Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN YÊN PHONG

TỈNH BẮC NINH

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 14/2024/HNGĐ-ST

Ngày 24/7/2024

V/v: T/c Hôn nhân và gia đình.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN YÊN PHONG

Với Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà: Bà Nguyễn Thị Minh Huệ.

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nghiêm Đình Chế, bà Nguyễn Thị Hà.

Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Trọng Hiếu, Thư ký Tòa án nhân dân huyện Yên Phong.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Yên Phong tham gia phiên tòa: Bà Hồ Thị Lê, Kiểm sát viên.

Ngày 24 tháng 7 năm 2024, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Yên Phong, tỉnh Bắc Ninh xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 30/2024/TLST – HNGĐ ngày 17 tháng 4 năm 2024 về việc tranh chấp hôn nhân và gia đình theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 82/2024/QĐXXST-HNGĐ, ngày 04 tháng 7 năm 2024 giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Chị Đàm Thị Phương Th, sinh năm 1999. (có mặt);

Trú tại: Khu phố Kim Bảng, phường Hương Mạc, thành phố Từ Sơn, tỉnh Bắc Ninh.

Bị đơn: Anh Vũ TA, sinh năm 1999; (vắng mặt)

Trú tại: Thôn Tiền Thôn, xã Văn Môn, huyện Yên Phong, tỉnh Bắc Ninh.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Tại đơn khởi kiện và các lời khai tiếp theo tại Toà án, nguyên đơn là chị Đàm Thị Phương Th trình bày: Chị kết hôn với anh Vũ TA ngày 22/11/2019, trên cơ sở tự nguyện tìm hiểu, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã Văn Môn, huyện Yên Phong, tỉnh Bắc Ninh. Cưới xong vợ chồng chị về chung sống với nhau tại Tiền Thôn, xã Văn Môn, huyện Yên Phong, tỉnh Bắc Ninh.

Vợ chồng chung sống hòa thuận hạnh phúc đến cuối năm 2019 thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân là do anh TA nghiện game, sinh ra ảo giác, không quan tâm, có trách nhiệm với gia đình; ngoài ra anh TA còn có hành vi đánh đập vợ. Do vợ chồng chung sống với nhau không hạnh phúc nên anh chị đã sống ly thân từ tháng 10/2020. Hiện nay, chị Th xác định không thể tiếp tục chung sống với anh TA vì vợ chồng không còn tình cảm với nhau đã lâu, chị đề nghị được ly hôn với anh TA.

Về con chung: Không có.

Về tài sản chung, công nợ: Chị Th xác định không có nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Phía bị đơn là anh Vũ TA trong quá trình giải quyết vụ án đã được Tòa án đã triệu tập hợp lệ nhiều lần nhưng anh TA vẫn không có mặt nên Tòa án không lấy lời khai được của anh TA và cũng không thể tiến hành hòa giải đoàn tụ được.

Quá trình giải quyết vụ án, Tòa án có tiến hành lấy lời khai của ông Vũ Văn Tiến là bố đẻ của anh TA. Ông Tiến cho biết vào năm 2019, gia đình có tổ chức kết hôn cho anh TA và chị Th. Đến nay, vợ chồng chị Th và anh TA không có con chung. Trong quá trình chung sống, vợ chồng chị Th và anh TA thường xuyên xảy ra cãi vã, sau đó đến tháng 8/2020 thì chị Th bỏ về nhà bố mẹ đẻ. Gia đình có khuyên bảo hòa giải nhưng chị Th không đồng ý về đoàn tụ. Đến nay, chị Th và anh TA đã sống ly thân được thời gian dài, chị Th có đơn xin ly hôn thì đề nghị Tòa án giải quyết theo quy định của pháp luật.

Tại phiên tòa nguyên đơn là chị Đàm Thị Phương Th vẫn giữ nguyên yêu cầu xin được ly hôn với anh Vũ TA.

Bị đơn là anh Vũ TA đã được triệu tập hợp lệ nhiều lần nhưng vắng mặt không có lý do. Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt bị đơn theo quy định của pháp luật.

Tại phiên tòa đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Yên Phong phát biểu ý kiến đã đánh giá việc tuân theo pháp luật tố tụng dân sự trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký là đúng pháp luật; việc chấp hành pháp luật của nguyên đơn là đúng pháp luật, bị đơn không chấp hành đúng pháp luật, không có mặt theo giấy triệu tập của Toà án, cố tình trốn tránh.

Về nội dung: Đề nghị Hội đồng xét xử:

  • Áp dụng các điều 28, 35, 39, 147 Bộ luật tố tụng dân sự;
  • Áp dụng các điều 51, 56, 57 Luật hôn nhân gia đình;
  • Áp dụng Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Toà án;
  • Chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị Đàm Thị Phương Th.
  • Về quan hệ hôn nhân: Đề nghị Hội đồng xét xử cho chị Th được ly hôn với anh TA.
  • - Về con chung: Không có.
  • - Về tài sản chung, công nợ: Không đặt ra xem xét giải quyết do chị Th không yêu cầu.
  • Về án phí: Chị Đàm Thị Phương Th phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà. Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về thủ tục tố tụng: Theo đơn khởi kiện nguyên đơn là chị Đàm Thị Phương Th xin ly hôn anh Vũ TA, đây là vụ án tranh chấp hôn nhân và gia đình. Bị đơn là anh Vũ TA có địa chỉ tại thôn Tiền Thôn, xã Văn Môn, huyện Yên Phong, tỉnh Bắc Ninh, do vậy Tòa án nhân dân huyện Yên Phong đã thụ lý, giải quyết là đúng thẩm quyền theo quy định tại khoản 1 Điều 28; Điều 35; Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự.

[2] Về nội dung: Chị Đàm Thị Phương Th kết hôn với anh Vũ TA ngày 22/11/2019, trước khi kết hôn có được tự do tìm hiểu và đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã Văn Môn, huyện Yên Phong, tỉnh Bắc Ninh. Xét thấy đây là hôn nhân hợp pháp vì đã tuân đầy đủ các điều kiện kết hôn theo quy định của pháp luật.

[3] Xét yêu cầu xin ly hôn của chị Đàm Thị Phương Th HĐXX nhận thấy: Mâu thuẫn vợ chồng giữa chị Th và anh TA là có thật và nguyên nhân do bất đồng quan điểm trong quá trình chung sống. Anh TA sống không có trách nhiệm, không quan tâm đến gia đình dẫn đến tình cảm vợ chồng rạn nứt. Từ những mâu thuẫn nhỏ trong cuộc sống hàng ngày nhưng không được các bên giải quyết một cách triệt để dẫn đến mâu thuẫn vợ chồng ngày càng căng thẳng. Do vợ chồng chung sống với nhau không hạnh phúc nên vợ chồng đã sống ly thân từ cuối năm 2020 đến nay. Xét thấy, mâu thuẫn vợ chồng đã trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được, đời sống chung không thể kéo dài nên cần chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị Th, xử cho chị Th được ly hôn với anh TA là đảm bảo cuộc sống riêng cho mỗi bên.

Về con chung: Chị Th và anh TA không có con chung.

Về tài sản chung, công nợ: Chị Th xác định không có nên không yêu cầu Toà án giải quyết.

[4] Về án phí: Chị Đàm Thị Phương Th phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ các điều 235, 264, 266, 267, 147 của Bộ luật tố tụng dân sự;

Căn cứ các điều 51, 56, 57 Luật hôn nhân gia đình;

Căn cứ Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Toà án;

Chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị Đàm Thị Phương Th, xử:

  1. Về quan hệ hôn nhân: Chị Đàm Thị Phương Th được ly hôn anh Vũ TA.
  2. Về con chung: Không có.
  3. Về tài sản chung, công nợ: Không xem xét giải quyết.
  4. Về án phí: Chị Đàm Thị Phương Th phải chịu 300.000đ án phí dân sự sơ thẩm (được trừ số tiền tạm ứng án phí đã nộp tại Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí số: 0002308, ngày 17/4/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Yên Phong). Chị Th đã nộp đủ tiền án phí.

Đương sự có mặt có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Đương sự vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được tống đạt bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết hợp lệ.

Nơi nhận:

  • - Các đương sự;
  • - VKSND huyện Yên Phong;
  • - Chi cục THADS huyện Yên Phong;
  • - Lưu HSVA, VP.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà

Nguyễn Thị Minh Huệ

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 14/2024/HNGĐ-ST ngày 24/07/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN YÊN PHONG TỈNH BẮC NINH về tranh chấp hôn nhân và gia đình

  • Số bản án: 14/2024/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp Hôn nhân và gia đình
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 24/07/2024
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN YÊN PHONG TỈNH BẮC NINH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Chị Đàm Thị Phương Th ly hôn anh Vũ TA
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger