Hệ thống pháp luật
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHÚ BÌNH
TỈNH THÁI NGUYÊN
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
Bản án số: 14/DS-ST
Ngày: 24/5/2024

NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHÚ BÌNH TỈNH THÁI NGUYÊN

với thành phần hội đồng xét xử gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Đoàn Thị Minh Huệ

Các hội thẩm nhân dân: 1. Ông Nguyễn Văn Hải

2. Ông Nguyễn Văn Hợi

Thư ký Toà án ghi biên bản phiên toà: Ông Nguyễn Văn Giáp - cán bộ Tòa án nhân dân huyện Phú Bình, tỉnh Thái Nguyên.

Đại diện VKSND huyện Phú Bình, tỉnh Thái Nguyên: Ông Lưu Nguyên V - Kiểm sát viên.

Trong các ngày từ 20 đến 24 tháng 5 năm 2024, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Phú Bình xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 42/2020/TLST- DS ngày 14 tháng 8 năm 2020 về việc “Tranh chấp chia di sản thừa kế” theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 20/2024 ngày 25/4/2024 giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Anh Đỗ Văn C, sinh năm 1977 (có mặt)

Địa chỉ: Xóm Cầu Muối, xã Tân Thành, huyện Phú Bình, Thái Nguyên

Đại diện theo ủy quyền ông: Nguyễn Văn T, sinh năm 1985 (có mặt )

Địa chỉ: Tổ D, phường Q, thành phố T, Thái Nguyên

(Theo văn bản ủy quyền số 6127, quyển 03TP Văn phòng công chứng phía Nam thành phố)

Bị đơn: Bà Dương Thị T1, sinh năm 1965 (Có mặt)

Địa chỉ: Xóm C, xã T, huyện P, Thái Nguyên;

Đại diện theo ủy quyền anh Đỗ Văn P, sinh năm 1973 (có mặt)

Địa chỉ: Xóm Đ, xã T, huyện P, Thái Nguyên

(Theo văn bản ủy quyền được chứng thực số số chứng thực 86, quyển số 01/2020 tại UBND xã T ngày 29/9/2020)

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

  1. Anh Đỗ Văn P, sinh năm 1973 (có mặt)
  2. Địa chỉ: Xóm Đồng Bốn, xã Tân Thành, huyện Phú Bình, Thái Nguyên

  3. Anh Đỗ Văn H, sinh năm 1999 (có mặt)
  4. Địa chỉ: Xóm C, xã T, huyện P, Thái Nguyên.

Đại diện theo ủy quyền: anh Đỗ Văn P, sinh năm 1973 (có mặt)

(Theo văn bản ủy quyền công chứng số 3604 ngày 11/11/2020 tại văn phòng công chứng Quang Minh tỉnh B)

  1. Chị Đỗ Thị H1, sinh năm 1971(có mặt)
  2. Địa chỉ: Xóm Đ, xã T, huyện P, tỉnh Thái Nguyên

  3. Chị Đỗ Thị H2, sinh năm 1980 (có mặt)
  4. Địa chỉ: Xóm N, xã T, huyện P, tỉnh Thái Nguyêm

  5. Chị Đỗ Thị H3, sinh năm 1983 (có mặt)
  6. Địa chỉ: Xóm Đ, xã H, huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên

  7. Chị Nguyễn Thị T2, sinh năm 1981 (có đơn xin xét xử vắng mặt)
  8. Đỗ Thị H4, sinh năm 1965 (có đơn xin xét xử vắng mặt)
  9. Chị Dương Thị T3 (có đơn xin xét xử vắng mặt)
  10. Anh Dương Minh T4 (có đơn xin xét xử vắng mặt)
  11. Cùng địa chỉ: xóm C, xã T, huyện P, Thái Nguyên.

NHẬN THẤY:

Tại phiên tòa người được nguyên đơn ủy quyền anh Nguyễn Văn T trình bày: Bố anh C là ông Đỗ Xuân B (1950-2017) và mẹ là bà Dương Thị Đ (1952-1993), ông B và bà Đ có 05 người con chung là: Đỗ Thị H1, Đỗ Văn P, Đỗ Văn C, Đỗ Thị H2, Đỗ Thị H3, không có con nuôi. Năm 1993 bà Đ chết, mọi người trong gia đình động viên ông B lấy vợ. Năm 1998, ông B chung sống với bà Dương Thị T1 (không đăng ký kết hôn) và có một người con chung là Đỗ Văn H. Khi chết, ông B và bà Đ đều không để lại di chúc.

Trong quá trình chung sống, ông B và bà Đ có tạo dựng được khối tài sản gồm 18 thửa đất là các loại đất ở, đất vườn, đất màu và đất lúa đã được cấp trong giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số W173969 do UBND huyện P cấp ngày 15/10/2002 cho hộ ông bà Đỗ Xuân B cụ thể: Thửa 344, 337, 334, 330, 602, 601, 335, 340, 421, 420, 419, 418, 350, 351, 27, 947, 948 TBĐ số 09 và thửa số 689, TBĐ số 08 thuộc xã T, huyện P, tỉnh Thái Nguyên; tài sản trên đất gồm: 01 nhà ngang do ông B và bà Đ xây năm 1995; Ngoài ra, còn có đất rừng: Thửa 146, 148 TBĐ số 5 và thửa 231 TBĐ số 9 nguồn gốc do công ty L giao khoán. Sau khi bà Đ chết, ông B chung sống với bà T1 có sửa sang lại ngôi nhà mà ông B và bà Đ đã xây. Năm 2005 ông B và bà T1 xây thêm 01 ngôi nhà cấp 4, năm 2015 ông B và bà T1 xây thêm 01 nhà bếp, 02 chuồng lợn, 01 chuồng trâu, 01 nhà tắm, 01 nhà vệ sinh. Anh C xác định khi chết ông B và bà Đ không để lại nghĩa vụ tài sản nào phải thực hiện (như các khoản vay mượn ....). Toàn bộ di sản của ông B và bà Đ để lại chưa chia, nay anh C yêu cầu Tòa án chia di sản thừa kế của bố mẹ anh theo pháp luật.

Đối với thửa 424 tờ bản đồ số 9 diện tích 114m² hiện anh C đang quản lý và sử dụng, thửa 339 tờ bản đồ số 9 diện tích 75m² hiện bà T1 đang quản lý và sử dụng có nguồn gốc do ông Đỗ Xuân B khai phá, chưa được cấp giấy chứng nhận QSD đất. Thửa 431 tờ bản đồ 12 (bản đồ đo vẽ năm 2019) diện tích 575,3m² là đất lưu không, trên đất có 03 ngôi mộ (trong đó có một ngôi mộ chôn cất ông B và 01 ngôi mộ chôn cất bà Đ, 01 ngôi mộ chôn cất con của ông B và bà Đ). Anh C không đề nghị giải quyết những thửa này.

Đối với thửa 349 tờ bản đồ số 9 anh C xác định là của bố mẹ vợ anh cho vợ chồng anh, nhưng khi ông B đi làm Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đã nhặt nhầm và cấp nhầm vào giấy chứng nhận QSD đất của hộ ông B. Nếu mọi người không công nhận thì anh cũng nhất trí chia.

Đối với thửa 338 tờ bản đồ số 9 anh C xác định khi còn sống ông B đã cho chị H2, năm 2003 chị H2 đã bán cho bà T1, bà T1 quản lý và sử dụng từ đó đến nay. Vì vậy anh xác định đây không phải là di sản của ông B để lại nên không yêu cầu tính vào khối di sản của ông B, bà Đ để chia.

Đối với đất Lâm nghiệp có các thửa 148, 146 tờ bản đồ số 5 và thửa 231 tờ bản đồ số 9 trước đây của công ty L, nay UBND tỉnh T đã thu hồi và giao lại cho UBND huyện P quản lý (theo Quyết định thu hồi đất số 2654/QĐ - UBND ngày 26/8/2020 của Ủy ban nhân dân tỉnh T), vì vậy anh C không đề nghị Tòa án giải quyết việc phân chia người được quyền quản lý, sử dụng những thửa đất trên mà chỉ yêu cầu giải quyết tài sản trên đất đối với thửa 148 tờ bản đồ số 5 và một phần thửa 231 diện tích 4535,4m2 (bà T1 quản lý).

Đối với thửa 914 TBĐ số 8 là tài sản riêng của anh C, nguồn tiền do anh C nhờ ông B mua hộ, quá trình sử dụng anh C đã đổi trác và mua bán thêm nên được như hiện trạng bây giờ, trên đất đã có nhà cấp 4 anh C xây năm 2018, anh C không đề nghị giải quyết.

Anh C đề nghị chia thừa kế theo pháp luật, phần của anh được hưởng đến đâu thì anh lấy đến đấy, anh yêu cầu được chia quyền sử dụng đất không lấy giá trị bằng tiền, anh nhất trí nhận phần di sản của chị H1, chị H2, chị H3 được chia nhưng cho lại anh.

Nguyên đơn: Anh C nhất trí với lời khai của người được ủy quyền không bổ sung gì thêm.

Đại diện theo ủy quyền của bị đơn anh Đỗ Văn P trình bày: Bố mẹ đẻ anh là ông Đỗ Xuân B và bà Dương Thị Đ, có 05 người con chung như anh C trình bày và không có con nuôi. Sau khi mẹ anh chết, bố anh lấy bà Dương Thị T1 và có một con chung là Đỗ Văn H. Việc bà T1 có đăng ký kết hôn không thì anh không biết nhưng có tổ chức cưới hỏi theo phong tục cổ truyền. Anh nhất trí với số di sản của bố mẹ anh để lại mà anh C trình bày là: Thửa 344, 337, 334, 330, 602, 601, 335, 340, 421, 420, 419, 418, 350, 351, 27, 947, 948 TBĐ số 09 và thửa số 689, TBĐ số 08 thuộc xã T, huyện P, tỉnh Thái Nguyên và tài sản trên

đất gồm 1 nhà cấp 4; Đất rừng gồm: Thửa 146, 148 TBĐ số 5 và thửa 231 TBĐ số 9. Sau khi về chung sống với ông B, bà T1 và ông B tạo dựng được khối tài sản chung gồm: Năm 2002 ông B và bà T1 có mua 01 mảnh đất thửa 914, TBĐ số 08, diện tích 600 m2, mục đích sử dụng là đất mầu của ông N, bà N1, sau đó cho anh C ra đó ở riêng; năm 2005 ông B và bà T1 xây dựng 01 nhà cấp 4; năm 2015 ông B và bà T1 xây thêm 01nhà bếp, chuồng lợn, chuồng trâu, nhà bếp và nhà tắm trên thửa đất 947, 948 tờ bản đồ số 9 (thuộc di sản tranh chấp hiện nay).

Đối với đất rừng hiện anh C đang quản lý thửa 148 và thửa 146 (anh bán cho C), bà T1 đang quản lý một phần thửa 231 diện tích 4535,4m2 và anh đang quản lý một một phần thửa 231 diện tích 4039,9m2. Khi ông B còn sống có nói các con đều đã được chia phần, số đất còn lại (tức phần của bà T1 đang quản lý) là của H vì H phải chịu nhiều thiệt thòi và chưa được chia. Khi chết, ông B và bà Đ không để lại nghĩa vụ tài sản nào phải thực hiện.

Tại phiên tòa hôm nay, là người đại diện theo ủy quyền của bà T1, anh vẫn giữ nguyên quan điểm như tại các phiên hòa giải đó là: Đất hiện ai đang quản lý như thế nào thì giữ nguyên hiện trạng như thế, anh nhất trí đứng ra lo cho bà T1 và anh H số tiền 200.000.000 đồng để trích chia cho anh C, chị H1, chị H2, chị H3. Việc anh C nói khi bố còn sống có nói giao cho anh C một phần diện tích đất để lo hương hỏa sau này là không có căn cứ.

Ngoài ra, bà T1 về chung sống với ông B từ năm 1998 đến nay là 26 năm, tuy không đăng ký kết hôn nhưng có tổ chức cưới hỏi theo phong tục tập quán, quá trình bà T1 về sống chung với ông B đã cùng ông B dựng vợ gả chồng cho anh C và chị H3, lo lắng vun vén cho gia đình, chăm lo vườn tược nhà cửa, lo thờ cúng và đóng góp tết giỗ. Khi bà T1 về chung sống, các con riêng của ông B đã đi lấy vợ, lấy chồng, chỉ có ông B và bà T1 chung sống với nhau, vì vậy bà T1 có công rất lớn trong việc tôn tạo nhà cửa ruộng vườn, đề nghị Tòa án tính công sức duy trì tôn tạo cho bà T1, bà T1 xin được chia bằng quyền sử dụng đất vì hiện tại ngoài nơi ở này ra bà không còn chỗ ở nào khác.

Tòa án đã thông báo cho bà T1 về việc làm đơn yêu cầu chia tài sản chung hợp nhất của bà và ông B trong khối di sản thừa kế đối với thửa 914 tờ bản đồ số 8, tuy nhiên bà T1 xác định bà là người bị kiện không phải là người đi kiện nên bà không làm đơn yêu cầu, bà chỉ cung cấp các tài liệu liên quan đến thửa đất.

Bị đơn: Bà T1 nhất trí với ý kiến của người được ủy quyền. Ngoài ra bà trình bày thêm, đối với thửa 338 tờ bản đồ số 9 bà mua của chị H2, hiện bà vẫn đang sử dụng, bà nhất trí với ý kiến của các đương sự là xác định thửa 338, tờ bản đồ số 9 không phải là di sản thừa kế để chia. Bà đề nghị giải quyết công sức duy trì tôn tạo của bà đối với khối di sản thừa kế, bà có nguyện vọng được lấy đất, bà nhất trí nhập phần đất của bà được hưởng vào kỷ phần của anh H.

Những người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan trình bày :

Chị Đỗ Thị H1,chị Đỗ Thị H3: Nhất trí với ý kiến anh C và người đại diện theo ủy quyền của anh C.

Chị Đỗ Thị H2: Nhất trí với ý kiến anh C và người đại diện theo ủy quyền của anh C. Đối với thửa 338 tờ bản đồ số 9 khi ông B còn sống đã cho chị, chị chưa làm thủ tục tặng cho quyền sử dụng đất. Năm 2003 chị bán thửa đất này cho bà T1, bà T1 quản lý sử dụng và canh tác từ đó đến nay. Chị xác định đây không phải là di sản của ông B để lại để chia.

Anh Đỗ Văn P: Anh đề nghị Tòa án giải quyết toàn bộ di sản là đất và tài sản trên đất đã được cấp trong giấy chứng nhận QSD đất của ông B. Đối với các thửa đất rừng có nguồn gốc của công ty L giao sản, hiện nay đã được trả về cho UBND huyện P quản lý, vì vậy anh không đề nghị giải quyết, tuy nhiên anh đề nghị giải quyết tài sản trên đất lâm nghiệp thửa đất 148, tờ bản đồ số 5 và một phần của thửa 231 diện tích 4535,6 m2. Thửa 148 tờ bản đồ số 5, diện tích 6770m2 trên đất ông B và bà T1 trồng keo năm 2015, một phần thửa 231 tờ bản đồ số 9, diện tích 4548,6 m2 mà bà T1 đang quản lý và sử dụng, trên đất ông B và Bà T1 trồng keo năm 2014. Anh xác định tài sản là hoa màu trên đất ai canh tác thì người đó được hưởng.

Anh nhất trí với anh C không yêu cầu giải quyết đối với các thửa sau: Thửa 424 tờ bản đồ số 9 diện tích 114m² hiện anh C đang quản lý, thửa 339 tờ bản đồ số 9 diện tích 75m² hiện bà T1 đang quản lý, có nguồn gốc của ông B khai thác chưa được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Thửa 431 tờ bản đồ 12 (bản đồ đo vẽ năm 2019) diện tích 575,3m² là đất lưu không, trên đất có 03 ngôi mộ. Thửa 338, tờ bản đồ số 9 chị H2 đã bán cho bà T1. Thửa 349 tờ bản đồ số 9 bố mẹ vợ anh C cho vợ chồng anh C.

Nếu không thỏa thuận được anh đề nghị Tòa án chia thừa kế theo pháp luật, kỷ phần của anh được chia anh cho anh H.

Anh phương cũng xác định khi chết, ông B và bà Đ không để lại nghĩa vụ nào về tài sản phải thực hiện.

Anh Đỗ Văn H: Anh là con của ông B và bà T1, anh nhất trí với anh C và anh P khai về phần con của ông B và bà Đ. Quá trình sống chung với bà T1 anh không đóng góp gì trong khối di sản của ông B với bà Đ và ông B với bà T1. Anh vừa lấy vợ từ tháng 3/2024 và ở tại ngôi nhà của ông B và bà T1 xây dựng, vợ anh chưa đóng góp được tài sản gì. Anh nhất trí với ý kiến của anh P, bà T1. Đề nghị giải quyết chia thừa kế theo pháp luật. Phần của anh được hưởng đến đâu thì anh lấy đến đấy. Phần của anh P, bà T1 cho anh thì anh nhất trí nhận.

Anh H cũng xác định khi chết, ông B không để lại nghĩa vụ nào về tài sản phải thực hiện.

Tại phiên tòa các đương sự đã thống nhất được những nội dung sau:

  • - Thửa 349 tờ bản đồ số 9 diện tích 350m² có nguồn gốc của ông T5 là bố vợ của anh C cho anh C và chị T2 đã làm nhầm vào Giấy chứng nhận QSD đất

của ông B. Nay các đương sự đã xác định tài sản này là của anh C chị T2 không phải là di sản thừa kế của ông B nên không yêu cầu Tòa án giải quyết chia.

  • - Thửa 424 tờ bản đồ số 9 diện tích 114m² anh C đang quản lý, thửa 339 tờ bản đồ số 9 diện tích 75m² bà T1 đang quản lý, có nguồn gốc do ông Đỗ Xuân B khai phá. Thửa 431 tờ bản đồ 12 (bản đồ đo vẽ năm 2019) diện tích 575,3m² là đất lưu không, trên đất có 03 ngôi mộ (trong đó có một ngôi mộ của ông B và 01 ngôi mộ của bà Đ và một ngôi mộ của con trai ông B và bà Đ). Hiện các thửa đất này chưa được cấp giấy chứng nhận QSD đất. Các đồng thừa kế đều thống nhất không yêu cầu giải quyết.
  • - Thửa 338 tờ bản đồ số 9 diện tích 450m² đất 1 lúa chị H2, bà T1 và các đương sự đều xác định: Khi còn sống ông B đã cho chị H2 bằng miệng, chị chưa làm thủ tục tặng cho quyền sử dụng đất, năm 2003 chị đã bán thửa đất này cho bà T1, bà T1 đã và đang canh tác, quản lý và sử dụng từ đó đến nay. Các đương sự đều xác định thửa đất này không phải là di sản ông B để lại để chia.
  • - Các đương sự không yêu cầu Tòa án giải quyết xác định người được quyền quản lý, sử dụng các thửa đất Lâm nghiệp: thửa 148, 146 tờ bản đồ số 5 và thửa 231 tờ bản đồ số 9 mà chỉ yêu cầu giải quyết tài sản trên đất đối với thửa 148 tờ bản đồ số 5 và một phần thửa 231 tờ bản đồ số 9 do bà T1 và ông B trồng keo.
  • - Do đất được chia làm nhiều phần, cần phải có đường đi, các đương sự nhất trí để lại một phần diện tích đất vườn để làm đường giao thông. Sau khi trừ đi phần diện tích làm đường giao thông, diện tích còn lại chia theo pháp luật.
  • - Anh P, chị H1, chị H2, anh C, chị H3 đều xác định không còn nhớ ai được HTX chia đất ruộng và một định suất là bao nhiêu m2, vì vậy các anh chị đều thống nhất gộp hết những ruộng được chia vào với ruộng của ông B và bà Đ để chia thừa kế cho các đồng thừa kế theo pháp luật.
  • - Di sản là Tài sản trên đất có hai ngôi nhà cấp 4, tại biên bản định giá xác định đã hết khấu hao, các đương sự đều nhất trí chia đất không tính giá trị ngôi nhà vào khối di sản để chia, đối với tài sản trên đất là cây sấu, trám, xưa tại thửa 947, 948 tờ bản đồ số 9 khi chia vào đất của ai thì người đó được hưởng mà không phải trích chia chênh lệch.
  • - Về nghĩa vụ do người chết để lại: Các đương sự đều xác định khi chết ông B và bà Đ không để lại nghĩa vụ nào về tài sản phải thực hiện.
  • - Khối di sản các đồng thừa kế thống nhất được để chia là 18 thửa đất gồm: Thửa 344, 337, 334, 330, 602, 601, 335, 340, 421, 420, 419, 418, 350, 351, 27, 947, 948 TBĐ số 09 và thửa số 689, TBĐ số 08 thuộc xã T đã được UBND huyện P cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số W173969 ngày 15/10/2002 cho hộ ông bà Đỗ Xuân B; tài sản trên đất gồm: 01 nhà ngang do ông bản và bà Đ xây năm 1995 hiện đã hết khấu hao nên không yêu cầu tính giá trị vào di sản để chia. Năm 2005 ông B và bà T1 xây 01 ngôi nhà cấp 4 (đã hết khấu hao).

Năm 2015 ông B và bà T1 xây 01 nhà bếp, 02 chuồng lợn, 01 chuồng trâu, 01 nhà tắm, 01 nhà vệ sinh. Tài sản là cây trên đất rừng thửa 148 tờ bản đồ số 5 (ông B và bà T1 trồng keo năm 2015), một phần thửa 231 diện tích 4548,6 m2 (ông B và Bà T1 trồng keo năm 2014).

Các đương sự không thống nhất được là thửa 914, tờ bản đồ số 8: Anh C xác định là tài sản riêng của anh C, bà T1 xác định là tài sản chung của bà và ông B.

Kết thúc phần tranh luận các đương sự giữ nguyên quan điểm của mình:

Đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn xác định về thời hiệu khởi kiện vẫn còn và yêu cầu chia di sản thừa kế theo luật; áp dụng Nghị quyết số 35/2000/NQ-QH 10 ngày 09/6/2000 của Quốc Hội Khoá 10 xác định bà T1 và ông B không phải là vợ chồng; vì vậy hàng thừa kế thứ nhất của ông B gồm: anh C, anh P, chị H1, chị H2, chị H3, anh H; Hàng thừa kế thứ nhất của bà Đ gồm: ông B, anh C, anh P, chị H1, chị H2, chị H3; Di sản thừa kế là khối tài sản mà các bên đã thống nhất được để chia; đề nghị HĐXX chia thừa kế theo pháp luật, kỷ phần của chị H1, chị H2, chị H3 được chia các chị nhất trí cho lại anh C được hưởng. Đối với tài sản là thửa 914, năm 2003 ông B đã cho anh C ra đó ở riêng, quá trình ở anh C đã mua bán, đổi trác thêm để được như diện tích và hình thể như hiện nay, năm 2018 anh C đã xây dựng 01 nhà kiên cố trên đất, bà T1 biết nhưng không có ý kiến gì, quá trình đổi trác mua bán bà T1 cũng không tham gia, áp dụng án lệ số 03 xác định đây là tài sản riêng của anh C.

Nguyên đơn anh C và những người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan chị H1, chị H2 và chị H3 nhất trí với ý kiến của người đại diện theo ủy quyền của anh C. Ngoài ra chị H1 trình bày thêm, bà T1 không có công sức đóng góp gì cho gia đình nhà chị, mọi công việc bà T1 làm đều phải trả bà T1 bằng tiền (ví dụ như cưới hỏi hay giỗ chạp nếu thịt gà của bà T1 thì phải trả bà T1 bằng tiền...), khi bố chị ốm bà T1 cũng không chăm sóc bố chị, minh chứng cụ thể tại quyển nhật ký của ông B.

Đại diện theo ủy quyền của bị đơn đề nghị Tòa án giải quyết chia thừa kế theo pháp luật, phần của ai được đến đâu thì hưởng đến đó, công sức của bà T1 được hưởng nhất trí cho anh H. Bị đơn bà T1 xác định, ngoài khối di sản thừa kế đã thống nhất được thì bà và ông B còn có tài sản chung là thửa 914, tờ bản đồ số 8 hiện anh C đang sử dụng và bà yêu cầu chia. Đối với phần công sức của bà được chia bà nhất trí cho anh H.

Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan anh P đề nghị Tòa án chia thừa kế theo pháp luật, ai được hưởng đến đâu thì sử dụng đất đó, kỷ phần của anh được chia anh cho lại anh H.

Anh H nhất trí nhận kỷ phần của anh P và công sức đóng góp của bà T1 được hưởng. Anh C nhất trí nhận kỷ phần của chị H1, chị H2 và chị H3.

Do các đương sự không thỏa thuận được với nhau về toàn bộ nội dung của vụ án vì vậy tòa án phải xét xử vụ án công khai ngày hôm nay.

Quá trình giải quyết, tòa án đã tiến hành thẩm định kết quả: anh C đang quản lý sử dụng thửa 344, 330, 349, 350, 351, 689; chị H3 đang quản lý sử dụng thửa 337, một phần thửa 335; anh P đang quản lý sử dụng một phần thửa 335; bà T1 đang quản lý sử dụng các thửa 334, 338, 27, 602, 601, 340, 421, 420, 419, 418, 947, 948; thửa 947 gộp với thửa 418 và 948. Trong đó có một số thửa có diện tích được cấp nhiều hơn diện tích thực tế sử dụng. Đối với thửa 601 trong giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cấp được xác định là thửa 606 trên bản đồ địa chính, lý do nhầm lẫn là do số hóa bản đồ, hiện tại việc cấp giấy chứng nhận là đúng số thửa và người sử dụng cũng đang sử dụng đúng thửa được cấp.

Kết quả định giá: Đất trồng lúa có giá 65.000đ/m2, đất trồng mầu có giá 62.000đ/m2, đất vườn có giá 59.000đ/m2, đất ở nông thôn có giá 400.000đ/m2

Các đương sự đều nhất trí với kết quả đo vẽ và giá của Hội đồng định giá.

Đại diện viện kiểm sát nhân dân huyện Phú Bình, tỉnh Thái Nguyên phát biểu ý kiến về việc giải quyết vụ án như sau:

Về việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử và của đương sự: Trong quá trình thụ lý, giải quyết vụ án, thẩm phán, Hội đồng xét xử đã thực hiện cơ bản đầy đủ trình tự thủ tục theo quy định của pháp luật, nguyên đơn, bị đơn, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan chấp hành đúng quy định tại Điều 70,71, 72,73 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.

Về nội dung của vụ án:

Đề nghị áp dụng các Điều: 609, 611, 612, 613, 616, 618, 623, 650, 651; 658 và khoản 2 Điều 60 của Bộ luật Dân sự; Các Điều: 100, 166, 167 và 203 của Luật Đất đai; Khoản 5 Điều 26, 35, 39; khoản 2 Điều 147; khoản 2 Điều 157; khoản 1 Điều 227; Điều 271 và Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự; Điểm đ khoản 1 Điều 12; Nghị quyết số 35/2000/NQ-QH10 ngày 09/6/2000 của Quốc Hội; Án lệ số 05; Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/NQ-BTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án; Danh mục án phí và lệ phí Tòa án ban hành kèm theo Nghị quyết; Luật Thi hành án dân sự.

Quan điểm xét xử vụ án như sau:

Về thời hiệu khởi kiện xác định vẫn còn thời hiệu

Về hàng thừa kế xác định: Hàng thừa kế thứ nhất của bà Đ gồm: Ông B, chị H1, anh P, anh C, chị H2 và chị H3; Hàng thừa kế thứ nhất của ông B gồm: Chị H1, anh P, anh C, chị H2, chị H3 và anh H.

Đối với bà T1, năm 1998 Bà T1 sống chung với ông B không đăng ký kết hôn, nhưng những năm sau đó bà T1 và ông B cũng không ra UBND xã để đăng

ký, áp dụng Nghị quyết 35 xác định bà T1 và ông B không phải là vợ chồng nên không phải là người thừa kế thuộc hàng thứ nhất của ông B.

Di sản thừa kế các bên đã xác định tại phiên tòa vì vậy đề nghị Tòa án chia thừa kế theo pháp luật cho những hàng thừa kế của ông B và bà Đ, và đề nghị tính công sức đóng góp của bà T1 bằng một kỷ phần của ông B.

Đối với thửa 914, bà T1 xác định là tài sản chung của bà và ông B, tuy nhiên bà T1 đã không có yêu cầu phản tố vì vậy không giải quyết trong vụ án này.

Về án phí và chi phí tố tụng đề nghị giải quyết theo quy định của pháp luật.

Các đương sự có quyền kháng cáo bản án.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi các đương sự trình bày, sau khi xem xét các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ, kết quả tranh tụng tại phiên tòa, quan điểm của đại diện Viện kiểm sát, Hội đồng xét xử nhận định:

Về thủ tục tố tụng:

[1]. Về thẩm quyền: Đây là vụ án tranh chấp chia di sản thừa kế theo quy định tại khoản 5 Điều 26, Điều 35, điểm a, c khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự. Nguyên đơn, bị đơn, di sản thừa kế là quyền sử dụng đất đều thuộc xã T huyện P. Vì vậy, vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Phú Bình, tỉnh Thái Nguyên.

[2]. Về thủ tục ủy quyền: Quá trình giải quyết anh C ủy quyền cho anh T được xác lập tại Văn phòng C1 thành phố số 6127, quyển 03TP; Anh H ủy quyền cho anh P tại văn phòng công chứng Quang Minh tỉnh B, số công chứng 3604; bà T1 ủy quyền cho anh P được chứng thực tại UBND xã T, số chứng thực 86, quyển số 01/2020. Tại phiên tòa hôm nay anh C, anh H, bà T1 đều có mặt và vẫn yêu cầu thực hiện việc ủy quyền, xét thấy việc ủy quyền đều hợp pháp nên HĐXX chấp nhận việc ủy quyền.

[3]. Tại phiên tòa ngày hôm nay người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan là chị T2, chị T3, anh T4, bà H4 đều có đơn xin xét xử vắng mặt, căn cứ điều 227 BLTTDS HĐXX tiến hành xét xử vắng mặt những người này.

[4]. HĐXX tiến hành công khai tài liệu chứng cứ gồm: Giấy khai sinh, sổ hộ khẩu, CMTND của anh C, chị H1, chị H2, chị H3, anh H, giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của hộ ông B, (các tài liệu này đều là chứng thực); các văn bản ủy quyền gồm: anh C ủy quyền cho anh T, anh H, bà T1 ủy quyền cho anh P (bản chính); Biên bản xem xét thẩm định tại chỗ, bản đồ trích đo hiện trạng, biên bản định giá tài sản và các tài liệu chứng cứ do các đương sự xuất trình và do Tòa án thu thập.

[5]. Về áp dụng pháp luật: Do các đương sự không thỏa thuận được với nhau về việc phân chia, do đó HĐXX căn cứ theo quy định về chia thừa kế theo pháp luật để giải quyết. Bà Đ chết năm 1993, vì vậy áp dụng Pháp lệnh thừa kế 1990, ông B chết năm 2017 thời điểm áp dụng Bộ luật dân sự năm 2015 để giải quyết. Tuy nhiên, xét thấy những quy định về thừa kế theo pháp luật của Pháp lệnh thừa kế năm 1990 có nội dung phù hợp với quy định tại Bộ luật dân sự năm 2015, do đó căn cứ vào Điều 688 điều khoản chuyển tiếp của Bộ luật dân sự năm 2015 quyết định áp dụng Bộ luật dân sự năm 2015 làm căn cứ về pháp luật để giải quyết vụ án.

Về nội dung:

[6]. Về thời điểm mở thừa kế và thời hiệu thừa kế: Bà Đ chết ngày 05/5/1993, ông B chết ngày 23/8/2017, trước khi chết ông B và bà Đ không để lại di chúc, nên thời điểm mở thừa kế vào thời điểm ông B và bà Đ chết. Ngày 03/8/2020 anh C nộp đơn khởi kiện chia thừa kế đối với di sản của ông B và bà Đ để lại,Theo quy định tại Điều 623 Bộ luật dân sự thì thời hiệu khởi kiện thừa kế của ông B và bà Đ vẫn còn. Do bà Đ và ông B không để lại di chúc, nên di sản thừa kế được chia theo pháp luật.

[7]. Năm 1993 bà Đ chết, ông B chung sống với bà T1 có một con chung là anh H. Tại biên bản xác minh ngày 06/11/2023 tại UBND xã T, huyện P xác định: Năm 1998 bà T1 về chung sống với ông B không có đăng ký kết hôn, những năm sau này bà T1 và ông B cũng không ra UBND xã để làm thủ tục đăng ký. Căn cứ điểm c mục 3 Nghị quyết số 35/2000/NQ-QH10 ngày 09/6/2000 của Quốc Hội, HĐXX xác định ông B và bà T1 không phải là vợ chồng.

[8]. Về hàng thừa kế:

Hàng thừa kế thứ nhất của bà Đ: Các đương sự đều xác định ông B và bà Đ có 5 con chung gồm: Đỗ Văn P, Đỗ Văn C, Đỗ Thị H1, Đỗ Thị H2, Đỗ Thị H3, tại thời điểm mở thừa kế bố mẹ ông B và bà Đ đều không còn, ông B bà Đ không có con nuôi. Do vậy, căn cứ điều 611, Điều 613 và Điều 651 Bộ luật dân sự năm 2015 HĐXX xác định hàng thừa kế thứ nhất của bà Đ gồm: Ông B, anh P, anh C, chị H1, chị H2, chị H3.

Hàng thừa kế thứ nhất của ông B: Do ông B và bà T1 không phải là vợ chồng nhưng có 01 con chung là anh Đỗ Văn H. Căn cứ điều 611, Điều 613 và Điều 651 Bộ luật dân sự năm 2015 HĐXX xác định hàng thừa kế thứ nhất của ông B gồm: anh P, anh C, chị H1, chị H2, chị H3, anh H.

[9]. Về di sản thừa kế: Tại phiên tòa các đồng thừa kế thống nhất được khối di sản gồm: Thửa 344, 337, 334, 330, 602, 601, 335, 340, 421, 420, 419, 418, 350, 351, 27, 947, 948 TBĐ số 09 và thửa số 689, TBĐ số 08 thuộc xã T đã được UBND huyện P cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số W173969 ngày 15/10/2002 cho hộ ông bà Đỗ Xuân B; tài sản trên đất gồm: 01 nhà ngang do

ông bản và bà Đ xây năm 1995. Năm 2005 ông B và bà T1 xây: 01 ngôi nhà cấp 4. Năm 2015 ông B và bà T1 xây thêm 01 nhà bếp, 02 chuồng lợn, 01 chuồng trâu, 01 nhà tắm, 01 nhà vệ sinh. Xét thấy, đối với các thửa đất trên ngày 15/10/2002 UBND huyện P đã được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số W173969 do cấp cho hộ ông Đỗ Xuân B là hợp pháp, các tài sản trên đất các đương sự đều xác định có nguồn gốc hình thành là của ông B với bà Đ và ông B với bà T1 xây dựng. Vì vậy HĐXX xác định di sản thừa kế mà các đồng thừa kế xác định là hợp pháp và là di sản để chia.

Tài sản là cây keo trồng trên đất rừng thửa 148 tờ bản đồ số 5 (ông B và bà T1 trồng keo năm 2015), một phần thửa 231 diện tích 4548,6 m2 (ông B và Bà T1 trồng keo năm 2014), các đương sự đều xác định cây keo trên đất đều do ông B và Bà T1 trồng, vì vậy HĐXX xác định ½ khối tài sản này thuộc tài sản của ông B để lại để chia.

[10]. Kết quả xem xét thẩm định tại chỗ có một số thửa có diện tích được cấp nhiều hơn diện tích thực tế sử dụng, cụ thể: Thửa 330 diện tích được cấp là 425m2, diện tích thực tế là 336,6m2; thửa 335 diện tích được cấp là 195m2, diện tích thực tế là 269,2m2; thửa 420 diện tích được cấp là 295m2, diện tích thực tế là 264,7m2; thửa 338 diện tích được cấp là 450m2, diện tích thực tế là 404,1m2; thửa 947 diện tích được cấp là 400m2, thửa 418 diện tích được cấp là 130m2, thửa 948 diện tích được cấp là 2800m2, hiện nay thửa 947 gộp với thửa 418 và 948 có diện tích thực tế là 321,3m2. Theo UBND xã T xác định nguyên nhân chênh lệch diện tích là phương pháp tính toán tự động và công nghệ đo đạc (trước đây tính toán thủ công) do đó diện tích giữa hai lần đo đạc khác nhau, còn về ranh giới các thửa đất không thay đổi so với thời điểm cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, các hộ giáp ranh không có tranh chấp gì. Phía các đương sự cũng xác định ranh giới sử dụng ổn định từ khi được cấp đến nay và nhất trí xác định diện tích đất là di sản để chia tính theo diện tích thực tế trên hiện trạng. Vì vậy HĐXX xác định diện tích đất là di sản để chia thừa theo diện tích thực tế trên hiện trạng.

[11]. Xét yêu cầu giải quyết về công sức đóng góp duy trì tôn tạo của bà T1: Quá trình giải quyết các con của ông B cũng đều xác định bà T1 về sống chung với ông B từ năm 1998 và ở trên mảnh đất là di sản yêu cầu chia thừa kế từ đó đến nay là 26 năm. Quá trình ở đó bà T1 đã tôn tạo, sửa chữa lại nhà cửa, xây thêm nhà ngang, truồng trại, nhà bếp và nhà tắm, canh tác trên các thửa ruộng của ông B và bà Đ. HĐXX thấy rằng, quá trình bà T1 về sống chung với ông B đã có công lớn trong việc quản lý gia đình và duy trì tôn tạo một phần khối di sản trên, đã trồng trọt, cải tạo và làm tăng mầu mỡ của đất, đến tại thời điểm xét xử bà T1 vẫn là người quản lý, tôn tạo và ở trên di sản thừa kế này. Xét thấy, yêu cầu của bà là phù hợp với thực tế và phù hợp với quy định của pháp luật, áp dụng án lệ số 05 HĐXX chấp nhận yêu cầu của bà T1. Do bà T1 có công duy trì tôn tạo thời gian dài 26 năm, vì vậy HĐXX tính công sức duy trì tôn tạo

cho bà T1 bằng 1 kỷ phần của hàng thừa kế thứ nhất của ông B. Như vậy di sản của ông B để lại được chia cho 7 kỷ phần

Hiện Bà T1 không có nơi ở nào khác, bà có nguyện vọng được chia công sức duy trì tôn tạo của bà bằng quyền sử dụng đất để có chỗ ở. Để đảm bảo chỗ ở cho bà T1 HĐXX sẽ tính công sức duy trì tôn tạo cho bà T1 giá trị bằng quyền sử dụng đất.

[12]. Di sản là tài sản trên đất có hai ngôi nhà cấp 4, 01 ngôi nhà do ông B và bà Đ xây dựng năm 1995, 01 ngôi nhà do ông B và bà T1 xây dựng năm 2005, tại biên bản định giá xác định đã hết khấu hao, các đương sự đều nhất trí chia đất không tính giá trị 02 ngôi nhà trên vào khối di sản của ông B và bà Đ để chia thừa kế. Hiện anh P, chị H1, chị H2, anh C, chị H3 đều có nhà ở, bà T1 và anh H không có nhà ở. Tuy hai ngôi nhà đã hết khấu hao nhưng vẫn còn có thể sử dụng được, hơn nữa bà T1 cũng có công sức trong việc xây dựng, sửa chữa tôn tạo những ngôi nhà đó. Vì vậy khi chia đất, HĐXX sẽ chia phần đất có nhà ở cho anh H và bà T1.

[13]. Do đất vườn và đất ở chia theo kỷ phần, vì vậy cần phải trích một phần diện tích đất ra làm đường giao thông. Tại phiên tòa, các đương sự đều nhất trí trừ đi phần diện tích 222,1m2 đất vườn để làm đường giao thông. Xét thấy, sự thỏa thuận của các đương sự hoàn toàn tự nguyện, không vi phạm pháp luật nên HĐXX chấp nhận việc thỏa thuận trên. Cụ thể đường giao thông có diện tích là 222,1m2, theo bản đồ trích đo hiện trạng đường đi chung là các điểm 30,29,28,27,11,12,13,14,15,16,17 trên bản đồ.

[14]. Di sản là quyền sử dụng đất được chia như sau

[14.1] Đối với đất lúa: Gồm 7 thửa cụ thể: thửa 344 diện tích 1190m2; thửa 337 diện tích 280m2; thửa 334 diện tích 415m2; thửa 330 diện tích 336,6m2; thửa 335 diện tích 495m2; thửa 340 diện tích 150m2; thửa 27 diện tích 240m2. Tổng diện tích: 3.106,6m2, tài sản của bà Đ có 1.553,3m2, tài sản của ông B có 1.553,3m2

Hàng thừa kế thứ nhất của bà Đ gồm 6 người, mỗi kỷ phần được hưởng theo pháp luật là: 1.553,3m2 : 6 = 258,8m2. Như vậy: Bản = H1 = P = C = H2 = H3 = 258,8m2.

Di sản của ông B gồm: 1.553,3m2 + 258,8m2 = 1812,1m2. Hàng thừa kế thứ nhất của ông B gồm 6 người, công sức duy trì tôn tạo của bà T1 được tính bằng một kỷ phần thừa kế của ông B để lại, như vậy di sản của ông B được chia cho 7 kỷ phần, được chia như sau: 1812,1m2 : 7 = 258,8m2. H1 = P = C = H2 = H3 = H = 258,8m2. Bà T1 = 258,8m2.

Như vậy, đối với đất lúa các hàng thừa kế được hưởng di sản thừa kế của ông B và bà Đ như sau: H1 = P = C = H2 = H3 = 517,6m2. H = T1 = 258,8m2

Anh P từ chối nhận kỷ phần mình được hưởng và đồng ý giao lại kỷ phần đó cho anh H, Bà T1 cũng nhất trí nhập phần tài sản mình được hưởng cho anh

H, anh H đồng ý nhận, nên kỷ phần của anh P và công sức đóng góp của bà T1 được giao cho anh H. Chị H1, chị H2, chị H3 cũng thống nhất kỷ phần mình được hưởng giao cho anh C, anh C đồng ý nhận. Như vậy: Về đất lúa các hàng thừa kế được hưởng như sau: Cường = 2.070,4m2 (trị giá: 134.550.000₫); H = 1.035,2m2 (trị giá: 67.288.000₫).

Hiện bà T1 đang quản lý và sử dụng thửa 334, thửa 340, thửa 27; anh P và chị H3 đang quản lý và sử dụng chung thửa 335; chị H3 đang quản lý và sử dụng thửa 337; anh C đang quản lý và sử dụng thửa 344, 330. Để không có sự sáo trộn nhiều về việc quản lý và sử dụng. HĐXX giao thửa 334, thửa 340, thửa 27, thửa 337 có tổng diện tích 1.085m2 cho anh H quản lý và sử dụng. Giao thửa 344, thửa 330, thửa 335 với tổng diện tích 2.021m2 cho anh C quản lý và sử dụng. Như vậy, anh H đang được giao sử dụng nhiều hơn số được hưởng là 50m2, vì vậy anh H có trách nhiệm trích chia lại trị giá bằng tiền cho anh C đối với số diện tích vượt quá của mình là 50m2. Đất trồng lúa có giá 65.000đ/m2 x 50m2 = 3.250.000đ. Chị H3 có trách nhiệm giao lại thửa 337 cho anh H quản lý và sử dụng, chị H3 và anh P có trách nhiệm giao lại thửa 335 cho anh C quản lý và sử dụng.

[14.2]. Đất mầu gồm 9 thửa cụ thể: Thửa 602 diện tích 908m2; thửa 601 diện tích 354,6m2; thửa 421, diện tích 265m2; thửa 420, diện tích 264m2; thửa 419, diện tích 200m2; thửa 418, diện tích 130m2; thửa 350, thửa 351 gộp chung một thửa là 350 diện tích 130m2, thửa 689 diện tích 432m2. Với tổng diện tích 2.684,3 m2. Di sản của bà Đ = 1.342,1m2, di sản của ông B = 1.342,1m2.

Hàng thừa kế thứ nhất của bà Đ gồm 6 người, kỷ phần của mỗi người được hưởng theo pháp luật là: 1.342,1m2 : 6 = 223,69m2. Như vậy: Bản = H1 = P = C = H2 = H3 = 223,69m2

Di sản của ông B để lại để chia là: 1.342,1m2 + 223,6m2 = 1.565,7m2. Hàng thừa kế thứ nhất của ông B gồm 6 người, công sức duy trì tôn tạo của bà T1 bằng một kỷ phần thừa kế của ông B để lại. Di sản của ông B được chia cho 7 kỷ phần và mỗi người được hưởng là: 1.565,7m2 : 7 = 223,68m2. Như vậy: H1 = P = C = H2 = H3 = H = 223,6m2, T1 = 223,68m2.

Như vậy, chị H1, anh P, anh C, chị H2, chị H3 được hưởng di sản thừa kế của ông B và bà Đ mỗi người là 447,37m2. Anh H được hưởng di sản của ông B là 223,68m2, công sức của bà T1 = 223,68m2.

Anh P từ chối nhận kỷ phần mình được hưởng và đồng ý giao lại kỷ phần đó cho anh H, Bà T1 cũng nhất trí nhập phần công sức duy trì tôn tạo của mình được hưởng cho anh H, anh H đồng ý nhận, nên kỷ phần của anh P và công sức đóng góp của bà T1 được giao cho anh H. Chị H1, chị H2, chị H3 cũng thống nhất kỷ phần mình được hưởng giao cho anh C và anh C cũng đồng ý nhận. Như vậy: Về đất mầu các hàng thừa kế được hưởng như sau: Cường = 1.789,48m2 (trị giá: 110.947.760đ); H = 894,73m2 (trị giá: 55.471.400₫).

Hiện bà T1 đang quản lý và sử dụng các thửa 601, 602, 421, 420, 419, 418; anh C đang quản lý và sử dụng thửa 350, 351, 689. Để không làm sáo trộn nhiều trong việc canh tác, trồng trọt, HĐXX giao thửa 601 diện tích 354,6m2, thửa 421 diện tích 265, thửa 420 diện tích 264,7m2 cho anh H quản lý và sử dụng có tổng diện tích là 884,3m2; Giao các thửa 602 diện tích 908m2, thửa 419 diện tích 200m2, thửa 418 diện tích 130m2, thửa 350 diện tích 75m2, thửa 351 diện tích 55m2 đều thuộc tờ bản đồ số 9 và thửa 689 diện tích 432m2 thuộc tờ bản đồ số 8 cho anh C quản lý và sử dụng có tổng diện tích 1800m2. Như vậy, anh C được giao quản lý và sử dụng nhiều hơn phần mình được chia là 10,5m2, vì vậy anh C có trách nhiệm trích chia lại giá trị bằng tiền cho anh H đối với diện tích 10,5m2. Theo giá của HĐĐG thì đất trồng mầu có giá 62.000đ/m2 x 10,52m2 = 652.240 đồng.

Bà T1 có trách nhiệm giao lại các thửa 602, 419, 418 đều thuộc tờ bản đồ số 9 cho anh C quản lý và sử dụng.

[14.3] Đất vườn và đất thổ cư:

Thửa 947 diện tích 2800m2, mục đích sử dụng là đất vườn, thửa 948 diện tích 400m2 mục đích sử dụng đất ở nông thôn, hiện hai thửa này đã gộp vào nhau.

* Đối với thửa 948, mục đích sử dụng là đất vườn, diện tích được cấp là 2800m2, hiện trạng sử dụng là 2.683,3m2, ít hơn so với GCN được cấp. Các đương sự trình bày nguyên nhân là do quá trình sử dụng gia đình đã nắn dòng suối chảy quanh nhà, vì vậy diện tích đất vườn thực tế sử dụng ít hơn so với diện tích được cấp, hiện ranh giới vẫn sử dụng ổn định, không tranh chấp với ai. Tại phiên tòa các đương sự nhất trí bỏ một phần diện tích đất vườn để làm đường giao thông có diện tích là 222,1m2. Sau khi trừ đi diện tích làm đường giao thông thì diện tích đất vườn còn lại để chia là 2461,2m2. Như vậy. Di sản của ông B = 1.230,6m2, di sản của bà Đ = 1.230,6m2.

Hàng thừa kế thứ nhất của bà Đ gồm 6 người, kỷ phần của mỗi người được hưởng theo pháp luật là: 1.230,6m2 : 6 = 205,1m2. Như vậy: Bản = H1 = P = C = H2 = H3 = 205,1m2

Di sản của ông B để lại gồm: 1.230,6m2 + 205,1m2 = 1.435,7m2. Hàng thừa kế thứ nhất của ông B gồm 6 người, công sức duy trì tôn tạo của bà T1 bằng một kỷ phần thừa kế của ông B để lại, vì vậy di sản của ông B được chia cho 7 kỷ phần và mỗi người được hưởng là 1435,7m2 : 7 = 205,1m2. Như vậy: H1 = P = C = H2 = H3 = H = T1 = 205,1m2.

Như vậy, đất vườn các hàng thừa kế được hưởng là: Hằng = P = C = H2 = H3 = 410,2m2. H = Thi = 205,1m2

* Về đất thổ cư: Thửa 947 có diện tích 400m2, di sản của ông B = 200m2, di sản của bà Đ = 200m2

Hàng thừa kế thứ nhất của bà Đ gồm 6 người, kỷ phần của mỗi người được hưởng theo pháp luật là: 200m2 : 6 = 33,3m2. Như vậy: Bản = H1 = P = C = H2 = H3 = 33,3m2

Di sản của ông B để lại để chia gồm: 200m2 + 33,3m2 = 233,3m2: Hàng thừa kế thứ nhất của ông B gồm 6 người, công sức duy trì tôn tạo của bà T1 được tính bằng một kỷ phần thừa kế của ông B để lại, như vậy di sản của ông B được chia cho 7 kỷ phần và kỷ phần của mỗi người được hưởng theo pháp luật là: 233,3m2: 7 = 33,3m2. Như vậy: H1 = P = C = H2 = H3 = H = 33,3m2, T1 = 33,3m2.

Anh P từ chối nhận kỷ phần mình được hưởng và đồng ý giao lại kỷ phần đó cho anh H, Bà T1 cũng nhất trí nhập phần tài sản mình được hưởng cho anh H, anh H đồng ý nhận, nên kỷ phần của anh P và công sức đóng góp của bà T1 được giao cho anh H. Chị H1, chị H2, chị H3 cũng thống nhất giao kỷ phần mình được hưởng cho anh C, anh C đồng ý nhận. Vì vậy, đất ở các hàng thừa kế được hưởng là: Cường = 266,4m2, H = 133,2m2. Do việc chia không làm tròn vì vậy còn dư 0,4m2 được chia đều cho hai bên, vì vậy C = 266,6m2, H = 133,4m2

* Như vậy, đối với đất vườn và đất ở nông thôn những người trong hàng thừa kế được hưởng theo pháp luật như sau:

C = 1.907,2m2 trong đó Đất vườn = 1640,8m2 (trị giá 101.729.600 đồng); Đất ở = 266,6m2 (trị giá 106.640.000 đồng)

H = 953,6 m2 trong đó Đất vườn = 820,4m2 (trị giá: 50.864.800); Đất ở = 133,4 m2 (trị giá: 53.360.000 đồng)

Phần diện tích đất ở nông thôn và đất vườn anh C và H được thể hiện các điểm trên bản đồ trích đo hiện trạng như sau:

C: 26,25,13,20,21,22,23,24,1,2,3,4,5,6,7,8,9,10,11.

H: 18,17,16,14,19,18

[14.4]. HĐXX giao phần đất có nhà cho anh H quản lý và sử dụng.

[15] Tài sản trên đất.

[15.1] Tài sản trên đất thuộc phần đất ở và đất vườn.

Đối với cây trên đất các đương sự thống nhất cây cối trên phần đất nào được chia thì người đó sử dụng.

Đối với phần nhà ông B và bà Đ xây dựng năm 1995 và 01 ngôi nhà ông B và bà T1 xây dựng năm 2005 đã hết khấu hao sử dụng. Nên HĐXX không chia.

Đối với tài sản là công trình bếp, nhà tắm, khu vệ sinh, chuồng lợn, sân lát gạch bổ, tường rào bao quanh nhà. Các đương sự đều xác định là tài sản chung của ông B và bà T1, các công trình này được xây dựng năm 2015, giá trị còn lại

của các công trình này là 42.496.612 đồng. Như vậy, giá trị tài sản của ông B = 21.248.306 đồng. Giá trị tài sản của bà T1 còn 21.248.306 đồng.

Tài sản của ông B được chia cho 6 kỷ phần và công sức duy trì, tôn tạo của bà T1 được tính bằng 1 kỷ phần, được tính cụ thể như sau: 21.248.306 : 7 = 3.035.472 đồng. Như vậy: H1 = P = C = H2 = H3 = H = T1 = 3.035.472đ.

Anh H được giao toàn bộ tài sản trên, bà T1 và anh P không lấy tiền trích chia và cho anh H, vì vậy anh H còn phải có trách nhiệm trích chia giá trị tài sản lại cho anh C, chị H2, chị H3, chị H1 mỗi người trị giá 3.035.472 đồng. Chị H2, chị H3, chị H1 nhất trí giao lai số tài sản trích chia này cho anh C, anh C nhất trí, vì vậy anh H có trách nhiệm trích chia cho anh C số tiền là 12.141.888 đồng.

[15.2]. Tài sản trên đất rừng:

Quá trình giải quyết, tại biên bản thẩm định và tại phiên tòa ngày hôm nay các đương sự đều xác định thửa 148 tờ bản đồ số 5 diện tích 6135m2 trên đất ông B và bà T1 trồng keo năm 2015 và một phần thửa 231, tờ bản đồ số 5, diện tích 4548,6m2 trên đất ông B và Bà T1 trồng keo năm 2014.

Đối với thửa một phần thửa 231, tờ bản đồ số 5 hiện bà T1 đang quản lý có ranh giới theo bản đồ địa chính là 4.548,7m2, tuy nhiên bà T1 bà ông B không trồng cây trên theo đúng ranh giới của thửa 231 mà bà T1 và ông B đã trồng cây sang thửa 230 tờ bản đồ số 9 của hộ bà Đỗ Thị H4 diện tích là 1119,7m2. Quá trình giải quyết bà H4 xác định, bà là em ông B, nguồn gốc thửa 230 tờ bản đồ số 9 là của ông B cho gia đình bà, vì vậy việc bà T1 và ông B trồng cây sang một phần diện tích thửa đất 230 của bà thì bà không có ý kiến gì, các hàng thừa kế của ông B có quyền khai thác cây đã trồng trên thửa đất đó.

Như vậy, HĐXX xác định cây keo trồng trên hai thửa đất này là tài sản chung của bà T1 và ông B. Tại biên bản định giá xác định thửa 148 tờ bản đồ số 5 mật độ cây trồng là 1.124 cây x 41.000đ/cây = 46.084.000 đồng. Một phần thửa 231, tờ bản đồ số 5 có mật độ cây trồng là 753 cây x 49.500đ/cây = 37.273.000 đồng. Tổng giá trị tài sản trên đất của hai thửa là 83.357.000 đồng. Bà T1 được 1/2 giá trị tài sản = 41.678.500 đồng, ông B được 1/2 giá trị tài sản = 41.678.500 đồng.

Di sản của ông B được chia cho hàng thừa kế thứ nhất của ông B gồm 6 kỷ phần, không tính công sức đóng góp của bà T1 đối với cây trồng trên đất, cụ thể: 41.678.500 đồng : 6 = 6.946.416 đồng, vì vậy mỗi kỷ phần được 6.946.416 đồng.

Tổng giá trị anh C, chị H1, chị H2, chị H3 được hưởng theo pháp luật là 6.946.416 đồng x 4 = 27.785.664 đồng. Chị H1 chị H2 chị H3 nhất trí giao tiền được hưởng cho anh C, anh C nhất trí, vì vậy anh C được hưởng là: 27.785.664 đồng.

Anh H = anh P = 6.946.416 đồng. Anh P từ chối nhận kỷ phần mình được hưởng và đồng ý giao lại kỷ phần đó cho anh H, vì vậy anh H được hưởng là 13.892.832 đồng.

Xét thấy, Bà T1 và ông B là người trồng và chăm sóc cây, vì vậy giao cho bà T1 khai thác cây trên trồng trên thửa đất 148 tờ bản đồ số 5, giao cho anh C khai thác cây trồng trên thửa đât 231 là phù hợp. Bà T1 có trách nhiệm trích chia lại cho anh H số tiền 4.405.500 đồng, anh C có trách nhiệm trích chia lại cho H số tiền là 9.487.336 đồng.

[16]. Đối trừ nghĩa vụ:

Mục [14.1] H có trách nhiệm trích chia chênh lệch tài sản cho C số tiền 3.250.000 đồng.

Mục [14.2] C có trách nhiệm trích chia chênh lệch tài sản cho H số tiền 652.240 đồng.

Mục [15.1] H có trách nhiệm trích chia chệnh lệch tài sản cho C số tiền 12.141.888 đồng.

Mục [15.2] C có trách nhiệm trích chia chệnh lệch tài sản cho H số tiền 9.487.336 đồng.

Như vậy: H có trách nhiệm trích chia chênh lệch tài sản cho C số tiền là 15.391.888 đ, C có trách nhiệm trích chia chênh lệch tài sản cho H là 10.139.576 đồng. Đối trừ nghĩa vụ thì H còn phải trích chia chệnh lệch tài sản cho C số tiền là: 5.252.312 đồng.

[17]. Đối với phần tài sản là thửa 914 TBĐ số 8, diện tích 600m2, mục đích sử dụng đất mầu: Tại đơn khởi kiện anh C không yêu cầu giải quyết tài sản này, quá trình giải quyết anh C trình bày năm 2002 do anh đưa tiền nhờ ông B mua hộ đất của ông N và bà N1, sau đó ông B có xây nhà cho anh và cho anh ra đó ở riêng. Quá trình anh quản lý và sử dụng anh đã đổi trác và mua bán với một số hộ giáp ranh thì mới có diện tích, hình thể và khuôn viên như hiện nay, năm 2018 anh phá ngôi nhà ông B xây cho và xây dựng 01 ngôi nhà kiên cố trên đất. Quá trình anh đổi đất, mua bán và xây nhà bà T1 không có ý kiến gì, vì vậy anh xác định đây là tài sản riêng của anh không phải là di sản của ông B để lại và không yêu cầu giải quyết. Phía bà T1 xác định thửa đất này là tài sản chung của bà và ông B, nguồn gốc là bà và ông B mua của ông N và bà N1 mục đích là để cho anh C ra đó ở riêng, khi cho anh C ra ở đó việc đổi trác mua bán với các hộ giáp ranh như thế nào bà đều không biết, việc anh C xây nhà bà cũng không có ý kiến gì. Quá trình giải quyết, Tòa án đã giải thích và gửi thông báo số 195/CV-TB ngày 17/11/2023 tới bà T1 về việc yêu cầu làm đơn phản tố giải quyết việc chia tài sản chung hợp nhất đối với thửa 914 tờ bản đồ số 8 nhưng bà T1 không làm đơn yêu cầu, vì vậy HĐXX xác định thửa 914 tờ bản đồ số 8 không nằm trong di sản mà nguyên đơn yêu cầu chia thừa kế trong vụ án này. Nếu các

đương sự có tranh chấp và yêu cầu giải quyết thì Tòa án sẽ giải quyết bằng một vụ án khác.

[18]. Căn cứ vào bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật của Tòa án, các bên đương sự có quyền đến cơ quan nhà nước có thẩm quyền làm thủ tục cấp giấy CNQSD đất và tài sản trên đất đối với phần di sản đã được chia .

Bà T1 có trách nhiệm đến cơ quan nhà nước có thẩm quyền làm thủ tục chuyển quyền sử dụng đất đối với thửa 338 tờ bản đồ số 9 xã T; anh C, chị T2 có trách nhiệm đến cơ quan nhà nước có thẩm quyền làm thủ tục chuyển quyền sử dụng đất đối với thửa 349 tờ bản đồ số 9 xã T.

[19]. Về án phí và chi phí tố tụng:

Về chi phí tố tụng: chi phí đo vẽ = 13.000.000đ; chi phí thẩm định (2lần) (1.400.000₫ x 2) = 2.800.000đ, chi phí định giá = 2.300.000 đ. Tổng = 18.100.000 đồng.

Áp dụng khoản 2 Điều 157 và khoản 2 Điều 165 Bộ luật tố tụng dân sự, các đương sự phải chịu phần chi phí tố tụng theo kỷ phần được hưởng, theo đó anh C được hưởng 2/3 giá trị tài sản vì vậy anh C phải chịu số tiền chi phí tố tụng là 12.067.000 đồng, anh H phải nộp số tiền chi phí định giá số tiền là 6.034.000 đồng. Anh C đã nộp tạm ứng chi phí tố tụng, vì vậy anh H phải thanh toán cho anh C số tiền chi phí tố tụng là 6.034.000 đồng.

Về án phí: Anh C, anh H phải chịu án phí tương ứng với phần giá trị tài sản được hưởng.

[20]. Các đương sự có quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.

[21]. Xét thấy đề nghị của đại diện Viện kiểm sát phù hợp với quy định của pháp luật nên chấp nhận.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ:

  • - Các Điều: 609, 611, 612, 613, 616, 167, 618, 623, 649, 650, 651; 658 và khoản 2 Điều 660 của Bộ luật Dân sự năm 2015;
  • - Các Điều: 100, 166, 167 và 203 của Luật Đất đai;
  • - Khoản 5 Điều 26, 35, 39; khoản 1 Điều 227; khoản 2 Điều 147; khoản 2 Điều 157; Điều 271 và Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự;
  • - Nghị quyết số 35/2000/NQ-QH 10 ngày 09/6/2000 Quốc Hội Khoá 10
  • - Án lệ số 05
  • - Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/NQ-BTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu,

nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án; Danh mục án phí và lệ phí Tòa án ban hành kèm theo Nghị quyết.

- Luật Thi hành án dân sự.

Tuyên xử:

  1. Chấp nhận đơn khởi kiện của anh Đỗ Văn C về việc chia di sản thừa kế của ông B và bà Đ theo pháp luật đối với 18 thửa đất tại xã T đã được Ủy ban nhân dân huyện P cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số W173969 ngày 15/10/2002 cho hộ ông Đỗ Văn B1.
  2. Ghi nhận sự thoả thuận của các đương sự về việc thống nhất sử dụng 222,1 diện tích đất vườn tại thửa đất số 498 tờ bản đồ số 9 để làm đường giao thông, cụ thể các điểm 30,29,28,27,11,12,13,14,15,16,17 trên bản đồ (có sơ đồ đo vẽ kèm theo).
  3. Giao cho anh C quản lý và sử dụng:
    1. Quyền sử dụng đất 1L: Thửa 344 diện tích 1190m2, thửa 330 diện tích 336,6m2, thửa 335 diện tích 495m2 đều thuộc tờ bản đồ số 9, xã T, huyện P, tỉnh Thái Nguyên. Với tổng diện tích 2074,0m2 có trị giá: 134.576.000 đồng.
    2. Quyền sử dụng đất mầu: Thửa 602 diện tích 908m2, thửa 419 diện tích 200m2, thửa 418 diện tích 130m2, thửa 350 diện tích 75m2, thửa 351 diện tích 55m2 đều thuộc tờ bản đồ số 9, thửa 689 diện tích 432m2 thuộc tờ bản đồ số 8 xã T huyện P, tỉnh Thái Nguyên. Với tổng diện tích 1.789,48m2 có trị giá: 110.947.760 đồng.
    3. Quyền sử dụng đất vườn: diện tích 1640,8m2 thửa 948 tờ bản đồ số 9 thuộc xã T huyện P, tỉnh Thái Nguyên (trị giá 96.807.200 đồng) và các cây cối hoa mầu trồng trên diện tích đất được chia.
    4. Quyền sử dụng Đất ở: Diện tích 266,6m2 thửa 947, tờ bản đồ số 9 thuộc xã T huyện P, tỉnh Thái Nguyên (trị giá 106.640.000 đồng) và các cây cối hoa mầu trồng trên diện tích đất được chia.
    5. (Về đất vườn và đất ở có bản đồ trích đo hiện trạng kèm theo).

      Tổng giá trị anh C được hưởng: 448.970.960 đồng.

    6. Anh C được khai thác cây keo trồng trên thửa 231 tờ bản đồ số 5 diện tích 340,7m2 và cây keo trên diện tích 1119,7m2 thuộc một phần thửa đất số 230, tờ bản đồ số 5 của hộ bà Đỗ Thị H4 thuộc xã T, huyện P (có bản đồ trích đo hiện trạng kèm theo)
    7. Anh C, chị T2 được quyền quản lý sử dụng thửa 349 tờ bản đồ 9 diện tích 350m2 thuộc xã T huyện P tỉnh Thái Nguyên. (tài sản riêng)
    8. Anh C được anh H trích chia chênh lệch tài sản số tiền 5.252.312 đồng.
  4. Giao cho anh H được quyền quản lý và sử dụng:
    1. Quyền sử dụng đất 1L: Thửa 337 diện tích 280m2, thửa 334 diện tích 415m2, thửa 340 diện tích 150m2, thửa 27 diện tích 240m2 đều thuộc tờ bản đồ số 9 xã T, huyện P, tỉnh Thái Nguyên. Với tổng diện tích 1.035,2m2m2, có trị giá: 67.288.000 đồng.
    2. Quyền sử dụng đất mầu: Thửa 601 diện tích 354,6m2, thửa 421 diện tích 265m2, thửa 420 diện tích 264,7m2 đều thuộc tờ bản đồ số 9, xã T, huyện P. Với tổng diện tích 894,73m2, có trị giá: 55.471.400 đồng.
    3. Quyền sử dụng đất vườn: diện tích 820,4m2 thuộc thửa 948 tờ bản đồ số 9 (trị giá: 48.403.600 đồng) và các cây cối hoa mầu trồng trên diện tích đất được chia.
    4. Quyền sử dụng đất ở: diện tích 133,4 m2 thuộc thửa 947 tờ bản đồ số 9 có trị giá: 95.830.600 đồng (trị giá: 53.360.000 đồng)
    5. (Về đất vườn và đất ở có bản đồ trích đo hiện trạng kèm theo).

      Tổng giá trị anh H được hưởng: 224.523.000 đồng.

    6. Anh H được sở hữu các tài sản công trình trên đất gồm: bếp, nhà tắm, khu vệ sinh, chuồng lợn, sân lát gạch bổ, tường rào bao quanh nhà (có sơ đồ kèm theo).
    7. Anh H có trách nhiệm trích chia chệnh lệch tài sản cho C số tiền là: 5.252.312 đ (Năm triệu hai trăm năm mươi hai ngàn ba trăm mười hai đồng).
  5. Bà T1 được quyền khai thác cây trên đất 148 tờ bản đồ số 5 là tài sản riêng của bà T1. Bà T1 có trách nhiệm trích chia chênh lệch tài sản cho anh H số tiền 4.405.500đ (Bốn triệu bốn trăm linh năm ngàn năm trăm đồng)
  6. Bà T1 được quyền quản lý sử dụng thửa 338, tờ bản đồ 9, diện tích 404,1m2 thuộc xã T huyện P tỉnh Thái Nguyên.

    Bà T1 có trách nhiệm giao lại các thửa 602, 419, 418 tờ bản đồ số 9 thuộc xã T, huyện P cho anh C quản lý và sử dụng.

  7. Chị H3 có trách nhiệm giao lại thửa 337 tờ bản đồ số 9 diện tích 280m2 cho anh H quản lý và sử dụng.
  8. Chị H3 và anh P có trách nhiệm giao lại thửa 335 tờ bản đồ số 9 diện tích 495m2 cho anh C quản lý và sử dụng.

  9. Căn cứ vào bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật của Tòa án, các bên đương sự có quyền đến cơ quan nhà nước có thẩm quyền làm thủ tục cấp giấy CNQSD đất và tài sản trên đất đối với phần di sản đã được chia.
  10. Bà T1 có nghĩa vụ đến cơ quan nhà nước có thẩm quyền để liên hệ làm thủ tục cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đối với thửa 338, tờ bản đồ 9, diện tích 404,1m2 thuộc xã T, huyện P, tỉnh Thái Nguyên.
  11. Anh Cường C có nghĩa vụ đến cơ quan nhà nước có thẩm quyền để liên hệ làm thủ tục cấp lại giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đối với thửa 349 tờ bản đồ 9, diện tích 350m2, thuộc xã T, huyện P, tỉnh Thái Nguyên.
  1. Về án phí và chi phí tố tụng:
    1. Về chi phí tố tụng: anh C phải chịu số tiền chi phí tố tụng là 12.067.000 đồng, anh H phải nộp số tiền chi phí định giá số tiền là 6.034.000 đồng. Anh C đã nộp tạm ứng chi phí tố tụng, vì vậy anh H phải thanh toán cho anh C số tiền chi phí tố tụng là 6.034.000 đồng (Sáu triệu không trăm ba mươi bốn ngàn đồng chẵn.
    2. Về án phí: Anh C phải chịu 21.958.838 đồng tiền án phí dân sự có giá ngạch được trừ vào số tiền 300.000 đồng tiền tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu số 0000430 ngày 13/8/2020 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Phú Bình. anh C còn phải chịu 21.658.838 đồng (Hai mươi mốt triệu sáu trăm năm tám nghìn tám trăm ba tám đồng) tiền án phí dân sự sơ thẩm có giá ngạch xung công quỹ nhà nước. Anh H phải chịu 11.226.150 đồng (Mười một triệu hai trăm hai mươi sáu ngàn một trăm năm mười đồng) tiền án phí dân sự sơ thẩm có giá ngạch xung công quỹ nhà nước.
  2. Về nghĩa vụ chậm thi hành án: Kể từ ngày các đương sự được thi hành án có đơn yêu cầu thi hành án, nếu bên phải thi hành án chậm thanh toán số tiền phải thi hành thì còn phải trả lãi đối với số tiền chậm trả tương ứng với thời gian chậm trả. Lãi suất phát sinh do chậm trả tiền được xác định theo thỏa thuận của các bên nhưng không được vượt quá mức lãi suất được quy định tại khoản 1, nếu không có thỏa thuận thì thực hiện theo quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật dân sự năm 2015.
  3. Về quyền kháng cáo: Án xử công khai sơ thẩm, có mặt anh C, anh T, chị H1, chị H2, chị H3, anh P, bà T1, anh H. Vắng mặt chị T2 và bà H4, chị T3, anh T4.

Báo cho các đương sự có mặt biết được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án. Các đương sự vắng mặt được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được hoặc niêm yết bản án.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6,7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • -TAND tỉnh Thái Nguyên;
  • - VKSND h Phú Bình;
  • - Chi cục THADS h. Phú Bình;
  • - Phòng tư pháp huyện Phú Bình;
  • - Các ĐS;
  • - Lưu.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ

Đoàn Thị Minh Huệ

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 14/DS-ST ngày 24/05/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHÚ BÌNH TỈNH THÁI NGUYÊN về tranh chấp chia di sản thừa kế

  • Số bản án: 14/DS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp chia di sản thừa kế
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 24/05/2024
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHÚ BÌNH TỈNH THÁI NGUYÊN
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Tranh chấp đất đai
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger