Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN PHONG ĐIỀN

TỈNH THỪA THIÊN HUẾ

Bản án số: 14/2024/DS-ST

Ngày: 24-4-2024

V/v tranh chấp về thừa kế tài sản

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHONG ĐIỀN, TỈNH THỪA THIÊN HUẾ

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

  • Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Trần Văn Trường.
  • Các Hội thẩm nhân dân:
    1. Ông Lê Đình Hòa.
    2. Bà Lê Thị Na.
  • Thư ký phiên tòa: Ông Trần Văn Chiến - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Phong Điền, tỉnh Thừa Thiên Huế.
  • Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Phong Điền, tỉnh Thừa Thiên Huế tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Phương - Kiểm sát viên.

Trong các ngày 28 tháng 3 và 24 tháng 4 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Phong Điền, tỉnh Thừa Thiên Huế xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 15/2022/TLST-DS ngày 23 tháng 5 năm 2022 về việc “Tranh chấp về thừa kế tài sản” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 01/2024/QĐXXST-DS ngày 31 tháng 01 năm 2024, Quyết định hoãn phiên tòa số: 03/QĐST-DS ngày 29 tháng 02 năm 2024, Quyết định tạm ngừng phiên tòa số: 599/2024/QĐST-DS ngày 28 tháng 3 năm 2024 và Thông báo ấn định thời gian, địa điểm tiếp tục phiên tòa số: 739/TB-TA ngày 12 tháng 4 năm 2024 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn:

  1. Ông Nguyễn Công B, sinh năm 1963; địa chỉ: Ấp C, xã X, huyện C, tỉnh Đồng Nai; vắng mặt.
  2. Bà Nguyễn Thị T, sinh năm 1972; địa chỉ: Thôn T, xã P, thành phố H, tỉnh Thừa Thiên Huế; vắng mặt.

Người đại diện hợp pháp của nguyên đơn: Bà Lê Thị H, sinh năm 1998; địa chỉ: Tổ dân phố T, phường M, thị xã N, tỉnh Thanh Hóa; địa chỉ liên lạc: Số B L, thành phố H, tỉnh Thừa Thiên Huế (Hợp đồng ủy quyền các ngày 30/8/2023 và 07/9/2023); có mặt.

Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của nguyên đơn: Ông Võ Công H1 - Luật sư của Công ty L thuộc Đoàn Luật sư tỉnh T; địa chỉ: Số B L, thành phố H, tỉnh Thừa Thiên Huế; có mặt.

Bị đơn: Ông Nguyễn Công G, sinh năm 1969; địa chỉ: Thôn B, xã Đ, huyện P, tỉnh Thừa Thiên Huế; vắng mặt.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án: Bà Nguyễn Thị T1, sinh năm 1983; địa chỉ: Thôn B, xã Đ, huyện P, tỉnh Thừa Thiên Huế; có mặt ngày 28/3/20224, vắng mặt ngày 24/4/2024.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo Đơn khởi kiện đề ngày 16/5/2022 và quá trình tố tụng, nguyên đơn là ông Nguyễn Công B, bà Nguyễn Thị T và người đại diện hợp pháp của nguyên đơn trình bày:

Cha, mẹ đẻ của nguyên đơn là cụ Nguyễn Công T2 (sinh năm 1931, chết ngày 02/9/2014) và cụ Hoàng Thị O (sinh năm 1933, chết ngày 17/02/2022) có 03 người con gồm ông Nguyễn Công B, ông Nguyễn Công G và bà Nguyễn Thị Trà. Khi còn sống, cụ T2 và cụ O tạo lập được thửa đất số 131, tờ bản đồ số 02 - Đ, địa chỉ tại Thôn B, xã Đ, huyện P, tỉnh Thừa Thiên Huế, diện tích 738 m², mục đích sử dụng đất ở, được Ủy ban nhân dân huyện P cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất ngày 12/12/2006 số hiệu AE 115191 (sau đây gọi tắt là Giấy chứng nhận) và ngôi nhà trên đất.

Trước khi chết, cụ T2 và cụ O không để lại di chúc. Hàng thừa kế thứ nhất của cụ T2, cụ O có 03 người gồm nguyên đơn và ông G là con đẻ đang còn sống vào thời điểm mở thừa kế. Cha, mẹ của cụ T2 là cụ Nguyễn Công C (sinh năm 1909, chết năm 1953) và cụ Cao Thị T3 (sinh năm 1909, chết năm 1996); cha, mẹ cua cụ O là cụ Hoàng Đức H2 (sinh năm 1899, chết năm 1969) và cụ Trương Thị T4 (sinh năm 1901, chết năm 1963) đều chết trước thời điểm mở thừa kế.

Sau khi cha, mẹ của nguyên đơn chết, những người thừa kế không thống nhất được việc phân chia di sản nên nguyên đơn khởi kiện yêu cầu chia di sản thừa kế là quyền sử dụng thửa đất. Trên cơ sở kết quả xem xét, thẩm định tại chỗ, Bản trích đo địa chính thửa đất có số thửa 06, tờ bản đồ số 18 - xã Đ, diện tích 690,8 m². Mục đích của nguyên đơn là chia thừa kế, không phải để chuyển nhượng nên giá trị di sản là thửa đất yêu cầu phân chia căn cứ theo giá Nhà nước là 330.000 đồng/m2 x 690,8 m² = 284.955.000 đồng.

Yêu cầu chia di sản là thửa đất thành 03 phần bằng nhau, mỗi phần 230,26 m² cho 03 người thừa kế được hưởng. Nguyên đơn không yêu cầu chia di sản là ngôi nhà và quán cắt tóc vị trí 4 mà để cho ông G được hưởng. Các tài sản khác trên đất đều là di sản của cụ T2 và cụ O nên phần đất chia cho người nào thì người đó được hưởng. Nguyên đơn có nguyện vọng được nhận hiện vật là quyền sử dụng đất. Trong trường hợp không thể phân chia hiện vật thành 03 phần được thì đề nghị chia thành 02 phần, giao cho ông G 01 phần và giao cho ông B 01 phần; buộc hoàn trả giá trị bằng tiền cho bà T.

Tại Bản tự khai ngày 24/6/2022 và quá trình tố tụng, bị đơn là ông Nguyễn Công G trình bày:

Thửa đất số 131, tờ bản đồ số 02 - Đ và ngôi nhà tọa lạc trên đất tại Thôn B, xã Đ, huyện P, tỉnh Thừa Thiên Huế nguồn gốc do cha, mẹ đẻ của ông là cụ Nguyễn Công T2 và cụ Hoàng Thị O tạo lập. Ngôi nhà là nơi ở và nơi thờ tự. Ông và vợ là Nguyễn Thị T1 ở cùng cha, mẹ tại nhà, đất trên. Ông thống nhất về thời điểm mở thừa kế và hàng thừa kế như nguyên đơn trình bày. Cha, mẹ của ông chết không để lại di chúc.

Ông thừa nhận nhà, đất trên là di sản của cha, mẹ để lại. Ông đề nghị không phân chia phần di sản là ngôi nhà và diện tích đất gắn với nhà. Phần di sản còn lại chia đều cho những người thừa kế nhưng phải giải quyết phần công sức của vợ, chồng ông và thanh toán chi phí đầu tư xây dựng trên đất là quán cà phê lợp tôn, bể cá, vườn cau trồng trên đất và quyết chi phí đi lại tham gia tố tụng cho vợ chồng và con của ông.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án là bà Nguyễn Thị T1 đã được triệu tập tham gia tố tụng nhưng không đưa ra ý kiến, yêu cầu gì.

Ngày 10/8/2022, Tòa án tiến hành xem xét, thẩm định tại chỗ và đề nghị Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai huyện P đo đạc, lập bản vẽ hiện trang thửa đất, kết quả như sau:

  • Thửa đất số 131, tờ bản đồ số 02 - xã Đ, địa chỉ tại Thôn B, xã Đ, huyện P, tỉnh Thừa Thiên Huế.
  • Tài sản gắn liền với đất gồm có:
    • + Nhà ở gồm nhà chính (nhà trên) kết cấu khung móng bê tông cốt thép (BTCT), tường xây, mái lợp ngói, xà gồ gỗ; nhà phụ (nhà dưới) kết cấu khung móng BTCT, tường xây, mái lợp tôn lạnh, xà gồ thép.
    • + Tiệm cắt tóc (phía trước nhà chính) kết cấu khung móng BTCT, nền gạch ceramic, tường xây, mái lợp tôn fibroximang, xà gồ thép.
    • + Mái che 1 kết cấu khung cột thép, mái lợp tôn lạnh, nền bê tông xi măng. Mái che 2 kết cấu khung cột thép, mái lợp tôn lạnh, nền lát gạch ceramic. Mái che 3, kết cấu khung cột thép, mái lợp tôn lạnh, nền lát gạch Terazo. Mái che 4 kết cấu khung cột thép, mái lợp tôn lạnh, nền bê tông xi măng. Mái che 5 kết cấu khung cột thép, mái chưa lợp, nền bê tông xi măng.
    • + Sân gạch thẻ, sân lát terazo, sân bê tông xi măng; tường rào xây gạch, tường rào thép B40, cổng thép hộp, trụ cổng xây gạch.
    • + Bể cá xây bằng đá cuội, bể cá thành xây gạch.
    • + Cây lâu năm gồm: Cây khế, cây cau, cây cảnh, cây xoài, cây vú sữa, cây gội, cây mãng cầu.

Theo Bản trích đo địa chính thửa đất ký ngày 04/4/2023 của Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai huyện P thửa đất số 06, tờ bản đồ số 18 - xã Đ, diện tích 690,8 m².

Tại Công văn số: 5112/VP-UBND ngày 03/11/2023 của Ủy ban nhân dân huyện P cung cấp thông tin về các quy hoạch sử dụng đất và hạn mức cấp đất ở đối với thửa đất đang có tranh chấp như sau:

Theo quy hoạch chung đô thị P1 đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045 đã được Ủy ban nhân dân tỉnh T phê duyệt tại Quyết định số 355/QĐ-UBND ngày 27/01/2022; Quy hoạch sử dụng đất giai đoạn 2021-2039, tầm nhìn đến năm 2050 huyện P đã được Ủy ban nhân dân tỉnh T phê duyệt tại Quyết định số 1000/QĐ-UBND ngày 05/01/2023; Quy hoạch xây dựng nông thôn mới xã Đ, huyện P, tỉnh Thừa Thiên Huế đến năm 2030 (gắn với định hướng phát triển đô thị) được Ủy ban nhân dân huyện P phê duyệt tại Quyết định số 3287/QĐ-UBND ngày 22/6/2016; thì thửa đất đang có tranh chấp được quy hoạch vào mục đích sử dụng đất ở.

Thửa đất số 131, tờ bản đồ số 02, tọa lạc tại Thôn B, xã Đ, huyện P, tỉnh Thừa Thiên Huế được Ủy ban nhân dân huyện P cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số AE 115191 ngày 12/12/2006 cho ông Nguyễn Công T2 và bà Hồ Thị O1, mục đích sử dụng đất ở: 738,0 m². Sau khi kiểm tra hồ sơ hiện đang lưu giữ thì thửa đất nêu trên không có một trong các loại giấy tờ về quyền sử dụng đất quy định tại khoản 1, 2 và 5 Điều 50 của Luật Đất đai năm 2003 nên căn cứ khoản 1 Điều 6 Quy định hạn mức giao đất ở, hạn mức công nhận đất đối với trường hợp thửa đất ở có vườn, ao cho hộ gia đình, cá nhân trên địa bàn tỉnh Thừa Thiên Huế ban hành kèm theo Quyết định số 3226/2005/QĐ-UBND ngày 20/10/2005 của Ủy ban nhân dân tỉnh T để xác định hạn mức diện tích đất ở cho hộ gia đình, cá nhân; áp dụng tại thời điểm cấp giấy là 400 m².

Tại Kết luận định giá tài sản đang tranh chấp ngày 25/4/2023, giá trị các tài sản như sau:

  • Thửa số 06, tờ bản đồ số 18 - xã Đ, diện tích theo đo đạc thực tế 690,8 m², đất ở giá thị trường 3.000.000 đồng/m2, giá theo bảng giá nhà nước 330.000 đồng/m².
  • Nhà chính (nhà trên) kết cấu khung móng bê tông cốt thép (BTCT), tường xây, mái lợp ngói, xà gồ gỗ, diện tích 49,5 m², giá 218.730.093 đồng.
  • Nhà phụ (nhà dưới), kết cấu khung móng BTCT, tường xây, mái lợp tôn lạnh, xà gồ thép, diện tích 81,84 m², giá 301.868.804 đồng.
  • Tiệm cắt tóc (phía trước nhà chính) kết cấu khung móng BTCT, nền gạch ceramic, tường xây, mái lợp tôn fibroximang, xà gồ thép, diện tích 20,6 m², giá 75.983.594 đồng.
  • Mái che 1, kết cấu khung cột thép, mái lợp tôn lạnh, nền bê tông xi măng, diện tích 25,52 m², giá 23.319.208 đồng. Mái che 2, kết cấu khung cột thép, mái lợp tôn lạnh, nền lát gạch ceramic diện tích 75,42 m², giá 68.915.936 đồng. Mái che 3, kết cấu khung cột thép, mái lợp tôn lạnh, nền lát gạch Terazo; diện tích 30 m², giá 27.412.862 đồng. Mái che 4, kết cấu khung cột thép, mái lợp tôn lạnh, nền bê tông xi măng, diện tích 30,04 m², giá 27.449.413 đồng. Mái che 5, kết cấu khung cột thép, mái chưa lợp, nền bê tông xi măng, diện tích 67,2 m², giá 61.404.812 đồng.
  • Sân nền gạch thẻ, diện tích 67,2 m², giá 15.080.422 đồng; sân nền lát terazo diện tích 26,52 m², giá 11.146.509 đồng; sân bê tông xi măng, diện tích 102,93 m², giá 42.581.214 đồng.
  • Bể cá xây bằng đá cuội, thể tích 3,36 m³, giá 5.595.125 đồng; bể cá thành gây gạch, thể tích 1,05 m³, giá 1.605.159 đồng.
  • Tường rào xây gạch, diện tích 17,3 m², giá 16.987.792 đồng; tường rào thép B40, diện tích 53,28 m², giá 726.645 đồng; cổng thép hộp, diện tích 13,4 m², giá 11.280.808 đồng; trụ cổng xây gạch, thể tích 1,05 m³, giá 3.044.985 đồng.
  • Cây lâu năm gồm: Cây khế đường kính trên 35 cm: 01 cây, giá 140.590 đồng; cây khế đường kính từ 15-20 cm: 02 cây, giá 225.800 đồng; cây cau cao từ 01-03 m: 32 cây, giá 2.351.680 đồng; cây cau cao từ 03-06 m: 17 cây, giá 2.227.170 đồng; 90 cây cau cao từ 08-10 m, giá 16.104.600 đồng; 01 cây cảnh đường kính từ 07-10 cm, giá 56.940 đồng; 01 cây xoài đường kính từ 10-20 cm: 01 cây, giá 288.640 đồng; 05 cây vú sữa đường kính từ 10-20 cm, giá 1.501.800 đồng; 01 cây vú sữa đường kính trên 35 cm, giá 374.920 đồng; 01 cây gội đường kính từ 20-25 cm, giá 40.910 đồng; 01 cây mãng cầu đường kính từ 05-07 cm, giá 38.340 đồng; 01 cây mãng cầu đường kính từ 20-35 cm, giá 103.310 đồng.

Theo Biên bản định giá tài sản (định giá lại) ngày 11/01/2024, giá trị tài sản như sau:

  • Diện tích đất ngoài hạn mức công nhận đất ở của thửa số 06, tờ bản đồ số 18 - xã Đ có giá đất nông nghiệp 36.000 đồng/m².
  • Nền gạch thẻ, diện tích 48,84 m², giá 10.960.235 đồng.

Quá trình tố tụng, Toà án đã nhiều lần tiến hành phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hoà giải nhưng bị đơn và người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đến vụ án vắng mặt nên không thỏa thuận được việc giải quyết vụ án.

Ngày 12/9/2023, ông B có đơn đề nghị miễn nộp án phí với lý do người cao tuổi.

Tại phiên tòa ngày 28/3/2024, bà Nguyễn Thị T1 trình bày không có ý kiến, yêu cầu gì về công sức bảo quản, gìn giữ di sản.

Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của nguyên đơn trình bày: Cụ Nguyễn Công T2 và cụ Hoàng Thị O tạo lập được thửa đất số 131, tờ bản đồ số 02 - Đ, diện tích 738,0 m² đã được Ủy ban nhân dân huyện P cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số AE 115191 ngày 12/12/2006 (Theo Trích đo địa chính thửa đất lập ngày 03/4/2023 thửa số 6, tờ bản đồ số 18 - xã Đ, diện tích 690,8 m²) và ngôi nhà cấp 4 gắn liền với đất được thừa nhận là di sản. Các tài sản khác gắn liền với đất không ai đưa ra được chứng cứ chứng minh là tài sản riêng. Thời điểm mở thừa kế của cụ T2 lúc 09 giờ 00 phút ngày 02/9/2014 và của cụ O lúc 15 giờ 30 phút ngày 17/02/2022. Cụ T2 và cụ O không có con riêng, con nuôi; cha, mẹ của hai cụ đều đã chết trước. Hàng thừa kế có 03 người con chung là ông Nguyễn Công B, ông Nguyễn Công G và bà Nguyễn Thị Trà. Cụ T2 và cụ O chết không để lại di chúc. Theo quy định tại Điều 610 của Bộ luật Dân sự năm 2015 thì cá nhân bình đẳng về quyền hưởng di sản. Do đó, đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, chia thửa đất thành 03 phần bằng nhau cho 03 người được hưởng di sản; ngôi nhà trên đất và mái che vị trí 1, 2, 3 và 4 Bản Trích đo địa chính thửa đất để cho ông G hưởng, không phải hoàn trả tiền cho ông B và bà T; các tài sản khác gắn liền với đất chia cho ai thì người đó được hưởng.

Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát tham gia phiên tòa:

  • Về việc tuân theo pháp luật tố tụng: Quá trình giải quyết vụ án từ khi thụ lý, Thẩm phán thực hiện đúng quy định của pháp luật tố tụng dân sự. Tại phiên toà đến trước khi nghị án, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa thực hiện đúng quy định của pháp luật về tố tụng dân sự. Nguyên đơn chấp hành đúng quyền và nghĩa vụ. Bị đơn và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan nhiều lần vắng mặt, không chấp hành đúng quyền và nghĩa vụ theo quy định của pháp luật tố tụng dân sự.
  • Về việc giải quyết vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ các Điều 26, 35, 39, 147 và 227 của Bộ luật Tố tụng dân sự; áp dụng các Điều 609, 610, 611, 623, 649, 650 của Bộ luật Dân sự năm 2015 để chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, xác định thửa đất và tài sản trên đất là di sản của cụ Nguyễn Công T2 và Hoàng Thị O. Diện tích thửa đất sau khi trừ lộ giới đủ điều kiện tách thành 03 thửa có diện tích tối thiểu 100 m² nên đề nghị chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn, chia thửa đất thành 03 phần cho 03 người được hưởng. Tài sản gắn liền với phần đất chia cho người nào thì người đó được hưởng. Giá trị di sản là quyền sử dụng đất phải xác định theo giá thị trường nên ý kiến của nguyên đơn đề nghị xác định theo giá Nhà nước là không có cơ sở chấp nhận.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, trên cơ sở kết quả tranh tụng tại phiên toà, Toà án nhận định:

[1] Về tố tụng:

[1.1] Về thẩm quyền: Nguyên đơn khởi kiện yêu cầu chia thừa kế; tài sản tranh chấp là bất động sản có địa chỉ tại xã Đ, huyện P, tỉnh Thừa Thiên Huế; các đương sự đều là người Việt Nam đang có mặt tại Việt Nam. Căn cứ vào khoản 5 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm c khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự, Toà án nhân dân huyện Phong Điền thụ lý vụ án là đúng thẩm quyền.

[1.2] Về việc vắng mặt đương sự: Nguyên đơn là ông Nguyễn Công B và bà Nguyễn Thị T vắng mặt nhưng có người đại diện hợp pháp tham gia phiên tòa. Bị đơn là ông Nguyễn Công G được triệu tập hợp lệ nhưng vắng mặt không thuộc trường hợp bất khả kháng hoặc trở ngại khách quan. Căn cứ vào điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 2 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt theo thủ tục chung.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án là bà Nguyễn Thị T1 có mặt tại phiên tòa ngày 28/3/2024 nhưng vắng mặt tại phiên tòa ngày 24/4/2024 không có lý do. Căn cứ khoản 1 Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự xác định thời hạn kháng cáo của người vắng mặt theo quy định.

[2] Về thời điểm mở thừa kế: Các đương sự thống nhất cụ Nguyễn Công T2 chết ngày 02/9/2014, cụ Hoàng Thị O chết ngày 17/02/2022 phù hợp chứng cứ là Trích lục khai tử - đây là tình tiết không phải chứng minh theo Điều 92 của Bộ luật Tố tụng dân sự. Căn cứ vào khoản 1 Điều 611 của Bộ luật Dân sự năm 2015, xác định thời điểm mở thừa kế của cụ T2 là ngày 02/9/2014 và của cụ O là ngày 17/02/2022.

[3] Về hàng thừa kế: Các đương sự thống nhất cụ T2, cụ O không để lại di chúc. Hai cục có 03 người con đẻ còn sống vào thời điểm mở thừa kế là ông Nguyễn Công B, ông Nguyễn Công G và bà Nguyễn Thị T; không có con nuôi, con riêng. Cha, mẹ đẻ của cụ T2 và cụ O đều chết trước thời điểm mở thừa kế.

Căn cứ vào Điều 613 của Bộ luật Dân sự năm 2015, xác định hàng thừa kế thứ nhất của cụ T2 và cụ O gồm có ông B, ông G và bà T.

[4] Về thời hiệu thừa kế: Theo quy định khoản 1 Điều 623 của Bộ luật Dân sự năm 2015, thời hiệu để người thừa kế yêu cầu chia di sản là 30 năm đối với bất động sản. Do đó, nguyên đơn khởi kiện đảm bảo thời hiệu.

[5] Về di sản:

[5.1] Ông B, bà T và ông G khai thống nhất nguồn gốc thửa đất số 131, tờ bản đồ số 02 - Đ (nay là thửa 06, tờ bản đồ số 18 - xã Đ) và ngôi nhà ở trên đất tại thôn B, xã Đ, huyện P, tỉnh Thừa Thiên Huế là do cụ T2 và cụ O tạo lập.

[5.2] Theo kết quả xem xét, thẩm định tại chỗ và đo đạc, trên thửa đất còn có các tài sản gồm: 05 mái che ở các vị trí 1, 2, 7, 8, và 10; sân gạch thẻ; sân nền lát terazo; sân bê tông xi măng; 02 bể cá xây bằng đá cuội; 01 bể cá thành gây gạch; tường rào xây gạch và lưới thép B40; cổng thép hộp và trụ cổng xây gạch; cây lâu năm gồm 01 cây khế đường kính trên 35 cm, 02 cây khế đường kính từ 15-20 cm, 32 cây cau cao từ 01-03 m, 17 cây cau cao từ 03-06 m, 90 cây cau cao từ 08-10 m, 01 cây cảnh đường kính từ 07-10 cm, 01 cây xoài đường kính từ 10-20 cm, 05 cây vú sữa đường kính từ 10-20 cm, 01 cây vú sữa đường kính trên 35 cm, 01 cây gội đường kính từ 20-25 cm, 01 cây mãng cầu đường kính từ 05-07 cm và 01 cây mãng cầu đường kính từ 20-35 cm.

Quá trình tố tụng, ông G cho rằng đã bỏ chi phí đầu tư xây dựng quán cà phê bằng mái che ở các vị trí 7, 8 và 10, bể cá và trồng vườn cau nhưng bị đơn không thừa nhận. Trong trường hợp này, ông G đang là người quản lý về mặt thực tế các tài sản, đưa ra ý kiến nên có nghĩa vụ chứng minh nhưng không đưa ra được tài liệu, chứng cứ để chứng minh, không tham gia phiên tòa là đã từ bỏ quyền và nghĩa vụ chứng minh. Kết quả xác minh bổ sung của Tòa án không xác định được nguồn gốc, thời điểm hình thành tài sản. Người để lại di sản là cụ O mới chết vào tháng 02/2022.

Theo quy định tại Điều 612 của Bộ luật Dân sự năm 2015, kể từ thời điểm mở thừa kế của cụ T2, ½ khối tài sản thuộc di sản, ½ khối tài sản là của cụ O. Các đương sự đều thống nhất từ khi mở thừa kế của cụ T2 chưa có thỏa thuận về phân chia di sản; từ khi mở thừa kế của cụ O đến khi khởi kiện không phát sinh hàng thừa kế, diện thừa kế mới; những người thuộc hàng thừa kế thứ nhất đều không có thỏa thuận gì về phân chia di sản.

Do đó, di sản của cụ T2 và cụ O là thửa đất số 131, tờ bản đồ số 02 - Đ, nay là thửa 06, tờ bản đồ số 18 - xã Đ, diện tích 690,8 m² và toàn bộ tài sản trên đất.

Nguyên đơn tự nguyện không yêu cầu phân chia di sản là nhà ở (vị trí 3) và quán cắt tóc (vị trí 4) mà để lại cho ông G nên ghi nhận.

[5.3] Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cấp cho cụ T2 và cụ O ghi diện tích thửa đất 738 m², mục đích sử dụng đất ở nhưng kết quả xem xét, thẩm định tại chỗ cho thấy thửa đất là đất có vườn ao trong cùng thửa đất, diện tích nhà ở chỉ chiếm một phần diện tích đất. Tại Công văn số: 5112/UBND-VP ngày 03/11/2023 của Ủy ban nhân dân huyện P cho biết thửa đất không có một trong các loại giấy tờ về quyền sử dụng đất quy định tại khoản 1, 2 và 5 Điều 50 của Luật Đất đai năm 2003 nên căn cứ khoản 1 Điều 6 Quy định hạn mức giao đất ở, hạn mức công nhận đất ở đối với trường hợp thửa đất ở có vườn, ao cho hộ gia đình, cá nhân trên địa bàn tỉnh Thừa Thiên Huế (Ban hành kèm theo Quyết định số: 3226/2005/QĐ-UBND ngày 20/10/2005 của Ủy ban nhân dân tỉnh T) xác định thửa đất số 06, tờ bản đồ số 18 - xã Đ hạn mức thời điểm cấp giấy là 400 m² đất ở.

Việc Tòa án thu thập ý kiến của cơ quan quản lý Nhà nước về đất đai về xác định hạn mức công nhận đất ở là để thực hiện đúng quy định pháp luật về đất đai, bảo đảm quyền lợi của đương sự nhưng tại thời điểm giải quyết chia thừa kế chưa phát sinh trường hợp xác định lại hạn mức đất ở. Do đó, theo ý kiến của người đại diện hợp pháp và người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của nguyên đơn là loại đất theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, Tòa án căn cứ mục đích sử dụng đất theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất làm cơ sở giải quyết. Nếu sau này phát sinh trường hợp xác định lại hạn mức đất ở thì thực hiện theo quy định.

[6] Về giá trị của di sản:

[6.1] Người đại diện hợp pháp của nguyên đơn đề nghị xác định giá trị di sản là quyền sử dụng đất theo giá nhà nước là không phù hợp với nguyên tắc xác định giá trị tài sản quy định tại Điều 104 của Bộ luật Tố tụng dân sự là “phù hợp với giá thị trường”. Do đó, di sản là quyền sử dụng đất có giá 3.000.000 đồng/m² x 690,8 m² = 2.072.400.000 đồng (Hai tỷ không trăm bảy mươi hai triệu bốn trăm nghìn đồng).

[6.2] Giá trị di sản là tài sản trên đất theo kết quả định giá ngày 25/4/2023 và định giá lại ngày 11/01/2024 tổng giá trị là 932.467.894 đồng (Chín trăm ba mươi hai triệu bốn trăm sáu mươi bảy nghìn tám trăm chín mươi bốn đồng).

Tổng giá trị là 2.072.400.000 đồng + 932.467.894 đồng = 3.004.867.894 đồng (Ba tỷ không trăm linh bốn triệu tám trăm sáu mươi bảy nghìn tám trăm chín mươi bốn đồng).

Nguyên đơn tự nguyện không yêu cầu phân chia ngôi nhà bao gồm nhà trên, nhà dưới và quán cắt tóc có giá trị là 596.582.491 đồng (Năm trăm chín mươi sáu triệu năm trăm tám mươi hai nghìn bốn trăm chín mươi mốt đồng) mà để cho ông G hưởng.

Do đó, giá trị di sản phân chia là 3.004.867.894 đồng - 596.582.491 = 2.408.285.403 đồng (Hai tỷ bốn trăm linh tám triệu hai trăm tám mươi lăm nghìn bốn trăm linh ba đồng).

[7] Về công sức bảo quản, gìn giữ di sản:

[7.1] Từ sau khi mở thừa kế, những người thừa kế không có thỏa thuận cử người quản lý di sản mà di sản do ông G bảo quản, gìn giữ là thực tế, được các đồng thừa kế khác thừa nhận. Ông G có quyền yêu cầu thanh toán công sức quản lý di sản theo các Điều 616 và 618 của Bộ luật Dân sự năm 2015. Tuy nhiên, sau khi mở thừa kế của cụ T2 thì cụ O vẫn là người đang quản lý nhà, đất; từ khi mở thừa kế của cụ O vào tháng 02/2022 thì đến tháng 5/2022, nguyên đơn đã nộp đơn tranh chấp nên thời gian bảo quản, gìn giữ di sản của ông G là không dài; nguyên đơn đã tự nguyện để lại phần di sản là ngôi nhà có giá trị hơn 1/6 di sản cho ông G hưởng là đã có lợi cho ông G. Do đó, Hội đồng xét xử không chấp nhận tính phần công sức bảo quản, gìn giữ di sản của ông G.

[7.2] Bà Nguyễn Thị T1 là vợ ông G cư trú cùng địa chỉ. Quá trình tố tụng, bà T1 không đưa ra ý kiến, yêu cầu gì về công sức bảo quản, gìn giữ di sản. Tại phiên tòa ngày 28/3/2024, bà T1 có mặt và được phổ biến, giải thích nhưng không có yêu cầu nên không xét.

[8] Về phân chia di sản bằng giá trị: Giá trị di sản là quyền sử dụng chia cho 03 người trong hàng thừa kế thứ nhất; mỗi người được hưởng 01 kỷ phần thừa kế là 2.408.285.403 đồng : 3 = 802.761.801 đồng (T5 trăm linh hai triệu bảy trăm sáu mươi mốt nghìn tám trăm linh một đồng).

[9] Về chia di sản bằng hiện vật: Những người thuộc hàng thừa kế là bà T, ông B và ông G yêu cầu nhận kỷ phần thừa kế bằng hiện vật là quyền sử dụng đất.

[9.1] Ông G đang sử dụng đất làm nhà ở nên nhu cầu sử dụng đất là thực tế. Ông B và bà T hiện tại đều đã có chỗ ở nhưng người đại diện hợp pháp của nguyên đơn đề nghị giao hiện vật cho ông B và chia giá trị bằng tiền cho bà T nếu không thể phân chia thửa đất thành 03 phần.

[9.2] Thửa số 06, tờ bản đồ số 18 diện tích theo đo đạc thực tế là 690,8 m² có một phần diện tích 347,6 m² thuộc lộ giới quy hoạch Quốc lộ D. Người đại diện hợp pháp và người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của nguyên đơn đề nghị phân chia thửa đất thành 03 phần và cho rằng diện tích đất thuộc chỉ giới quy hoạch giao thông nhưng chưa có kế hoạch sử dụng đất nên người sử dụng đất được thực hiện các quyền của người sử dụng đất, kể cả tách thửa. Tuy nhiên, người sử dụng đất trong trường hợp này là cụ T2, cụ O và cả hai có quyền của người sử dụng đất bằng việc để lại thừa kế. Người được hưởng thừa kế chưa phải là người sử dụng đất theo quy định của pháp luật.

[9.3] Theo quy định tại khoản 3 Điều 6 Quy định về tách thửa đối với đất ở và đất nông nghiệp trên địa bàn tỉnh Thừa Thiên Huế (Ban hành kèm theo Quyết định số: 49/2021/QĐ-UBND ngày 25/8/2021 của Ủy ban nhân dân tỉnh T, đã được sửa đổi, bổ sung theo Quyết định số: 16/2024/QĐ-UBND ngày 29/3/2024 của Ủy ban nhân dân tỉnh T) thì “Diện tích đất tối thiểu được phép tách thửa ...là phần diện tích của thửa đất sau khi đã trừ ...lộ giới giao thông”.

Theo kết quả xác minh bổ sung thì lộ giới giao thông được công bố năm 2004, trước thời điểm cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Tại Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất không thể hiện chiều rộng lộ giới nhưng Biên bản mô tả ranh giới, mốc giới kèm theo hồ sơ đăng ký cấp giấy chứng nhận thể hiện chiều rộng lộ giới là 22 m tính từ tim đường.

Diện tích đất sau khi trừ lộ giới còn lại 343,2 m² đảm bảo diện tích tối thiểu để tách thửa là 100 m² nhưng không đảm bảo kích thước cạnh của thửa đất sau khi tách thửa theo quy định điểm b khoản 1 Điều 6 và Điều 7 của Quy định về tách thửa đối với đất ở và đất nông nghiệp trên địa bàn tỉnh Thừa Thiên Huế ban hành kèm theo Quyết định số: 49/2021/QĐ-UBND ngày 25/8/2021 của Ủy ban nhân dân tỉnh T nên không tách thành 03 thửa được.

Do đó, giao cho ông G phần đất có ranh giới theo các mốc 1, 2, 3, A, B, 9, 10, 11 và 1 diện tích 339,0 m² (Bao gồm cả phần đất thuộc lộ giới giao thông) trị giá 1.017.000.000 đồng (Một tỷ không trăm mười bảy triệu đồng); giao ông B phần đất có ranh giới theo các mốc B, A, 3, 4, 5, 6, 7, 8 và B diện tích 351,8 m² (Bao gồm cả phần đất thuộc lộ giới giao thông) trị giá 1.055.400.000 đồng (Một tỷ không trăm năm mươi lăm triệu bốn trăm nghìn đồng).

[9.4] Trên phần đất chia cho ông G có các tài sản nguyên đơn tự nguyện để lại cho ông G hưởng gồm nhà chính (nhà trên), giá 218.730.093 đồng và nhà phụ (nhà dưới), giá 301.868.804 đồng; tiệm cắt tóc, giá 75.983.594 đồng nên ghi nhận.

Mái che 1, giá 23.319.208 đồng; mái che 2, giá 68.915.936 đồng trên phần đất là di sản giao cho ông G nên giao cho ông G sở hữu 02 mái che.

Tổng cộng ông G được chia di sản bằng hiện vật là 1.017.000.000 đồng + 23.319.208 đồng + 68.915.936 đồng = 1.109.235.144 đồng (Một tỷ một trăm linh chín triệu hai trăm ba mươi lăm nghìn một trăm bốn mươi bốn đồng).

[9.5] Trên phần đất chia cho ông B có các tài sản gồm mái che 3 (vị trí 7), giá 27.412.862 đồng; mái che 4 (vị trí 8), giá 27.449.413 đồng; mái che 5 (vị trí 10), giá 61.404.812 đồng; sân gạch thẻ, diện tích 48,84 m², giá 10.960.235 đồng; sân nền lát terazo diện tích 26,52 m², giá 11.146.509 đồng; sân bê tông xi măng, diện tích 102,93 m², giá 42.581.214 đồng; 02 bể cá xây bằng đá cuội, giá 5.595.125 đồng; bể cá thành gây gạch, giá 1.605.159 đồng; tường rào xây gạch, giá 16.987.792 đồng; lưới B40, giá 726.645 đồng; cổng thép hộp, giá 11.280.808 đồng và trụ cổng xây gạch, giá 3.044.985 đồng; 01 cây khế đường kính trên 35 cm, giá 140.590 đồng; 02 cây khế đường kính từ 15-20 cm, giá 225.800 đồng; 32 cây cau cao từ 01-03 m, giá 2.351.680 đồng; 17 cây cau cao từ 03-06 m, giá 2.227.170 đồng; 90 cây cau cao từ 08-10 m, giá 16.104.600 đồng; 01 cây cảnh đường kính từ 07-10 cm, giá 56.940 đồng; 01 cây xoài đường kính từ 10-20 cm, giá 288.640 đồng; 05 cây vú sữa đường kính từ 10-20 cm, giá 1.501.800 đồng; 01 cây vú sữa đường kính trên 35 cm, giá 374.920 đồng; 01 cây gội đường kính từ 20-25 cm, giá 40.910 đồng; 01 cây mãng cầu đường kính từ 05-07 cm, giá 38.340 đồng; 01 cây mãng cầu đường kính từ 20-35 cm, giá 103.310 đồng. Tổng cộng là 243.650.259 đồng (Hai trăm bốn mươi ba triệu sáu trăm năm mươi nghìn hai trăm năm mươi chín đồng).

Tổng cộng ông B được chia di sản bằng hiện vật là 1.055.400.000 đồng + 243.650.259 đồng = 1.299.050.259 đồng (Một tỷ hai trăm chín mươi chín triệu không trăm năm mươi nghìn hai trăm năm mươi chín đồng).

[9.6] Ông G được chia di sản bằng hiện vật vượt quá kỷ phần thừa kế được hưởng có nghĩa vụ hoàn trả giá trị bằng tiền cho bà T nhận là 306.473.343 đồng (Ba trăm linh sáu triệu bốn trăm bảy mươi ba nghìn ba trăm bốn mươi ba đồng).

[9.7] Ông B được chia di sản bằng hiện vật vượt quá kỷ phần thừa kế được hưởng có nghĩa vụ hoàn trả giá trị bằng tiền cho bà T nhận là 496.288.458 đồng (Bốn trăm chín mươi sáu triệu hai trăm tám mươi tám nghìn bốn trăm năm mươi chín đồng).

[10] Về án phí sơ thẩm:

[10.1] Ông B được di sản trị giá 1.299.050.259 đồng nhưng phải thanh toán kỷ phần thừa kế bằng tiền cho bà T là 496.288.458 đồng nên số tiền án phí phải chịu là 36.000.000 đồng + 2.761.801 đồng x 3% = 36.082.854,03 đồng, làm tròn là 36.083.000 đồng (Ba mươi sáu triệu không trăm tám mươi ba nghìn đồng). Ông B đề nghị miễn nộp án phí với lý do người cao tuổi. Theo Căn cước công dân thì ông B sinh năm 1963 là đã đủ 60 tuổi trở lên.

Căn cứ điểm đ khoản 1 Điều 12; khoản 6 Điều 15 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án; Điều 2 của Luật Người cao tuổi năm 2009, Hội đồng xét xử chấp nhận miễn nộp tiền án phí cho ông B.

[10.2] Bà T được hưởng 01 kỷ phần thừa kế trị giá 802.761.801 đồng. Căn cứ vào khoản 2 Điều 147 của Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 24, điểm a khoản 7 Điều 27 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội, bà T phải chịu án phí là 36.000.000 đồng + 2.761.801 đồng x 3% = 36.082.854,03 đồng, làm tròn là 36.083.000 đồng (Mười chín triệu một trăm sáu mươi sáu nghìn đồng); trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 3.300.000 đồng (Ba triệu ba trăm nghìn đồng) theo Biên lai thu số AA/2021/0001861 ngày 23/5/2022. Bà T phải nộp thêm số tiền tạm ứng án phí là 32.783.000 đồng (Ba mươi hai triệu bảy trăm tám mươi ba nghìn đồng).

[10.3] Ông G được di sản trị giá 1.109.235.144 đồng nhưng phải thanh toán kỷ phần thừa kế bằng tiền cho bà T là 306.473.343 đồng. Căn cứ vào khoản 2 Điều 147 của Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 24, điểm a khoản 7 Điều 27 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội số tiền án phí phải chịu là 36.000.000 đồng + 2.761.801 đồng x 3% = 36.082.854,03 đồng, làm tròn là 36.083.000 đồng (Ba mươi sáu triệu không trăm tám mươi ba nghìn đồng).

[11] Về chi phí tố tụng: Số tiền chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ và định giá tài sản, tổng cộng là 4.492.000 đồng (Bốn triệu bốn trăm chín mươi hai nghìn đồng) bà T đã nộp tạm ứng, thanh toán đủ tiền và yêu cầu giải quyết theo pháp luật.

Căn cứ vào các Điều 157 và 165 của Bộ luật Tố tụng dân sự, buộc các đương sự phải chịu tương ứng với giá trị tài sản được chia. 4.492.000 đồng : 3 = 1.497.333,3 đồng, làm tròn là 1.497.000 đồng (Một triệu bốn trăm hai mươi bảy nghìn đồng) buộc ông B và ông G hoàn trả lại cho bà T. Bà T phải chịu số tiền còn lại.

[12] Ông G đề nghị tính toán các chi phí đi lại để tham gia tố tụng là không có cơ sở nên không xem xét.

[13] Về quyền kháng cáo: Căn cứ vào khoản 1 Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự, thời hạn kháng cáo của đương sự vắng mặt tại phiên toà được tính từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.

[14] Ý kiến đề nghị của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa là có cơ sở, trừ đề nghị phân chia di sản là thửa đất thành 03 thửa.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào khoản 5 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm c khoản 1 Điều 39, Điều 92, khoản 2 Điều 147, Điều 157, Điều 165, điểm c khoản 2 Điều 227, khoản 2 Điều 228 và khoản 1 Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự;

Áp dụng các Điều 611, 612, 613, 616, 618, 623, 649 và 651 của Bộ luật Dân sự năm 2015;

Áp dụng Điều 2 của Luật Người cao tuổi năm 2009;

Áp dụng điểm đ khoản 1 Điều 12, khoản 6 Điều 15, Điều 24, điểm a khoản 7 Điều 27 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án,

Tuyên xử:

1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn về chia thừa kế.

1.1. Xác định thời điểm mở thừa kế của cụ Nguyễn Công T2 là ngày 02/9/2014 và của cụ Hoàng Thị O là ngày 17/02/2022. Hàng thừa kế thứ nhất của cụ T2 và cụ O gồm ông Nguyễn Công B, ông Nguyễn Công G và bà Nguyễn Thị Trà.

1.2. Xác định di sản của cụ Nguyễn Công T2 và cụ Hoàng Thị O là thửa số 06, tờ bản đồ số 18 - xã Đ, địa chỉ tại Thôn B, xã Đ, huyện P, tỉnh Thừa Thiên Huế, diện tích theo đo đạc thực tế 690,8 m² trị giá 2.072.400.000 đồng và các tài sản gắn liền với đất (trừ ngôi nhà ở và quán cắt tóc tự nguyện không yêu cầu) có tổng giá trị là 2.408.285.403 đồng (Hai tỷ bốn trăm linh tám triệu hai trăm tám mươi lăm nghìn bốn trăm linh ba đồng).

1.3. Chia di sản thừa kế của cụ Nguyễn Công T2 và cụ Hoàng Thị O cho ông Nguyễn Công B, ông Nguyễn Công G và bà Nguyễn Thị T mỗi người được hưởng kỷ phần thừa kế là 2.408.285.403 đồng : 3 = 802.761.801 đồng (T5 trăm linh hai triệu bảy trăm sáu mươi mốt nghìn tám trăm linh một đồng).

1.4. Giao ông Nguyễn Công B diện tích đất có ranh giới theo các mốc B, A, 3, 4, 5, 6, 7, 8 và B diện tích 351,8 m² trị giá 1.055.400.000 đồng (Một tỷ không trăm năm mươi lăm triệu bốn trăm nghìn đồng).

Giao ông Nguyễn Công B sở hữu các tài sản trên diện tích đất được chia (mục [9.5] phần nội dung) có tổng giá trị 243.650.259 đồng (Hai trăm bốn mươi ba triệu sáu trăm năm mươi nghìn hai trăm năm mươi chín đồng).

Tổng cộng 1.299.050.259 đồng (Một tỷ hai trăm chín mươi chín triệu không trăm năm mươi nghìn hai trăm năm mươi chín đồng).

1.5. Giao ông Nguyễn Công G diện tích đất có ranh giới theo các mốc 1, 2, 3, A, B, 9, 10, 11 và 1 diện tích 339,0 m² trị giá 1.017.000.000 đồng (Một tỷ không trăm mười bảy triệu đồng).

Giao ông Nguyễn Công G sở hữu mái che 1 trị giá 23.319.208 đồng và mái che 2 trị giá 68.915.936 đồng.

Tổng cộng 1.109.235.144 đồng (Một tỷ một trăm linh chín triệu hai trăm ba mươi lăm nghìn một trăm bốn mươi bốn đồng).

1.6. Ghi nhận bà Nguyễn Thị T và ông Nguyễn Công G không yêu cầu phân chia mà giao ông Nguyễn Công G sở hữu các tài sản nhà chính (nhà trên), giá 218.730.093 đồng (Hai trăm mười tám triệu bảy trăm ba mươi nghìn không trăm chín mươi ba đồng) và nhà phụ (nhà dưới), giá 301.868.804 đồng (Ba trăm linh một triệu tám trăm sáu mươi tám nghìn tám trăm linh bốn đồng); tiệm cắt tóc, giá 75.983.594 đồng (Bảy mươi lăm triệu chín trăm tám mươi ba nghìn năm trăm chín mươi bốn đồng).

1.7. Bà Nguyễn Thị T được nhận 01 kỷ phần thừa kế bằng tiền trị giá 802.755.801 đồng (Sáu trăm chín mươi triệu tám trăm nghìn đồng) do các đồng thừa kế là ông Nguyễn Công B, ông Nguyễn Công G thanh toán.

1.8. Buộc ông Nguyễn Công B thanh toán giá trị kỷ phần thừa kế cho bà Nguyễn Thị T số tiền là 496.288.458 đồng (Bốn trăm chín mươi sáu triệu hai trăm tám mươi tám nghìn bốn trăm năm mươi tám đồng).

1.9. Buộc ông Nguyễn Công G thanh toán giá trị kỷ phần thừa kế cho bà Nguyễn Thị T số tiền 306.473.343 đồng (Ba trăm linh sáu triệu bốn trăm bảy mươi ba nghìn ba trăm bốn mươi ba đồng).

1.10. Ông Nguyễn Công B và ông Nguyễn Công G có quyền và nghĩa vụ liên hệ với cơ quan có thẩm quyền để đăng ký quyền sử dụng đất theo quy định của pháp luật về đất đai (Có sơ đồ kèm theo).

2. Về án phí sơ thẩm:

2.1. Bà Nguyễn Thị T phải chịu số tiền án phí dân sự sơ thẩm là 36.083.000 đồng (Ba mươi sáu triệu không trăm tám mươi ba đồng); trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 3.300.000 đồng (Ba triệu ba trăm nghìn đồng) theo Biên lai thu số AA/2021/0001861 ngày 23/5/2022 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Phong Điền, tỉnh Thừa Thiên Huế; bà T còn phải nộp 32.783.000 đồng (Ba mươi hai triệu bảy trăm tám mươi ba nghìn đồng).

2.2. Ông Nguyễn Công G phải chịu số tiền án phí dân sự sơ thẩm là 36.083.000 đồng (Ba mươi sáu triệu không trăm tám mươi ba nghìn đồng).

2.3. Miễn án phí dân sự sơ thẩm cho Ông Nguyễn Công B.

3. Về chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ và định giá tài sản:

3.1. Buộc ông Nguyễn Công G và ông Nguyễn Công B mỗi người có nghĩa vụ trả lại cho bà Nguyễn Thị T số tiền chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ và định giá tài sản là 1.497.000 đồng (Một triệu bốn trăm chín mươi bảy nghìn đồng).

3.2. Bà Nguyễn Thị T phải chịu số tiền chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ và định giá tài sản là 1.498.000 đồng (Một triệu bốn trăm chín mươi tám nghìn đồng), đã nộp đủ.

Kể từ ngày người được thi hành án có đơn yêu cầu thi hành án cho đến khi thi hành xong, người phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 357, Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 của Luật Thi hành án dân sự, được bổ sung theo Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Thi hành án dân sự năm 2014, thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7 và 9 của Luật Thi hành án dân sự và Điều 7a, 7b Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Thi hành án dân sự năm 2014; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 của Luật Thi hành án dân sự.

4. Về quyền kháng cáo: Các đương sự có mặt có quyền làm đơn kháng cáo bản án này trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án; đương sự vắng mặt tại phiên toà có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết./.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Thừa Thiên Huế;
  • - VKSND huyện Phong Điền;
  • - CCTHADS huyện Phong Điền;
  • - Các đương sự;
  • - Lưu hồ sơ vụ án;
  • - Lưu án văn DS.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN-CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

(Đã ký)

Trần Văn Trường

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 14/2024/DS-ST ngày 24/04/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHONG ĐIỀN, TỈNH THỪA THIÊN HUẾ về tranh chấp về thừa kế tài sản

  • Số bản án: 14/2024/DS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp về thừa kế tài sản
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 24/04/2024
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHONG ĐIỀN, TỈNH THỪA THIÊN HUẾ
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger