Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN QUẾ SƠN

TỈNH QUẢNG NAM

Bản án số: 14/2024/HS-ST

Ngày 23-5-2024

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN QUẾ SƠN, TỈNH QUẢNG NAM

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Thái Sương

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Lê Văn Thêm

Bà Đỗ Thị Linh Phương

- Thư ký phiên tòa: Bà Trần Thị Ngọc Yến - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Quế Sơn, tỉnh Quảng Nam.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Quế Sơn, tỉnh Quảng Nam tham gia phiên tòa: Bà Trần Thị Hướng - Kiểm sát viên.

Ngày 23 tháng 5 năm 2024, tại điểm cầu trung tâm Hội trường xét xử Tòa án nhân dân huyện Quế Sơn, tỉnh Quảng Nam và điểm cầu thành phần Nhà tạm giữ Công an huyện Q, tỉnh Quảng Nam xét xử sơ thẩm trực tuyến, công khai vụ án hình sự thụ lý số 10/2024/TLST-HS ngày 02 tháng 4 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 25/2024/QĐXXST-HS ngày 26 tháng 4 năm 2024 đối với bị cáo:

Hồ Minh P, sinh ngày 16/01/2000; nơi cư trú: thôn B, xã B, huyện T, tỉnh Quảng Nam; nghề nghiệp: công nhân; trình độ học vấn:4/12; dân tộc: Kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Hồ Sĩ X và bà Lê Thị K; tiền sự: không.

Tiền án: Ngày 15/12/2020 P đã bị TAND thị xã Phú Mỹ, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu xử phạt 02 năm tù về tội “Trộm cắp tài sản”, chấp hành xong hình phạt ngày 31/5/2022.

Nhân thân:

+ Ngày 28/10/2016, P bị Tòa án nhân dân Thành phố Buôn Ma Thuột, tỉnh Đăk Lăk xử phạt 09 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”.

+ Ngày 22/02/2017, P bị Tòa án nhân dân huyện Thăng Bình, tỉnh Quảng Nam xử phạt 09 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”.

Bị cáo bị bắt ngày 19 tháng 01 năm 2024, có mặt tại phiên tòa.

- Bị hại:

+ Chùa H1. Địa chỉ: tổ dân phố H, thị trấn H, huyện Q do bà Nguyễn Thị N làm trụ trì, vắng mặt.

+ Ông Lê Văn H, sinh năm 1976. Địa chỉ: thôn H, xã Q, huyện Q, tỉnh Quảng Nam, vắng mặt.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

+ Anh Phùng D, sinh năm 1990. Địa chỉ: tổ G, phường H, quận N, Thành phố Đà Nẵng, vắng mặt.

+ Anh Trần Việt V, sinh năm 1991. Địa chỉ: số A đường L, thành phố H, tỉnh Quảng Nam, vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào khoảng 01 giờ ngày 18/01/2024, Hồ Minh P điều khiển xe mô tô biển số 43C1-783.64 đi từ nhà theo Quốc lộ A hướng ra thành phố Đà Nẵng. Khi đi đến chùa H1 thuộc tổ dân phố H, thị trấn H, huyện Q do bà Nguyễn Thị N làm trụ trì, P thấy chùa không có ai trông coi nên nảy sinh ý định vào chùa để trộm cắp tài sản. P để xe trước cổng chùa, trèo qua tường rào đi vào trong khu chính điện tìm kiếm tài sản, P phát hiện một thùng Phước Sương (thùng công đức) được làm bằng kính trong suốt bên trong có số tiền 50.000 đồng; P mang thùng Phước S ra trước cổng chùa đập vỡ, lấy số tiền 50.000 đồng bỏ vào túi quần rồi điều kiển xe mô tô đi về hướng Đà Nẵng.

Đến khoảng 01 giờ 50 phút cùng ngày, P điều khiển xe mô tô biển số 43C1-783.64 đến chùa H2 thuộc thôn H xã Q, huyện Q do ông Lê Văn H, sinh năm: 1976, trú: thôn H, xã Q, huyện Q làm trụ trì. P nhìn vào bên trong chùa không thấy ai trông coi nên nảy sinh ý định vào chùa T2 tài sản. P để xe mô tô trước cổng chùa. P trèo qua tường rào vào sảnh trước cửa chùa mở thùng Phước S nhưng không mở được. P tiếp tục tìm kiếm tài sản thì thấy một con dao nên P cầm trên tay mục đích để mở thùng Phước S nhưng chưa mở. P đi đến sảnh chùa phía trong, P phát hiện một xe mô tô biển số 92H5-7799 có cắm sẵn chìa khóa trên xe, P lấy chìa khóa mở cốp xe kiểm tra nhưng không có tài sản gì nên P bỏ chìa khóa xe mô tô 92H5-7799 vào túi quần; P tiếp tục đi vào khu vực sinh hoạt, nghỉ ngơi của chùa thì để con dao trên bàn, P đi đến trước cửa phòng ngủ của ông H, thấy ông H đang ngủ P đi vào phòng thấy một túi xách bằng vải màu vàng nên lấy đem ra khu vực sảnh chờ phía sau khu chính điện và treo trên ghế. P tiếp tục đi đến phòng ngủ của ông H, P phát hiện trên bàn gỗ trong phòng ngủ có một chìa khóa xe ô tô hãng Huyndai loại Kona và 01 ví da màu đen nên lấy bỏ vào túi quần; P nhìn thấy trong hộc bàn gỗ có số tiền 20.400.000 đồng được cột dây su nên lấy bỏ vào túi quần rồi đi ra lại khu vực sảnh chờ; P tìm kiếm trong túi xách màu vàng nhưng không có tài sản gì nên bỏ lại túi xách trên ghế. Phú kiểm tra bên trong ví da màu đen có số tiền 2.400.000 đồng và một số giấy tờ gồm Giấy phép lái xe hạng A1, hạng B2; Giấy đăng ký xe ô tô và mô tô, căn cước công dân mang tên Lê Văn H nên cất hết vào túi quần. Sau đó, Phú điền khiển xe mô tô 43C1- 783.64 đi về hướng Đà Nẵng. Khi đi đến cầu C thuộc địa phận thị trấn N, huyện D thì dừng lại, P vứt chìa khóa xe mô tô, ví da cùng giấy tờ của ông H xuống nước rồi điều khiển xe đi đến thành phố H, tỉnh Quảng Nam. P sử dụng số tiền trộm cắp được đến cửa hàng T3 (địa chỉ A L, H) mua một điện thoại di động hiệu Iphone 12 Promax với giá 13.690.000 đồng, sau đó P ra thành phố Đà Nẵng. Đến ngày 19/01/2024, P đang trốn tại phường H, quận L, thành phố Đà Nẵng thì bị Cơ quan CSĐT Công an huyện Q mời làm việc. Qua làm việc, P đã khai nhận hành vi trộm cắp tài sản của mình.

Tại Kết luận định giá tài sản số 05/KL-HĐĐGTS ngày 02/02/2024 của Hội đồng định giá tài sản trong Tố tụng hình sự huyện Q kết luận: một ví da màu đen, một giấy phép lái xe hạng A1, một giấy phép lái xe hạng B2; một Giấy đăng ký xe ô tô, một Giấy đăng ký xe mô tô, một căn cước công dân; một chìa khóa xe mô tô hiệu Airblade; một chìa khóa điều khiển từ xa của xe ô tô Hyundai hiệu Kona có tổng giá trị định giá là 2.290.000 đồng.

Tại Kết luận định giá tài sản số 10/KL-HĐĐGTS ngày 04/3/2024 của Hội đồng định giá tài sản trong Tố tụng hình sự huyện Q kết luận: 01 (một) khối hộp chữ nhật có kích thước 40 x 20 x 20 cm, độ dày 05mm làm bằng kính trong suốt có giá trị là 200.000 đồng.

Vật chứng thu giữ trong vụ án gồm: 01 (một) điện thoại di động hiệu Iphone Promax 128GB màu đen; 01 (một) xe mô tô biển số 43C1-783.64; 01 (một) giấy biên nhận của cửa hàng mua bán xe T; 01 (một) giấy phô tô căn cước công dân tên Trần Thị Thu T1; 01 (một) Giấy đăng ký xe mô tô 43C1-783.64 mang tên Trần Thị Thu T1 (đã trả lại cho anh Phùng D). 01 (một) cái đồng hồ đeo tay bằng kim loại màu trắng mặt đồng hồ có chữ; 01(một) nhẫn bằng kim loại màu trắng; 01 (một) dây lách bằng kim loại màu vàng dạng móc xích; 01 (một) sợi dây chuyền bằng kim loại màu vàng; 01 (một) căn cước công dân mang tên Hồ Minh P. Số tiền 4.926.000 đồng; 01 (một) con dao dài 34cm, có lưỡi bằng kim loại dài 22cm, cán bằng nhựa màu đen; 01(một) chìa khóa xe ô tô điều khiển từ xa bằng kim loại màu trắng, ốp nhựa màu đen có kích thước 7,5x04x1,5cm, chìa khóa được móc vào móc chìa khóa bằng kim loại màu trắng dài 07cm đã trả lại cho ông Lê Văn H.

Phần dân sự: Sau khi nhận Quyết định đưa vụ án ra xét xử bà Nguyễn Thị N làm trụ trì chùa H1 có đơn xét xử vắng mặt, không yêu cầu bị cáo bồi thường. Bị hại Lê Văn H có đơn xin xét xử vắng mặt và yêu cầu được nhận chiếc điện thoại Iphone Promax 128GB màu đen mà bị cáo P đã dùng tiền của ông để mua với số tiền 13.690.000 đồng, đối với số tiền và tài sản còn lại ông H không yêu cầu bị cáo P bồi thường. Đến nay, Hồ Minh P chưa bồi thường cho các bị hại.

Cáo trạng số 10/CT-VKSQS ngày 01 tháng 4 năm 2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Quế Sơn, tỉnh Quảng Nam đã truy tố bị cáo Hồ Minh P về tội "Trộm cắp tài sản" theo khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Quế Sơn, tỉnh Quảng Nam vẫn giữ nguyên quan điểm đã truy tố tại bản cáo trạng và đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Hồ Minh P phạm tội “Trộm cắp tài sản”; căn cứ khoản 1 Điều 173; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm g, h khoản 1 Điều 52 và Điều 38 Bộ luật Hình sự năm 2015; xử phạt bị cáo Hồ Minh P mức án từ 24 tháng tù đến 30 tháng tù.

Về trách nhiệm dân sự và xử lý vật chứng: Đề nghị Hội đồng xét xử giải quyết theo quy định của pháp luật.

Tại phiên tòa, bị cáo đã thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình phù hợp với những tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án và không tham gia tranh luận gì.

Bị cáo nói lời sau cùng: xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về tố tụng: Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Q, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Quế Sơn, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không ai có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Sự vắng mặt của những người tham gia tố tụng không ảnh hưởng đến việc giải quyết vụ án nên Hội đồng xét xử tiến hành xét xử theo thủ tục chung.

[2] Về nội dung:

[2.1] Kết quả tranh tụng tại phiên tòa xác định được: Khoảng 01 giờ ngày 18/01/2024, tại chùa H1, thuộc tổ dân phố H, thị trấn H, huyện Q, bị cáo Hồ Minh P đã có hành vi trộm cắp 01 thùng P làm bằng kính trị giá 200.000 đồng và số tiền 50.000 đồng của chùa H1. Mặc dù tài sản trộm cắp dưới hai triệu đồng, tuy nhiên vào ngày 15/12/2020 bị cáo bị TAND thị xã Phú Mỹ, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu xử phạt 02 năm tù về tội “Trộm cắp tài sản”, P chấp hành xong hình phạt ngày 31/5/2022. Tính đến ngày 18/01/2024, bị cáo chưa được xóa án tích.

Khoảng 02 giờ ngày 18/01/2024, tại chùa H2 thuộc thôn H, xã Q, huyện Q, bị cáo P tiếp tục có hành vi lén lút trộm cắp tài sản của ông Lê Văn H gồm: 01 ví da màu đen, 01 chìa khóa xe mô tô hiệu Airblade, 01 chìa khóa xe ô tô Hyundai hiệu Kona có giá trị 1.300.000 đồng và số tiến 22.800.000 đồng của ông Lê Văn H.

Tổng giá trị tài sản mà bị cáo Hồ Minh P đã chiếm đoạt của các bị hại có giá trị là 24.350.000 (Hai mươi bốn triệu ba trăm năm mươi nghìn) đồng. Lời khai của bị cáo đối chiếu với lời khai của các bị hại, các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án Hội đồng xét xử kết luận: hành vi trên của bị cáo Hồ Minh P đủ yếu tố cấu thành tội “Trộm cắp tài sản”, tội phạm và hình phạt quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017), như bản Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Quế Sơn truy tố là có căn cứ, đúng pháp luật.

[2.2] Xét tính chất vụ án, hành vi phạm tội của bị cáo thì thấy: Hành vi của bị cáo Hồ Minh P là cố ý, xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của các bị hại, làm ảnh hưởng đến tình hình an ninh trật tự tại địa phương, vì vậy cần áp dụng loại hình phạt, mức hình phạt tương xứng để cải tạo, giáo dục bị cáo đồng thời phòng ngừa chung cho xã hội.

[2.3] Về nhân thân, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nghiệm hình sự:

- Tình tiết tăng nặng trách nghiệm hình sự: Ngày 15/12/2020 bị cáo P bị TAND thị xã Phú Mỹ, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu xử phạt 02 năm tù về tội “Trộm cắp tài sản”, chấp hành xong hình phạt ngày 31/5/2022. Tính đến ngày 18/01/2024 chưa được xóa án tích. Do đó, lần phạm tội này thuộc trường hợp “Tái phạm”. Bị cáo Hồ Minh P đã thực hiện hành vi trộm cắp tài sản hai lần, mỗi lần đều đủ yếu tố cấu thành tội phạm là tình tiết tăng nặng “Phạm tội hai lần trở lên”. Đây là các tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm g, h khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự.

- Nhân thân: Ngày 28/10/2016, bị Tòa án nhân dân Thành phố Buôn Ma Thuột, tỉnh Đăk Lăk xử phạt 09 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”. Ngày 22/02/2017, bị Tòa án nhân dân huyện Thăng Bình, tỉnh Quảng Nam xử phạt 09 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”.

- Tình tiết giảm nhẹ trách nghiệm hình sự: Quá trình điều tra, truy tố cũng như tại phiên toà, bị cáo đã thành khẩn khai báo về hành vi phạm tội là tình tiết giảm nhẹ được quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Do vậy, Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo khi lượng hình, thể hiện sự khoan hồng của pháp luật nhưng cần phải cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian để bị cáo học tập, cải tạo trở thành người công dân tốt.

[2.4] Về trách nhiệm dân sự:

Đối với 01 thùng Phước Sương làm bằng kính trị giá 200.000 đồng và số tiền 50.000 đồng bị cáo đã trộm của chùa H1, bà Nguyễn Thị N trụ trì chùa H1 không yêu cầu bị cáo bồi thường. Xét thấy, thùng Phước S (thùng công đức) làm bằng kính trị giá 200.000 đồng đại diện bị hại không yêu cầu bồi thường nên không xem xét, đối với số tiền 50.000 đồng bị cáo đã chiếm đoạt trong thùng Phước S để sử dụng tiêu xài cá nhân cần truy thu sung ngân sách nhà nước.

Đối với số tiền 22.800.000 đồng bị cáo đã trộm của bị hại ông Lê Văn H. Sau khi chiếm đoạt bị cáo đã dùng tiền này để mua 01 (một) điện thoại di động hiệu Iphone Promax 128GB màu đen với giá 13.690.000 đồng, bị hại H có yêu cầu được nhận chiếc điện thoại này là phù hợp nên giao chiếc điện thoại di động hiệu Iphone Promax 128GB màu đen trị giá 13.553.100 đồng cho ông Lê Văn H sở hữu.

Đối với số tiền 4.926.000 đồng của bị hại H còn lại thu giữ khi bị cáo P bị bắt, Cơ quan cảnh sát điều tra đã trả lại cho bị hại H là phù hợp.

Đối với số tiền 4.184.000 đồng tiền mặt còn lại bị cáo P đã chiếm đoạt của bị hại H sử dụng vào mục đích tiêu xài cá nhân, bị hại H không yêu cầu bị cáo P bồi thường, tuy nhiên cần truy thu số tiền 4.184.000 đồng đối với bị cáo Phú sung ngân sách nhà nước.

Các tài sản khác một ví da màu đen, một giấy phép lái xe hạng A1, một giấy phép lái xe hạng B2; một Giấy đăng ký xe ô tô, một Giấy đăng ký xe mô tô, một căn cước công dân; một chìa khóa xe mô tô hiệu Airblade bị hại H không yêu cầu bồi thường nên không xem xét.

[2.5] Về xử lý vật chứng:

- Đối với 01 (một) cái đồng hồ đeo tay bằng kim loại màu trắng mặt đồng hồ có chữ; 01(một) nhẫn bằng kim loại màu trắng; 01 (một) dây lách bằng kim loại màu vàng dạng móc xích; 01 (một) sợi dây chuyền bằng kim loại màu vàng; 01 (một) căn cước công dân mang tên Hồ Minh P không liên quan đến việc phạm tội nên trả lại cho bị cáo là phù hợp. Tuy nhiên cần tiếp tục tạm giữ 01 (một) cái đồng hồ đeo tay bằng kim loại màu trắng mặt đồng hồ có chữ; 01(một) nhẫn bằng kim loại màu trắng; 01 (một) dây lách bằng kim loại màu vàng dạng móc xích; 01 (một) sợi dây chuyền bằng kim loại màu vàng của bị cáo P để đảm bảo cho việc thi hành án.

- Đối với 01 (một) con dao dài 34cm, có lưỡi bằng kim loại dài 22cm, cán bằng nhựa màu đen; 01(một) chìa khóa xe ô tô điều khiển từ xa bằng kim loại màu trắng, ốp nhựa màu đen có kích thước 7,5x04x1,5cm, chìa khóa được móc vào móc chìa khóa bằng kim loại màu trắng dài 07cm đã trả lại cho ông Lê Văn H là phù hợp.

- Đối với xe mô tô biển số 43C1-783.64 mà P dùng làm phương tiện đi trộm cắp tài sản: Qua điều tra xác định, xe mô tô này của anh Phùng D cho bị cáo P thuê vào ngày 17/01/2024, 01 (một) giấy pho tô căn cước công dân tên Trần Thị Thu T1; 01 (một) Giấy đăng ký xe mo tô 43C1-783.64 mang tên Trần Thị Thu T1 đã trả lại cho anh Phùng D là phù hợp.

[2.6] Những vấn đề liên quan trong vụ án:

Đối với xe mô tô biển số 43C1-783.64 mà P dùng làm phương tiện đi trộm cắp tài sản: Qua điều tra xác định, xe mô tô này của anh Phùng D cho bị cáo P thuê vào ngày 17/01/2024. Anh D không biết việc P dùng xe của mình làm phương tiện đi trộm cắp tài sản nên không có căn cứ để xử lý .

Đối với anh Trần Việt V: khi bán điện thoại Iphone Promax 128GB cho bị cáo P, anh V không biết số tiền mua điện thoại là do bị cáo P trộm cắp mà có nên không có căn cứ để xử lý.

[2.7] Về án phí: bị cáo Hồ Minh P phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

  1. Căn cứ khoản 1 Điều 173; điểm s khoản 1 Điều 51, điểm g, h khoản 1 Điều 52 và Điều 38; Điều 47, Điều 48 Bộ luật Hình sự 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017); Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị Quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

    Tuyên bố bị cáo Hồ Minh P phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

    Xử phạt: bị cáo Hồ Minh P 02 (Hai) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị cáo bị bắt ngày 19/01/2024.

  2. Xử lý vật chứng:
    • - Giao cho ông Lê Văn H được sở hữu chiếc điện thoại Iphone Promax 128GB màu đen.
    • - Trả lại cho bị cáo Hồ Minh P 01 (một) cái đồng hồ đeo tay bằng kim loại màu trắng mặt đồng hồ có chữ; 01(một) nhẫn bằng kim loại màu trắng; 01 (một) dây lách bằng kim loại màu vàng dạng móc xích; 01 (một) sợi dây chuyền bằng kim loại màu vàng; 01 (một) căn cước công dân mang tên Hồ Minh P. Tiếp tục tạm giữ 01 (một) cái đồng hồ đeo tay bằng kim loại màu trắng mặt đồng hồ có chữ; 01(một) nhẫn bằng kim loại màu trắng; 01 (một) dây lách bằng kim loại màu vàng dạng móc xích; 01 (một) sợi dây chuyền bằng kim loại màu vàng của bị cáo Hồ Minh P để đảm bảo cho việc thi hành án.
    • - Truy thu của bị cáo Hồ Minh P số tiền 4.234.000 (Bốn triệu hai trăm ba mươi bốn nghìn) đồng sung ngân sách nhà nước.

    (Vật chứng do Chi cục Thi hành án dân sự huyện Quế Sơn quản lý theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 08/4/2024)

  3. Về án phí: Bị cáo Hồ Minh P phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
  4. Quyền kháng cáo: Bị cáo, người tham gia tố tụng có mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án sơ thẩm. Người tham gia tố tụng vắng mặt có quyền kháng cáo bản án sơ thẩm trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án được tống đạt hợp lệ.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - Các cơ quan tiến hành TT;
  • - Phòng HSNV Sở tư pháp Q Nam;
  • - THADS huyện Quế Sơn
  • - Người tham gia TT;
  • - Lưu hồ sơ vụ án;
  • - Lưu án văn.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Thái Sương

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 14/2024/HS-ST ngày 23/05/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN QUẾ SƠN, TỈNH QUẢNG NAM về trộm cắp tài sản (criminal case)

  • Số bản án: 14/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản (Criminal Case)
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 23/05/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN QUẾ SƠN, TỈNH QUẢNG NAM
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Trộm cắp tài sản
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger