|
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐOAN HÙNG TỈNH PHÚ THỌ Bản án số 14/2024/HS-ST Ngày 24/5/2024 |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐOAN HÙNG, TỈNH PHÚ THỌ
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Tạ Hồng Tuấn
Các hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Ngọc Quang và ông Nguyễn Hữu Mùi
Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Mai Lan - Thư ký Toà án nhân dân huyện Đoan Hùng, tỉnh Phú Thọ.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đoan Hùng tham gia phiên toà: Bà Nguyễn Phương Linh - Kiểm sát viên.
Ngày 24 tháng 5 năm 2024, tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Đoan Hùng, tỉnh Phú Thọ xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số 13/2024/TLST-HS, ngày 25 tháng 4 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 14/2024/QĐXXST-HS ngày 10 tháng 5 năm 2024 đối với các bị cáo;
1. Họ và tên: Hoàng Văn T - Sinh ngày 12 tháng 01 năm 1965 tại huyện Đ, tỉnh Phú Thọ
Tên gọi khác: Không
Nơi cư trú: Khu F, xã B, huyện Đ, tỉnh Phú Thọ
Nghề nghiệp: Lao động tự do. Trình độ học vấn; lớp 7/10
Dân tộc; Kinh. Giới tính; N. Tôn giáo; không. Quốc tịch; Việt Nam
Con ông Hoàng Văn T1 và bà Vũ Thị L (đều đã chết)
Có vợ là Tạ Thị D. Có 05 con; lớn sinh năm 1988, nhỏ sinh 2003
Tiền án: Không
Tiền sự: Quyết định số 170/QĐ-XPHC ngày 09/7/2023, Công an huyện Đ, tỉnh Phú Thọ xử phạt vi phạm hành chính về hành vi “Hủy hoại tài sản của tổ chức”, hình thức phạt tiền 4.000.000.đ. Chưa nộp phạt.
Bị cáo không bị tạm giữ, tạm giam; bị áp dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú từ ngày 08/12/2023 đến ngày 08/02/2024. Hiện đang tại ngoại tại nơi cư trú (có mặt tại phiên tòa).
2. Họ và tên: Tạ Thị D - Sinh ngày 20 tháng 10 năm 1967 tại huyện Đ, tỉnh Phú Thọ
Tên gọi khác: Không
Nơi cư trú: Khu F, xã B, huyện Đ, tỉnh Phú Thọ
Nghề nghiệp: Lao động tự do. Trình độ học vấn; lớp 7/10
Dân tộc; Kinh. Giới tính; Nữ. Tôn giáo; không. Quốc tịch; Việt Nam
Con ông Tạ Văn C và bà Đỗ Thị T2 (đều đã chết)
Có chồng là Hoàng Văn T. Có 05 con; lớn sinh năm 1988, nhỏ sinh 2003
Tiền án: Không
Tiền sự: Quyết định số 171/QĐ-XPHC ngày 09/7/2023, Công an huyện Đ, tỉnh Phú Thọ xử phạt vi phạm hành chính về hành vi “Hủy hoại tài sản của tổ chức”. Hình thức phạt tiền 4.000.000.đ. Chưa nộp phạt.
Bị cáo không bị tạm giữ, tạm giam; bị áp dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú từ ngày 08/12/2023 đến ngày 08/02/2024. Hiện đang tại ngoại tại nơi cư trú (có mặt tại phiên tòa).
* Người bị hại: Công ty L2 do ông Lê Anh T3 - Giám đốc đại diện (có mặt).
Địa chỉ trụ sở: Khu P, xã T, huyện Đ, tỉnh Phú Thọ
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Công ty L2 có địa chỉ tại xã T, huyện Đ, tỉnh Phú Thọ được UBND tỉnh P giao sử dụng lô đất diện tích 3,9 ha, nay là lô số DH54 khoảnh 30 thuộc khu F, xã B, huyện Đ theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất (GCNQSDĐ) số TC00001 ngày 31/3/1998. Công ty đã tiến hành trồng rừng qua nhiều chu kỳ cây từ năm 1998 trên phần diện tích đất trên. Năm 2019, Công ty tiến hành khai thác cây keo và trồng mới cây con trên diện tích đất đã khai thác. Lợi dụng việc Công ty để chừa diện tích đất chân ven rừng nên ông Hoàng Văn T ở khu F, xã B, huyện Đ đã lên nhổ cây của Công ty và trồng lên đó cây keo hạt trên diện tích đất là 17.521,0 m² (loại khác với chủng loại cây mà Công ty đã trồng). Khi phát hiện ông T có trồng cây xâm lấn vào lô đất trên, Công ty L2 đã khởi kiện tại Tòa án nhân dân huyện Đoan Hùng. Tại Bản án số 07/2020/DS-ST ngày 28/8/2020, Tòa án nhân dân huyện Đoan Hùng đã quyết định buộc ông Hoàng Văn T phải trả lại diện tích đất 17.521,2 m² ở lô 20 (nay là lô DH54), khoảnh 30 cho Công ty L2. Ngày 04/8/2022, Chi cục Thi hành án dân sự huyện Đoan Hùng đã tổ chức cưỡng chế giao tài sản (thửa đất trên) cho Công ty L2 theo quy định.
Ngày 01/01/2023, Công ty L2 ký kết Hợp đồng khoán trồng, chăm sóc và bảo vệ rừng dự án năm 2023 đối với lô DH54, khoảnh 30 với ông Vũ Văn L1 ở khu F, xã B, huyện Đ, nội dung ông L1 sẽ thực hiện các công việc từ khâu trồng, chăm sóc và bảo vệ rừng cho đến khi khai thác. Ngày 02/08/2023, ông L1 được Công ty L2 giao cho 2.200 cây keo giống loại keo tai tượng, nhân giống năm 2023 để tiến hành trồng rừng.
Vào khoảng 07 giờ 30 phút ngày 03/08/2023, ông Vũ Văn L1 cùng vợ là bà Bùi Thị N1 mang 550 cây keo được nhận bàn giao từ Công ty L2 và tiến hành trồng trên lô DH54, khoảnh 30. Đến khoảng 09 giờ cùng ngày, ông L1 và bà N1 đang trồng được vài trăm cây keo giống trên diện tích đất trên. Lúc này, Tạ Thị D ở khu F, Bằng Doãn mang theo 01 bao tải xác rắn, 01 con dao dạng dao bài dài khoảng 45-50 cm đi đến khu vực ông L1 và bà N1 đang trồng cây. Tạ Thị D cho rằng ông L1, bà N1 trồng cây trên phần đất đang có tranh chấp với Công ty L2 nên đã tự ý dùng tay nhổ các cây keo lên khỏi hố trồng, đồng thời dùng dao chặt các cây keo giống. Sau đó, Hoàng Văn T là chồng Tạ Thị D và Hoàng Thị V, sinh năm 1988 (là con gái của D và T) lần lượt đi đến, thấy D đang nhổ cây, V và T cũng nhổ các cây keo lên khỏi mặt đất, V dùng tay nhổ còn T vừa dùng tay nhổ, vừa dùng một đoạn gỗ mang theo vụt vào các cây keo giống. Thấy D, T và V nhổ cây, ông L1 đã gọi điện báo cho cán bộ Công ty L2 biết, còn bà N1 dùng điện thoại di động quay lại sự việc. Một lúc sau cán bộ Công ty L2 đi đến thì D, T và V không nhổ, chặt, phá cây nữa mà bỏ về. Đại diện Công ty L2 đã trình báo vụ việc đến Cơ quan Công an và giao nộp các đoạn clip ghi lại sự việc trên. Cơ quan điều tra đã tiến hành kiểm đếm và xác định số cây keo bị thiệt hại là 320 cây gồm: 230 cây keo còn đầy đủ thân, gốc, rễ, ngọn; 90 cây keo có phần thân, gốc rễ, không có phần ngọn; 90 đoạn ngọn keo. Sau khi thu giữ, Cơ quan điều tra đã tiến hành làm việc với Trung tâm T4 xác định khả năng sinh trưởng của các cây bị nhổ, chặt, phá xác định: Đối với 230 cây keo đã bị nhổ khỏi mặt đất, tách khỏi bầu cây sẽ bị chết không có khả năng sinh trưởng và phát triển; đối với 90 cây bị chặt ngang thân, do là cây keo non mới trồng nên không có khả năng phục hồi và sinh trưởng.
Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Đ đã yêu cầu Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện Đ định giá các tài sản bị thiệt hại. Tại Kết luận định giá tài sản số 45/KL-HĐĐGTS ngày 16/08/2023, Hội đồng định giá tài sản huyện Đ kết luận: “320 cây keo giống loại keo tai tượng có chiều dài mỗi cây trung bình từ 50-60 cm, nhân giống năm 2023, đã được trồng vào tháng 8/2023 tại thời điểm tháng 8/2023 có giá là 256.000 đồng (Hai trăm năm mươi sáu nghìn đồng)”.
Đối với con dao dạng dao bài và đoạn gậy gỗ mà D và T sử dụng để chặt phá, vụt vào cây keo, T và D khai đã vứt bỏ, không nhớ vị trí nào vì vậy Cơ quan điều tra không thu giữ được.
Trong giai đoạn điều tra, Tạ Thị D và Hoàng Văn T đã tự nguyện bồi thường toàn bộ thiệt hại theo thỏa thuận cho Công ty L2 số tiền 256.000.đ. Cơ quan điều tra cũng đã trả lại cho Công ty L2 230 cây keo đầy đủ thân, gốc, rễ, ngọn; 90 cây keo có phần thân, gốc rễ, không có phần ngọn và 90 đoạn ngọn keo, Công ty L2 không có ý kiến và yêu cầu nào khác.
Bản Cáo trạng số 14/CT-VKS.ĐH ngày 23/4/2024, Viện Kiểm sát nhân dân huyện Đoan Hùng, tỉnh Phú Thọ truy tố bị cáo Hoàng Văn T và bị cáo Tạ Thị D đều về tội “Hủy hoại tài sản” quy định tại điểm a khoản 1 Điều 178 của Bộ luật Hình sự. Tại phiên toà, Kiểm sát viên đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện Đoan Hùng đã trình bày luận tội, giữ nguyên quyết định truy tố như nội dung của bản Cáo trạng và đề nghị với Hội đồng xét xử như sau;
Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 178; điểm b, i, s khoản 1 Điều 51 và Điều 35 của Bộ luật hình sự: Phạt bị cáo Hoàng Văn T và bị cáo Tạ Thị D1 mỗi bị cáo từ 15.000.000.đ đến 20.000.000.đ để sung quỹ Nhà nước. Miễn phạt bổ sung cho các bị cáo; xác nhận việc các bị cáo đã bồi thường thiệt hại cho bị hại và xác nhận việc trả lại tài sản của Cơ quan Cảnh sát điều tra.
Sau khi nghe Kiểm sát viên trình bày luận tội, bị cáo Hoàng Văn T và bị cáo Tạ Thị D đều thừa nhận hành vi phạm tội của mình, không oan, các bị cáo không tự bào chữa, không tranh luận mà chỉ đề nghị được hình phạt nhẹ nhất.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1]. Tại phiên tòa, bị cáo Hoàng Văn T và bị cáo Tạ Thị D đều thừa nhận hành vi phạm tội của mình đúng như Cáo trạng của Viện Kiểm sát đã truy tố mà không có lời bào chữa nào khác, các tài liệu chứng cứ của vụ án đủ cơ sở để xác định hành vi phạm tội của các bịc áo như sau: Vợ chồng ông Vũ Văn L1, bà Bùi Thị N1 là người được Công ty L2 kí Hợp đồng khoán trồng cây cho Công ty trên lô DH54, khoảnh 30 thuộc khu F, xã B, huyện Đ. Vào sáng ngày 03/8/2023, vợ chồng ông L1 mang cây keo được nhận bàn giao từ Công ty L2 tiến hành trồng trên lô DH54, khoảnh 30 thuộc khu F, xã B, huyện Đ thì lần lượt Tạ Thị D, Hoàng Văn T và Hoàng Thị V (V là con gái của D và T) đi đến dùng tay nhổ các cây keo lên khỏi hố trồng, rồi dùng dao, gậy chặt vụt các cây keo giống. Tổng số cây keo đã bị D, T, V nhổ, chặt là 320 cây đều thuộc sở hữu và được trồng trên diện tích đất thuộc quyền sử dụng hợp pháp của Công ty L2. Toàn bộ số cây keo này đã được cơ quan chuyên môn là Trung tâm T4 kiểm tra, thẩm định và xác định sau khi bị nhổ lên khỏi hố trồng và bị chặt đều không còn khả năng phục hồi, không thể sinh trưởng được. Theo Kết luận định giá tài sản thì tổng giá trị thiệt hại là 256.000.đ.
Ngoài lời khai nhận tại phiên tòa, thì hành vi phạm tội của các bị cáo còn được chứng minh bằng các tài liệu chứng cứ khác gồm: Biên bản khám nghiệm và bản ảnh hiện trường ngay sau khi sự việc xảy ra; các hình ảnh video ghi lại hành vi nhổ và chặt phá cây của các bị cáo; vật chứng đã thu giữ là số cây keo bị nhổ, chặt; bản Kết luận định giá tài sản cùng với lời khai của các bị cáo tại Cơ quan điều tra, lời khai người đại diện bị hại, lời khai người làm chứng và các tài liệu, chứng cứ khác mà Cơ quan điều tra đã thu thập có lưu trong hồ sơ vụ án. Các tài liệu chứng cứ, vật chứng đều hoàn toàn phù hợp với nhau; phù hợp với thời gian, địa điểm thực hiện hành vi phạm tội; phù hợp với các tình tiết sự kiện khác của vụ án và đều được thu thập, kiểm tra đánh giá đầy đủ, toàn diện khách quan đúng quy định của pháp luật.
Mặc dù giá trị tài sản mà các bị cáo gây thiệt hại chỉ là 256.000.đ, nhưng vì trước đó vào ngày 16/4/2023, bị cáo D và bị cáo T đã có hành vi hủy hoại hơn 1.000 cây keo giống trị giá 1.161.600.đ cũng của Công ty L2 và đã bị Công an huyện Đ Quyết định xử phạt vi phạm hành chính về hành vi “Hủy hoại tài sản của tổ chức” nhưng các bị cáo vẫn không chấp hành mà lại tiếp tục thực hiện hành vi hủy hoại tài sản do vậy phải chịu trách nhiệm hình sự về tội “Hủy hoại tài sản” quy định tại điểm a khoản 1 Điều 178 của Bộ luật Hình sự là hoàn toàn đúng pháp luật. Điều luật quy định:
“1. Người nào hủy hoại hoặc cố ý làm hư hỏng tài sản của người khác trị giá từ 2.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng hoặc dưới 2.000.000 đồng nhưng thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 50.000.000 đồng, phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm:
a) Đã bị xử phạt vi phạm hành chính về một trong các hành vi quy định tại Điều này mà còn vi phạm”.
[2]. Mặc dù tội phạm mà các bị cáo đã thực hiện thuộc trường hợp ít nghiêm trọng nhưng đã trực tiếp xâm phạm và gây thiệt hại đến tài sản hợp pháp của tổ chức được pháp luật bảo vệ, gây mất an ninh trật tự xã hội. Các bị cáo đều biết rõ những cây keo giống mà các bị cáo đã nhổ chặt thuộc sở hữu và được trồng trên diện tích đất thuộc quyền sử dụng hợp pháp của Công ty L2 nhưng vẫn cố ý xâm hại. Các bị cáo cũng có đủ khả năng nhận thức hành vi hủy hoại tài sản của người khác là trái pháp luật nhưng vẫn thực hiện hành vi phạm tội với lỗi cố ý vì vậy cần phải áp dụng hình phạt tương xứng để giáo dục bị cáo.
[3]. Về nhân thân và các tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng trách nhiệm hình sự của bị cáo, Hội đồng xét xử thấy rằng: Đây là lần đầu các bị cáo phạm tội và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; quá trình điều tra và tại phiên tòa đã thành khẩn và thực sự hối hận về hành vi phạm tội của mình; tự nguyện bồi thường toàn bộ thiệt hại đã gây ra vì vậy các bị cáo đều được áp dụng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm b, i, s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự mà không phải chịu tình tiết tăng nặng nào.
Do các bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ, thiệt hại gây ra không lớn vì vậy để thể hiện sự nhân văn của pháp luật nên chỉ cần áp dụng hình phạt chính là phạt tiền theo quy định tại Điều 35 của Bộ luật Hình sự cũng đủ tác dụng răn đe, giáo dục các bị cáo sửa chữa lỗi lầm để trở thành những công dân luôn biết tôn trọng và chấp hành pháp luật.
[4]. Đối với Hoàng Thị V có hành vi tham gia hủy hoại tài sản cùng bị cáo D và T nhưng vì giá trị tài sản dưới 2.000.000.đ, nhân thân không có tiền án, tiền sự về hành vi hủy hoại hoặc cố ý làm hư hỏng tài sản nên Công an huyện Đ đã Quyết định xử phạt hành chính đối với V là đúng pháp luật vì vậy không đề cập xử lí trong vụ án này.
[5]. Về hình phạt bổ sung: Ngoài hình phạt chính thì tại khoản 5 Điều 178 của Bộ luật Hình sự, các bị cáo còn có thể bị phạt một khoản tiền để sung quỹ Nhà nước, bị cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định nhưng do đã áp hình phạt chính là phạt tiền, các bị cáo là lao động tự do, không có nghề nghiệp nên không áp dụng hình phạt bổ sung là phù hợp.
[6]. Về vật chứng của vụ án và trách nhiệm dân sự:
- Đối với 320 cây keo mà các bị cáo hủy hoại có trị giá là 256.000.đ đã được các bị cáo bồi thường đầy đủ toàn bộ theo thỏa thuận. Đại diện bị hại là Công ty L2 không yêu cầu phải bồi thường thêm thiệt hại nào khác vì vậy Hội đồng xét xử không đặt cấp giải quyết.
- Trong giai đoạn điều tra, Cơ quan điều tra đã trả lại cho Công ty L2 230 cây keo tai tượng đang khô héo; 90 cây keo tai tượng có phần thân gốc rễ, không có phần ngọn đang khô héo; 90 đoạn ngọn cây keo tai tượng đang khô héo. Các bị cáo không có ý kiến gì về việc trả lại số cây keo này vì vậy việc trả lại tài sản được xác nhận.
[7]. Về án phí: Bị cáo Hoàng Văn T và bị cáo Tạ Thị D đều phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
[8]. Tại phiên tòa, Kiểm sát viên đã trình bày luận tội đối với bị cáo, đề nghị Hội đồng xét xử kết tội bị cáo như Cáo trạng đã truy tố, đề nghị mức hình phạt đối với bị cáo, đề xuất về xử lý vật chứng. Xét đề nghị của Kiểm sát viên là có căn cứ, phù hợp với quy định của pháp luật nên được Hội đồng xét xử chấp nhận.
[9]. Căn cứ vào vào diễn biến và kết quả tranh tụng tại phiên tòa cùng các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án có đủ cở sở để kết luận: Trong quá trình điều tra, truy tố, các quyết định và hành vi tố tụng của Cơ quan điều tra, Điều tra viên; của Viện Kiểm sát, Kiểm sát viên đều thực hiện đúng quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Các tài liệu chứng cứ đã thu thập trong quá trình điều tra đều hợp pháp, phản ánh đúng sự thật khách quan của vụ án, phù hợp với diễn biến tại phiên tòa và có đủ căn cứ để chứng minh hành vi phạm tội của bị cáo.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 178; điểm b, i, s khoản 1 Điều 51 và Điều 35 của Bộ luật Hình sự:
+ Xử phạt bị cáo Hoàng Văn T 15.000.000.đ (mười lăm triệu đồng) về tội “Hủy hoại tài sản” để nộp ngân sách Nhà nước;
+ Xử phạt bị cáo Tạ Thị D 15.000.000.đ (mười lăm triệu đồng) về tội “Hủy hoại tài sản” để nộp ngân sách Nhà nước.
- Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 46; khoản 1 Điều 48 của Bộ luật Hình sự; khoản 1 và khoản 3 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự:
+ Xác nhận bị cáo Hoàng Văn T và bị cáo Tạ Thị D đã bồi thường theo thỏa thuận cho bị hại là Công ty L2 số tiền 256.000.đ (hai trăm năm mươi sáu nghìn đồng) theo biên bản thỏa thuận ngày 21/3/2024 có lưu trong hồ sơ vụ án;
+ Xác nhận Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Đ đã trả lại cho Công ty L2 230 cây keo tai tượng có có chiều cao từ 50cm đến 60cm, đầy đủ thân, gốc, rễ đang khô héo; 90 cây keo tai tượng có phần thân, gốc, rễ, không có phần ngọn, chiều cao từ 20 cm đến 30cm đang khô héo và 90 đoạn ngọn cây keo tai tượng chiều dài từ 20cm đến 30cm đang khô héo (Biên bản về việc trả lại tài sản, đồ vật, tài liệu ngày 22/8/2023 có lưu trong hồ sơ vụ án).
- Căn cứ khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm a, khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12//2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội khóa 14: Bị cáo Hoàng Văn T và bị cáo Tạ Thị D mỗi bị cáo phải nộp 200.000.đ (hai trăm nghìn đồng) tiền án phí hình sự sơ thẩm.
Các bị cáo và đại diện người bị hại có mặt được quyền kháng cáo Bản án sơ thẩm trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án./.
|
Nơi nhận:
|
T/M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà (Đã ký) Tạ Hồng Tuấn |
Bản án số 14/2024/HS-ST ngày 24/05/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐOAN HÙNG, TỈNH PHÚ THỌ về hình sự
- Số bản án: 14/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Hình sự
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 24/05/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐOAN HÙNG, TỈNH PHÚ THỌ
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: + Xử phạt bị cáo Hoàng Văn T 15.000.000.đ (mười lăm triệu đồng) về tội “Hủy hoại tài sản” để nộp ngân sách Nhà nước; + Xử phạt bị cáo Tạ Thị D 15.000.000.đ (mười lăm triệu đồng) về tội “Hủy hoại tài sản” để nộp ngân sách Nhà nước.
