|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN SA THẦY TỈNH KON TUM |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 14/2024/HS-ST
Ngày: 24/7/2024
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN SA THẦY, TỈNH KON TUM
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Đoàn Anh Phương.
Các Hội thẩm nhân dân: Ông A Wũ và ông Trịnh Bá Tân Anh.
Thư ký phiên tòa: Bà Đỗ Thị Hương - Thư ký Tòa án.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Sa Thầy tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Anh Tuấn - Kiểm sát viên.
Ngày 24 tháng 7 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Sa Thầy mở phiên tòa sơ thẩm công khai xét xử vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 08/2024/TLST-HS ngày 28/5/2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 09/2024/QĐXXST - HS ngày 12/7/2024 đối với các bị cáo:
1. A NGUÂN (tên gọi khác: Không), sinh ngày 01/01/1987 tại Kon Tum; Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú và chỗ ở hiện nay: Thôn Đ, xã H, huyện S, tỉnh Kon Tum; Giới tính: Nam; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Rơ Ngao; Tôn giáo: Công giáo; Nghề nghiệp: Làm nông; Trình độ văn hóa: 3/12; Con ông A U (đã chết) và bà Y L (đã chết); bị cáo có vợ tên là Y G, sinh năm 1988 và có 05 con, Con lớn nhất sinh năm 2005, con nhỏ nhất sinh năm 2021. Vợ và con bị cáo đều trú tại: Thôn Đ, xã Y, huyện S, tỉnh Kon Tum; Tiền án, tiền sự: Không.
Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam ngày 04/01/2024 cho đến nay - Có mặt.
2. A GOANG (tên gọi khác: Không), sinh ngày 10/6/2003 tại Kon Tum; Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú và chỗ ở hiện nay: Thôn Đ, xã H, huyện S, tỉnh Kon Tum; Giới tính: Nam; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Rơ Ngao; Tôn giáo: Công giáo; Nghề nghiệp: Làm nông; Trình độ văn hóa: 7/12; Con ông A K - sinh năm 1978 và bà Y C - sinh năm 1985; cả hai cùng trú tại: Thôn Đ, xã H, huyện S, tỉnh Kon Tum; bị cáo chưa có vợ; Tiền án, tiền sự: Không.
Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam ngày 04/01/2024 cho đến nay - Có mặt.
* Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan:
Chị Y G, sinh năm: 1988 (có đơn xin vắng mặt);
Trú tại: Thôn Đ, xã H, huyện S, tỉnh Kon Tum.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 11 giờ 00 phút ngày 04/01/2024, A N đang ở nhà thuộc thôn Đ, xã H, huyện S, tỉnh Kon Tum thì có 02 (Hai) nam thanh niên đi xe mô tô hiệu Hon Da tới nhà và hỏi N: “Có mua hàng không?” (Ma túy đá), N trả lời “Để hỏi đứa bạn xem nếu có tiền thì lấy 5.000.000 đồng”, hai nam thanh niên hẹn Nguân 30 (Ba mươi) phút sau quay lại rồi lên xe rời đi. Nguân ở nhà đến khoảng 11 giờ 15 phút thì A G1 đi bộ tới nhà N chơi, thấy G1, N rủ góp tiền mua 5.000.000 đồng ma túy đá về sử dụng thì G1 đồng ý và nói lấy tiền chung của hai người trước đó đi chơi nhạc thuê, sửa loa và bán đàn ra để mua, sau đó N lấy 5.000.000 đồng trong số tiền 10.000.000 đồng tiền chung của hai người ra để mua ma túy. Số tiền 5.000.000 đồng còn lại N cất vào trong gối trên nệm trong phòng ngủ. Đến khoảng 11 giờ 30 phút cùng ngày, hai thanh niên trên quay lại thì N cầm tiền ra mua ma túy.
Sau khi mua, N cầm ma túy đi vào phòng ngủ rồi cùng G1 ngồi trên nệm dùng bật lửa, kéo, cân tiểu li (Cân điện tử) phân chia nhỏ số ma túy mới mua được vào các bì ni lông nhỏ để thuận tiện cho việc sử dụng. Đến khoảng 12 giờ 30 phút cùng ngày, trong khi cả hai đang chia nhỏ ma túy thì bị Cơ quan Công an bắt quả tang, thu giữ tại vị trí hai người đang phân chia ma tuý 12 (Mười hai) gói ni lông bên trong có chứa ma tuý đá, trong đó có 10 (Mười) gói ni lông được hàn kín, 02 (Hai) gói ni lông hàn kín ba cạnh để hở một cạnh. Tiến hành khám xét khẩn cấp chỗ ở của N, phát hiện trong ba lô màu xanh trắng treo trên cửa sổ trong phòng ngủ có chứa 01 (Một) gói ni lông được hàn kín bên trong có chứa ma túy đá (do G1 đã bỏ vào khi nghe có tiếng ồn ào bên ngoài). Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện S đã tiến hành niêm phong các đồ vật trên theo quy định pháp luật.
Tại bản kết luận giám định số 09/KL-KTHS, ngày 08/01/2024 của Phòng K1 Công an tỉnh K kết luận:
+ Mẫu chất tinh thể màu trắng (ký hiệu từ M1.1 đến M1.12) được niêm phong trong túi niêm phong mã số NS3. 2115187 gửi giám định là ma túy, loại Methamphetamine, có tổng khối lượng là: 9,062 gam.
+ Mẫu chất tinh thể màu trắng (ký hiệu M2) được niêm phong trong túi niêm phong mã số NS3.2115108 gửi giám định là ma túy, loại Methamphetamine, có khối lượng là: 0,074 gam.
- Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Quá trình điều tra, truy tố hai bị can thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của bản thân.
- Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Không.
- Cơ quan Cảnh sát điều tra đã tạm giữ các đồ vật, tài liệu:
+ 12 (Mười hai) gói ni lông bên trong có chứa chất tinh thể màu trắng, trong đó có 02 (Hai) gói ni lông được hàn kín ba cạnh, một cạnh hở và 10 (Mười) gói ni lông được hàn kín. Được niêm phong trong túi niêm phong mã số NS3.2115187.
+ 01 (Một) gói ni lông dạng hình chữ nhật được hàn kín bốn cạnh bên trong có chứa chất tinh thể màu trắng. Được niêm phong trong túi niêm phong mã số NS3.2115108.
+ 01 (Một) cân điện tử (Cân tiểu li) màu xám; 02 (Hai) bật lửa trong đó có một cái màu vàng và một cái màu đỏ; 03 (Ba) cái kéo bằng kim loại màu trắng; 12 (Mười hai) bì ni lông trong suốt được hàn kín ba cạnh, một cạnh hở được niêm phong trong niêm phong mã số NS2.2107598;
+ Số tiền 5.000.000 đồng, trong đó có 35 (Ba mươi lăm) tờ tiền loại Polime mệnh giá 100.000 đồng, 05 (Năm) tờ tiền loại Polime mệnh giá 200.000 đồng, 01 (Một) tờ tiền loại Polime mệnh giá 500.000 đồng.
- Quá trình điều tra, Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện S nhập kho vật chứng:
+ 13 (Mười ba) gói ni lông; 02 (Hai) túi niêm phong mã số NS3.2115187 và NS3.2115108 đựng mẫu vật gửi giám định; mẫu vật giám sau khi đã sử dụng một phần mẫu vật để giám định. Tất cả được niêm phong trong 01 (Một) phong bì: Mặt trước có nội dung “CÔNG AN TỈNH KON TUM – PHÒNG KỸ THUẬT HÌNH SỰ SỐ: 09/KL-KTHS”, tại các mép dán có các chữ ký ghi họ tên của những người tham gia niêm phong và các hình dấu tròn có nội dung “*PHÒNG KỸ THUẬT HÌNH SỰ* CÔNG AN TỈNH KON TUM”;
+ 01 (Một) cân điện tử (Cân tiểu li), màu xám; 02 (Hai) bật lửa trong đó có một cái màu vàng và một cái màu đỏ; 03 (Ba) cái kéo bằng kim loại màu trắng; 12 (Mười hai) bì ni lông trong suốt được hàn kín ba cạnh, một cạnh hở. Tất cả được niêm phong trong túi niêm phong mã số NS2.2107598.
- Đối với số tiền 5.000.000 đồng đã thu giữ là tiền chung của hai bị can, không liên quan đến vụ án, A G1 yêu cầu đưa phần tiền của mình cho A N. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện S đã trả lại số tiền trên cho A N.
Tại phiên tòa, lời khai của các bị cáo phù hợp với nội dung vụ án đã nêu trên
Cáo trạng số: 09/CT - VKSST ngày 27/5/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Sa Thầy truy tố bị cáo A N, A G1 về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm g khoản 2 Điều 249 Bộ luật Hình sự .
Tại phiên toà, đại diện VKS giữ nguyên quan điểm truy tố và đề nghị HĐXX tuyên các bị cáo phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”;
* Về mức hình phạt đề nghị Hội đồng xét xử: Căn cứ điểm g khoản 2 Điều 249; Điều 17; Điều 38 và Điều 50; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.
- Xử phạt bị cáo A N từ 06 (sáu) năm 06 (sáu) tháng đến 07 (bảy) năm 06 (sáu) tháng tù.
- Xử phạt bị cáo A G1 từ 06 (sáu) năm đến 07 (bảy) năm tù.
* Về hình phạt bổ sung: Các bị cáo làm nghề nông, công việc và thu nhập không ổn định, đề nghị không áp dụng hình phạt bổ sung.
* Về xử lý vật chứng: Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự, điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự. Tịch thu tiêu hủy: Toàn bộ tang vật của vụ án.
Lời nói sau cùng: Các bị cáo biết việc làm của bị cáo là vi phạm pháp luật xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, Quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện S, Viện kiểm sát nhân dân huyện Sa Thầy, Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 sửa đổi bổ sung năm 2017. Các bị cáo không có ý kiến gì và cũng không khiếu nại gì về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Hành vi của các bị cáo thể hiện: Trên cơ sở tranh tụng tại phiên tòa đã xác định được: Sau khi mua được ma túy, N cầm ma túy đi vào phòng ngủ rồi cùng G1 ngồi trên nệm dùng bật lửa, kéo, cân tiểu li phân chia nhỏ số ma túy mới mua được vào các bì ni lông nhỏ để thuận tiện cho việc sử dụng. Đến khoảng 12 giờ 30 phút cùng ngày, trong khi cả hai đang chia nhỏ ma túy thì bị Cơ quan Công an bắt quả tang, thu giữ tại vị trí hai người đang phân chia ma tuý 12 (Mười hai) gói ni lông bên trong có chứa ma tuý đá, trong đó có 10 (Mười) gói ni lông được hàn kín, 02 (Hai) gói ni lông hàn kín ba cạnh để hở một cạnh. Tiến hành khám xét khẩn cấp chỗ ở của N, phát hiện trong ba lô màu xanh trắng treo trên cửa sổ trong phòng ngủ có chứa 01 (Một) gói ni lông được hàn kín bên trong có chứa ma túy đá. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện S đã tiến hành niêm phong các đồ vật trên theo quy định pháp luật. Số ma túy này là do các bị cáo mua về để sử dụng.
Tại bản kết luận giám định số 09/KL-KTHS, ngày 08/01/2024 của Phòng K1 Công an tỉnh K kết luận:
+ Mẫu chất tinh thể màu trắng (ký hiệu từ M1.1 đến M1.12) được niêm phong trong túi niêm phong mã số NS3. 2115187 gửi giám định là ma túy, loại Methamphetamine, có tổng khối lượng là: 9,062 gam.
+ Mẫu chất tinh thể màu trắng (ký hiệu M2) được niêm phong trong túi niêm phong mã số NS3.2115108 gửi giám định là ma túy, loại Methamphetamine, có khối lượng là: 0,074 gam.
Như vậy, hành vi của các bị cáo đã phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”, quy định tại điểm g khoản 2 Điều 249 Bộ luật Hình sự. Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Sa Thầy truy tố các bị cáo A N và A G1 là có căn cứ, đúng người, đúng tội.
[3] Xét tính chất, mức độ hành vi phạm tội của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội. Xâm phạm trực tiếp đến chính sách độc quyền của Nhà nước về quản lý chất ma túy, xâm phạm tới trật tự, nếp sống văn minh của xã hội, gây ảnh hưởng xấu đến đời sống hàng ngày của nhân dân trên địa bàn huyện. Khi phạm tội, các bị cáo là người có đầy đủ nhận thức, biết được ma túy là chất gây nghiện mà Nhà nước cấm, việc mua bán, tàng trữ, sử dụng trái phép chất ma túy không chỉ ảnh hưởng xấu đến sức khỏe, trí lực của con người, mà còn làm phát sinh ra các tệ nạn xã hội và các tội phạm khác. Hành vi của các bị cáo cần phải xử lý thật nghiêm minh buộc cách ly các bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian mới đủ điều kiện để giáo dục, cải tạo bị cáo và phòng ngừa chung.
[4] Về vai trò: Các bị cáo phạm tội trong trường hợp đồng phạm giản đơn, không có tổ chức, phân công, bàn bạc nhau từ trước. Tuy nhiên trong vụ án này thì vai trò, mức độ tham gia của từng bị cáo là khác nhau, nên cần phân hóa vai trò của từng bị cáo để có cơ sở cho việc quyết định hình phạt phù hợp và đúng quy định của pháp luật. Trong đó A N là người khởi xướng, rủ rê A G1 thực hiện tội phạm nên xác định bị cáo có vai trò cao nhất, còn A G1 tham gia với vai trò giúp sức và thực hành thể hiện khi được N rủ góp tiền mua 5.000.000 đồng ma túy đá về sử dụng thì G1 đồng ý và nói lấy tiền chung của hai người trước đó đi chơi nhạc thuê, sửa loa và bán đàn ra để mua nên xác định bị cáo có vai trò thứ hai trong vụ án.
[5] Về nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
[5.1] - Về nhân thân: Các bị cáo có nhân thân tốt.
[5.2] - Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Các bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
[5.3] - Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Quá trình điều tra các bị cáo đã thành khẩn khai nhận tội là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017,
[6] Đối với hai người thanh niên bán ma túy: Nguân không liên lạc với hai thanh niên này, sau một khoảng thời gian hai thanh niên trên trực tiếp đến nhà N để hỏi bán ma túy; N, G1 không biết rõ nhân thân, lai lịch của hai người thanh niên trên, ngoài lời khai của N thì chưa có căn cứ nào khác nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện S đang tiếp tục điều tra và xử lý sau khi xác định được đối tượng và xử lý theo quy định của pháp luật. Nên HĐXX không xem xét.
[7] Đối với bà Y G: là vợ của bị can N, tuy ở cùng nhà với bị can nhưng không biết việc A N và A G1 tàng trữ trái phép chất ma túy. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện S không xử lý trách nhiệm hình sự đối với bà Y G là có căn cứ. Nên HĐXX không xem xét.
[8] Đối với số tiền 5.000.000 đồng đã thu giữ là tiền chung của hai bị can, không liên quan đến vụ án, A G1 yêu cầu đưa phần tiền của mình cho A N. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện S đã trả lại số tiền trên cho A N. Nên HĐXX không xem xét.
[9] Về hình phạt bổ sung: Hội đồng xét xử thấy các bị cáo nghề nghiệp làm nông, không có công việc và thu nhập ổn định, không có khả năng thi hành hình phạt tiền, gia đình bị cáo N có 05 con nhỏ, bị cáo G1 sống phụ thuộc gia đình nên không áp dụng hình phạt bổ sung là hình phạt tiền quy định tại khoản 5 Điều 249 Bộ luật Hình sự đối với các bị cáo.
[10] Về xử lý vật chứng của vụ án:
- Đối với 13 (Mười ba) gói ni lông; 02 (Hai) túi niêm phong mã số NS3.2115187 và NS3.2115108 đựng mẫu vật gửi giám định; mẫu vật giám sau khi đã sử dụng một phần mẫu vật để giám định. Tất cả được niêm phong trong 01 (Một) phong bì: Mặt trước có nội dung “CÔNG AN TỈNH KON TUM – PHÒNG KỸ THUẬT HÌNH SỰ SỐ: 09/KL-KTHS”, tại các mép dán có các chữ ký ghi họ tên của những người tham gia niêm phong và các hình dấu tròn có nội dung “*PHÒNG K1* CÔNG AN TỈNH KON TUM”; đây là chất ma túy loại Methamphetamine là vật Nhà nước cấm lưu hành nên tịch thu tiêu hủy.
- Đối với 01 (Một) cân điện tử (Cân tiểu li), màu xám; 02 (Hai) bật lửa trong đó có một cái màu vàng và một cái màu đỏ; 03 (Ba) cái kéo bằng kim loại màu trắng; 12 (Mười hai) bì ni lông trong suốt được hàn kín ba cạnh, một cạnh hở. Tất cả được niêm phong trong túi niêm phong mã số NS2.2107598 là vật chứng có giá trị sử dụng không đáng kể nên tịch thu tiêu hủy.
[10] Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Sa Thầy trình bày lời luận tội và đề nghị áp dụng điều luật, về mức hình phạt là phù hợp với quy định của pháp luật, nên Hội đồng xét xử chấp nhận.
[11] Về án phí: Các bị cáo thuộc diện hộ nghèo, sống ở vùng đặc biệt khó khăn và có đơn xin miễn án phí, nên miễn án phí hình sự sơ thẩm cho các bị cáo.
[12] Về quyền kháng cáo: Các bị cáo được quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Về Tội danh:
Tuyên bố bị cáo A N và bị cáo A G1 phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy".
2. Về hình phạt:
Căn cứ điểm g khoản 2 Điều 249; Điều 17, Điều 38 và Điều 50; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.
- Xử phạt bị cáo A N 06 (sáu) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 04/01/2024.
- Xử phạt bị cáo A G1 06 (sáu) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 04/01/2024.
3. Về xử lý vật chứng của vụ án:
Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự, điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự: Tuyên tịch thu tiêu hủy;
- 13 (Mười ba) gói ni lông; 02 (Hai) túi niêm phong mã số NS3.2115187 và NS3.2115108 đựng mẫu vật gửi giám định; mẫu vật giám sau khi đã sử dụng một phần mẫu vật để giám định. Mẫu vật giám định hoàn trả có khối lượng 9,059 gam, là ma túy, loại Methamphetamine. Tất cả được niêm phong trong 01 (Một) phong bì: Mặt trước có nội dung “CÔNG AN TỈNH KON TUM - PHÒNG KỸ THUẬT HÌNH SỰ SỐ: 09/KL-KTHS”, tại các mép dán có các chữ ký ghi họ tên của những người tham gia niêm phong và các hình dấu tròn có nội dung “*PHÒNG KỸ THUẬT HÌNH SỰ* CÔNG AN TỈNH KON TUM”;
- 01 (Một) cân điện tử (Cân tiểu li), màu xám; 02 (Hai) bật lửa trong đó có một cái màu vàng và một cái màu đỏ; 03 (Ba) cái kéo bằng kim loại màu trắng; 12 (Mười hai) bì ni lông trong suốt được hàn kín ba cạnh, một cạnh hở. Tất cả được niêm phong trong túi niêm phong mã số NS2.2107598.
(Theo Biên bản giao, nhận đồ vật, tài liệu, vật chứng ngày 03/6/2024 giữa Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện S và Chi cục Thi hành án dân sự huyện Sa Thầy).
4. Về án phí:
Căn cứ điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;
- Miễn án phí hình sự sơ thẩm cho các bị cáo.
5. Về quyền kháng cáo: Căn cứ Điều 331; 332; 333 Bộ luật Tố tụng hình sự.
Các bị cáo có mặt tại phiên tòa, có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án (24/7/2024).
Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ.
|
Nơi nhận: - Bị cáo; - VKSND huyện Sa Thầy; - VKS ND tỉnh Kon Tum; - TAND tỉnh Kon Tum; - TAND cấp cao tại Đà Nẵng; - Sở tư pháp tỉnh Kon Tum; - CA huyện Sa Thầy; - Chi cục THADS huyện Sa Thầy; - Cơ quan THAHS –CA huyện Sa Thầy; - Lưu hồ sơ vụ án. |
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Đoàn Anh Phương |
Bản án số 14/2024/HS-ST ngày 24/07/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN SA THẦY, TỈNH KON TUM về tàng trữ trái phép chất ma túy (vụ án hình sự)
- Số bản án: 14/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Tàng trữ trái phép chất ma túy (Vụ án hình sự)
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 24/07/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN SA THẦY, TỈNH KON TUM
- Áp dụng án lệ:
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Đã có hiệu lực
