Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

TỈNH THÁI NGUYÊN

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 14/2024/HNGĐ-PT

Ngày: 23/5/2024

V/v: Tranh chấp ly hôn

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH THÁI NGUYÊN

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

  • Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Hoàng Quý Sửu
  • Các Thẩm phán: Ông Nguyễn Văn Quế và bà Nguyễn Thị Thuỷ
  • Thư ký phiên tòa: Bà Trần Thùy Dương, Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Thái Nguyên
  • Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Thái Nguyên: Bà Lê Ngọc Kim Loan, Kiểm sát viên.

Ngày 23 tháng 5 năm 2024, tại Hội trường xét xử Tòa án nhân dân tỉnh Thái Nguyên, xét xử phúc thẩm công khai vụ án Hôn nhân gia đình thụ lý số 10/HNGĐ-PT ngày 28 tháng 3 năm 2024 về việc Tranh chấp ly hôn.

Do bản án Hôn nhân gia đình sơ thẩm số 01/2024/HNGĐ-ST ngày 23 tháng 02 năm 2024 của Tòa án nhân dân thành phố Sông Công, tỉnh Thái Nguyên có kháng cáo.

Theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 12/2024/QĐ-PT ngày 06/5/2024; giữa các đương sự:

  • Nguyên đơn: Chị Nguyễn Thị O, sinh năm 1988; đăng ký HKTT: Tổ dân phố I, thị trấn Q, huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên; chỗ ở hiện tại: Tổ dân phố Đ, phường L, thành phố S, tỉnh Thái Nguyên; có mặt
  • Bị đơn: Anh Ngô Huy C, sinh năm 1981; đăng ký HKTT: Tổ H, phường P, thành phố T, tỉnh Tuyên Quang; Tạm trú: Tổ dân phố Đ, phường L, thành phố S, tỉnh Thái Nguyên; có mặt

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Nguyên đơn chị Nguyễn Thị O trình bày:

Chị Nguyễn Thị O và anh Ngô Huy C kết hôn năm 2012, đăng ký tại UBND phường P, TP T, tỉnh Tuyên Quang, trên cơ sở tự nguyện, không bị ép buộc. Quá trình chung sống, vợ chồng có những mâu thuẫn càng ngày càng lớn, không có tiếng nói chung, không cùng quan điểm sống, anh C không có trách nhiệm với gia đình và vợ con. Mọi việc trong gia đình đều do chị lo, do anh C công việc không ổn định. Hiện tại tình cảm giữa chị và anh C mâu thuẫn trầm trọng không thể hàn gắn, chị đề nghị Tòa án giải quyết được ly hôn với anh C.

Về con chung: chị O và anh C có 02 con chung là Ngô Khánh T, sinh ngày 18/7/2013 và Ngô Khánh T1, sinh ngày 04/01/2019. Khi ly hôn, chị O xin nuôi cả hai con chung. Về cấp dưỡng nuôi con, không yêu cầu anh C cấp dưỡng nuôi con chung.

Về tài sản chung, nợ chung: Chị O xác định vợ chồng không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Bị đơn anh Ngô Huy C trình bày:

Anh C xác định về thời gian kết hôn, đăng ký kết hôn như chị O trình bày là đúng. Quá trình chung sống giữa vợ chồng có xảy ra mâu thuẫn nhỏ, hai bên lời qua tiếng lại với nhau, chứ không có mâu thuẫn gì lớn. Nay chị O có đơn xin ly hôn, anh vẫn còn tình cảm với chị O, mong muốn chị O cho anh cơ hội để vợ chồng về đoàn tụ, cùng nhau nuôi dạy con chung, anh không nhất trí ly hôn.

Về con chung: anh và chị O có 02 con chung là Ngô Khánh T, sinh ngày 18/7/2013 và Ngô Khánh T1, sinh ngày 04/01/2019. Trong trường hợp bắt buộc phải ly hôn, anh có nguyện vọng nuôi cả hai con chung và không yêu cầu chị O cấp dưỡng nuôi con. Về tài sản chung, anh và chị O tự thỏa thuận với nhau, không yêu cầu Tòa án giải quyết. Về nợ chung vợ chồng anh xác định không có.

Tại bản án Hôn nhân gia đình sơ thẩm số 01/2024/HNGĐ-ST ngày 23 tháng 02 năm 2024 của Tòa án nhân dân thành phố Sông Công, tỉnh Thái Nguyên đã quyết định:

  • Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận đơn khởi kiện ly hôn của chị Nguyễn Thị O, cho chị Nguyễn Thị O được ly hôn anh Ngô Huy C.
  • Về con chung: Giao 02 con chung Ngô Khánh T, sinh ngày 18/7/2013; Ngô Khánh T1, sinh ngày 04/01/2019 cho chị Nguyễn Thị O trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục cho đến khi hai con chung đủ 18 tuổi hoặc đến khi có sự thay đổi khác. Anh C có quyền đi lại thăm nom con chung không ai được cản trở.
  • Về cấp dưỡng nuôi con: Tạm hoãn việc cấp dưỡng nuôi con chung đối với anh C cho đến khi chị O có yêu cầu.
  • Về tài sản chung: Do đương sự không yêu cầu nên Tòa án không xem xét giải quyết trong vụ án này. Về nợ chung: Không có.

Ngoài ra án sơ thẩm còn tuyên về án phí và quyền kháng cáo của các đương sự.

Ngày 06/3/2024, bị đơn anh Ngô Huy C có đơn kháng cáo toàn bộ bản án Hôn nhân gia đình sơ thẩm số 01/2024/HNGĐ-ST ngày 23 tháng 02 năm 2024 của Tòa án nhân dân thành phố Sông Công, tỉnh Thái Nguyên.

Nội dung kháng cáo, anh C cho rằng không nhận được giấy triệu tập phiên toà ngày 23/02/2024; anh C không tạm trú tại tổ dân phố Đ, phường L, thành phố S; không ở tổ A, phường P, thành phố T; không thoả thuận được về tài sản, mua bảo hiểm nhân thọ của 04 người trong gia đình và việc vay nợ. Đề nghị Toà án cấp phúc thẩm huỷ án sơ thẩm.

Tại phiên toà phúc thẩm, bị đơn giữ nguyên nội dung đơn kháng cáo, các đương sự giữ nguyên các ý kiến trình bày như nêu trên.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Thái Nguyên phát biểu quan điểm: Thẩm phán chủ tọa phiên toà, Hội đồng xét xử và các đương sự chấp hành đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Về nội dung giải quyết vụ án, đề nghị Hội đồng xét xử không chấp nhận kháng cáo của bị đơn; giữ nguyên bản án Hôn nhân gia đình sơ thẩm số 01/2024/HNGĐ-ST ngày 23 tháng 02 năm 2024 của Tòa án nhân dân thành phố Sông Công, tỉnh Thái Nguyên.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên toà, căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên toà, sau khi nghe đại diện Viện kiểm sát phát biểu ý kiến, Hội đồng xét xử nhận định:

Về thủ tục tố tụng:

[1] Bị đơn kháng cáo trong hạn luật định, đã nộp tạm ứng án phí phúc thẩm theo quy định, được xem xét theo trình tự phúc thẩm.

Về nội dung:

Xét kháng cáo của bị đơn, Hội đồng xét xử thấy:

[2] Anh C cho rằng không nhận được giấy triệu tập phiên toà ngày 23/02/2024:

Ngày 12/01/2024 Toà án lập biên bản giao quyết định đưa vụ án ra xét xử, giấy triệu tập phiên toà mở vào ngày 25/01/2024 cho anh Ngô Huy C, anh C có ký nhận. Tại phiên toà sơ thẩm lần thứ nhất, anh C vắng mặt, Hội đồng xét xử quyết định hoãn phiên toà, ấn định thời gian mở lại phiên toà vào 08 giờ ngày 23/02/2024. Ngày 01/02/2024, Toà án sơ thẩm giao Quyết định hoãn phiên toà, giấy triệu tập phiên toà mở lại vào ngày 23/02/2024 cho anh C, anh C có ký nhận. Ngày 23/02/2024, anh C vắng mặt tại phiên toà lần thứ hai không có lý do. Toà án cấp sơ thẩm xét xử vắng mặt anh C là đúng quy định tại điểm b khoản 2 Điều 227, Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự.

[3] Anh C kháng cáo cho rằng không ở tổ dân phố Đ, phường L, thành phố S, thấy: Tại Thông báo số 001468/TB ngày 30/10/2023 của Công an phường L, thành phố S, xác định anh Ngô Huy C đăng ký tạm trú mới tại tổ Đ, phường L, thành phố S. Tòa án thành phố S thụ lý, giải quyết vụ án là đúng quy định về thẩm quyền tại khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự.

Xét yêu cầu kháng cáo huỷ án sơ thẩm của bị đơn, anh Ngô Huy C:

[4] Về quan hệ hôn nhân: Chị O xác định tình cảm vợ chồng không còn, xin được ly hôn với anh C. Anh C không đồng ý ly hôn theo yêu cầu của chị O. Hội đồng xét xử thấy, quá trình chung sống giữa anh C và chị O phát sinh nhiều mâu thuẫn, mục đích hôn nhân không đạt được, chị O cương quyết xin ly hôn với anh C, Tòa án cấp sơ thẩm chấp nhận yêu cầu xin ly hôn, cho chị O được ly hôn với anh C là có căn cứ.

[5] Về con chung: Chị O và anh C có 02 con chung là cháu Ngô Khánh T, sinh ngày 18/7/2013 và cháu Ngô Khánh T1, sinh ngày 04/01/2019. Chị O cung cấp các tài liệu, chứng cứ thể hiện chị O có đủ điều kiện để trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng 02 con chung. Tại giai đoạn xét xử phúc thẩm, chị O cung cấp cho Toà án các bức ảnh và trình bày nội dung thể hiện, anh C đánh con Ngô Khánh T, đập phá đồ đạc trong gia đình và hiện nay anh C còn nợ tiền ngân hàng chưa trả được. Tòa án cấp sơ thẩm đã giao con chung cho chị O trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng cả 02 con là có căn cứ, phù hợp với nguyện vọng của con.

[6] Về tài sản chung, nợ chung: Quá trình giải quyết vụ án tại cấp sơ thẩm, chị O không yêu cầu Tòa án giải quyết về tài sản, anh C khai hai vợ chồng tự thỏa thuận về tài sản, vợ chồng không có nợ chung. Tòa án sơ thẩm không xem xét giải quyết là có căn cứ. Anh C kháng cáo yêu cầu giải quyết về tài sản, phần vay nợ là không có căn cứ chấp nhận. Nếu có tranh chấp, anh C có quyền khởi kiện bằng một vụ án khác.

[7] Từ những phân tích và nhận định nêu trên, Hội đồng xét xử thấy không có căn cứ chấp nhận kháng cáo của bị đơn anh Ngô Huy C, giữ nguyên bản án Hôn nhân gia đình sơ thẩm số 01/2024/HNGĐ-ST ngày 23 tháng 02 năm 2024 của Tòa án nhân dân thành phố Sông Công, tỉnh Thái Nguyên.

[8] Án phí dân sự phúc thẩm: Bị đơn anh Ngô Huy C phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.

Từ những phân tích nêu trên;

QUYẾT ĐỊNH:

  1. Căn cứ khoản 1 Điều 308 Bộ luật tố tụng dân sự; không chấp nhận kháng cáo của bị đơn anh Ngô Huy C; Giữ nguyên bản án Hôn nhân gia đình sơ thẩm số 01/2024/HNGĐ-ST ngày 23 tháng 02 năm 2024 của Tòa án nhân dân thành phố Sông Công, tỉnh Thái Nguyên.
  2. Án phí dân sự phúc thẩm: Anh Ngô Huy C phải chịu 300.000 đồng án phí dân sự phúc thẩm, được trừ vào 300.000đ tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu số 0000618 ngày 13/3/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Sông Công, tỉnh Thái Nguyên.
  3. Các quyết định khác của bản án Hôn nhân gia đình sơ thẩm số 01/2024/HNGĐ-ST ngày 23 tháng 02 năm 2024 của Tòa án nhân dân thành phố Sông Công, tỉnh Thái Nguyên không kháng cáo, không bị kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực thi hành kể từ ngày tuyên án./.

Nơi nhận:

  • - VKSND tỉnh Thái Nguyên;
  • - TAND thành phố S;
  • - Chi cục THADS thành phố S;
  • - Các đương sự;
  • - Lưu hồ sơ vụ án.

T.M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà

(đã ký)

Hoàng Quý Sửu

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 14/2024/HNGĐ-PT ngày 23/05/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH THÁI NGUYÊN về tranh chấp ly hôn

  • Số bản án: 14/2024/HNGĐ-PT
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp ly hôn
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 23/05/2024
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH THÁI NGUYÊN
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: NGUYỄN THỊ O VÀ NGÔ HUY C
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger