau đó bất đồng quan điểm trong cuộc sống do anh V ghen tuông, dùng lời lẽ xúc phạm danh dự nhân phẩm chị X. Mâu thuẫn không hàn gắn được nên anh chị ly thân hơn 05 tháng nay; do không còn tình cảm vợ chồng nên chị X xin ly hôn với anh V.
Về con chung: Có 02 con chung tên Đặng Văn K (giới tính: Nam), sinh ngày 11/9/2016 và Đặng Như Q (giới tính: Nữ), sinh ngày 13/4/2020. Hai con chung đang sống với nguyên đơn; sau khi ly hôn nguyên đơn yêu cầu nuôi dưỡng hai con chung, không yêu cầu bị đơn cấp dưỡng.
Về tài sản chung: Tự thoả thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Về nợ chung: Không có.
Bị đơn trình bày: Bị đơn thừa nhận hoàn toàn lời trình bày của nguyên đơn về năm kết hôn, nguyên nhân mâu thuẫn, con chung, tài sản chung, nợ chung là đúng. Bị đơn không đồng ý ly hôn với nguyên đơn vì còn thương vợ con, bị đơn muốn hàn gắn lại hạnh phúc gia đình.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Ngã Bảy tham gia phiên tòa phát biểu quan điểm: Từ khi thụ lý vụ án đến phiên tòa hôm nay, Thẩm phán và Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa đã thực hiện đúng và đầy đủ các quy định của pháp luật về tố tụng dân sự.
Đối với các đương sự: Từ khi thụ lý vụ án cũng như tại phiên tòa hôm nay đã thực hiện đầy đủ các quyền và nghĩa vụ quy định tại Điều 71 và Điều 72 của Bộ luật tố tụng dân sự.
Về nội dung: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, cho nguyên đơn được ly hôn với bị đơn; giao hai con chung cho nguyên đơn nuôi dưỡng, bị đơn chưa phải cấp dưỡng nuôi con chung; tài sản chung, nợ chung không yêu cầu nên không đặt ra xem xét.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định:
- Về thủ tục tố tụng: Nguyên đơn khởi kiện xin ly hôn với bị đơn, đây là vụ kiện tranh chấp Hôn nhân và gia đình theo quy định tại Điều 28 Bộ luật tố tụng dân sự và bị đơn có nơi cư trú tại thành phố Ngã Bảy nên thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Ngã Bảy theo quy định tại Điều 35 Bộ luật Tố tụng dân sự. Bị đơn đã được triệu tập hợp lệ nhưng vắng mặt nên Hội đồng xét xử căn cứ vào Điều 227 của Bộ luật tố tụng dân sự xét xử vắng mặt bị đơn.
- Về quan hệ hôn nhân: Nguyên đơn và bị đơn quen biết, tìm hiểu nhau một thời gian rồi đi đến hôn nhân. Anh chị được hai bên gia đình tổ chức đám cưới và có đăng ký kết hôn năm 2013 tại Ủy ban nhân dân phường Ngã Bảy, thành phố Ngã Bảy, tỉnh Hậu Giang, do đó hôn nhân của anh chị là hợp pháp. Thời gian đầu cuộc sống gia đình hạnh phúc; sau đó xảy ra nhiều mâu thuẫn do bất đồng quan điểm sống, tính cách không hợp nhau, giữa hai vợ chồng không có tiếng nói chung, bị đơn ghen tuông và dùng lời lẽ xúc phạm nguyên đơn nhiều lần. Mâu thuẫn kéo dài không hàn gắn lại được, tình cảm vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân không đạt được nên nguyên đơn yêu cầu được ly hôn với bị đơn. Do đó, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, cho nguyên đơn được ly hôn bị đơn theo quy định của Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014.
- Về con chung: Có 02 con chung tên Đặng Văn K (giới tính: Nam), sinh ngày 11/9/2016 và Đặng Như Q (giới tính: Nữ), sinh ngày 13/4/2020. Hiện nay con chung đang sống với nguyên đơn. Ngoài ra, cháu K có nguyện vọng sống cùng mẹ. Nhằm tránh gây xáo trộn cuộc sống của các con chung nên Hội đồng xét xử thống nhất giao hai con chung cho nguyên đơn được tiếp tục chăm sóc, giáo dục, nuôi dưỡng. Nguyên đơn không yêu cầu cấp dưỡng nuôi con chung nên bị đơn chưa phải cấp dưỡng nuôi con chung. Dành quyền thăm nom, chăm sóc, giáo dục con chung cho bị đơn không ai được quyền cản trở.
- Về tài sản chung: Tự thoả thuận, không yêu cầu nên không đặt ra xem xét.
- Nợ chung: Không có không yêu cầu nên không đặt ra xem xét.
- Án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm: Nguyên đơn phải nộp theo quy định.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH
Căn cứ vào Khoản 1 Điều 28; Điều 35; khoản 4 Điều 147 và Điều 227 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.
Điều 51; Điều 56; Điều 81 và Điều 83 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014.
Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
- Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, cho chị Nguyễn Thị Kim X được ly hôn anh Đặng Văn V.
- Về con chung: Giao 02 con chung tên Đặng Văn K (giới tính: Nam), sinh ngày 11/9/2016 và Đặng Như Q (giới tính: Nữ), sinh ngày 13/4/2020 cho nguyên đơn được quyền tiếp tục nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục cho đến khi trưởng thành; bị đơn chưa phải cấp dưỡng nuôi con chung. Dành quyền thăm nom, chăm sóc, giáo dục con chung cho bị đơn không ai được quyền cản trở.
- Về tài sản chung: Tự thoả thuận không yêu cầu nên không đặt ra xem xét.
- Về nợ chung: Không có không yêu cầu nên không đặt ra xem xét.
- Về án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm: Nguyên đơn phải nộp là 300.000₫ (Ba trăm nghìn đồng). Chuyển tiền tạm ứng án phí theo biên lai số 0005749 ngày 22/4/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Ngã Bảy thành án phí, nguyên đơn không phải nộp thêm.
- Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2, luật thi hành án dân sự, thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự được quyền thỏa thuận thi hành án, được quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, Điều 7, Điều 7a, Điều 7b và Điều 9 Luật thi hành án dân sự; Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 luật thi hành án dân sự.
- Nguyên đơn được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị đơn vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết công khai tại trụ sở Ủy ban nhân dân nơi cư trú.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa (Đã ký) Huỳnh Kim Cương |
Bản án số 14/2024/HNGĐ-ST ngày 24/07/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ NGÃ BẢY TỈNH HẬU GIANG về tranh chấp ly hôn
- Số bản án: 14/2024/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp ly hôn
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 24/07/2024
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ NGÃ BẢY TỈNH HẬU GIANG
- Áp dụng án lệ:
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn
