|
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN SÓC SƠN THÀNH PHỐ HÀ NỘI |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc ----------*&*---------- |
|
Bản án số: 14/2024/HNGĐ-ST Ngày: 23/04/2024 V/v: “Tranh chấp về hôn nhân và gia đình” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN SÓC SƠN - THÀNH PHỐ HÀ NỘI
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Ngô Minh Cường
Hội thẩm nhân dân:
- 1. Ông Dương Văn Xuyên
- 2. Ông Dương Trọng Phụ
- Thư ký Toà án ghi biên bản phiên toà: Bà Lê Thị Vân anh – Thư ký Toà án nhân dân huyện Sóc Sơn.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Sóc Sơn tham gia phiên toà: Ông Thiều Văn Thịnh – Kiểm sát viên
Ngày 23/04/2024, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Sóc Sơn xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 109/TLST-HNGĐ ngày 05 tháng 02 năm 2024 về việc “Tranh chấp về hôn nhân và gia đình”, theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 10/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 18/03/2024; Quyết định hoãn phiên tòa số 05/QĐST-HNGĐ ngày 03/04/2024, giữa các đương sự:1. Nguyên đơn: Chị Lâm Thị L, sinh năm 1993; Nơi cư trú: Thôn Y, xã H, huyện Sóc Sơn, thành phố Hà Nội.
2. Bị đơn: Anh Tạ Văn X, sinh năm 1987; Nơi cư trú: Thôn Y, xã H, huyện Sóc Sơn, thành phố Hà Nội.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
* Theo đơn khởi kiện đề ngày 26 tháng 01 năm 2024 và những lời khai tiếp theo tại Tòa án, nguyên đơn chị Lâm Thị L trình bày: Chị L kết hôn với anh Tạ Văn X tự do tìm hiểu, tự nguyện kết hôn và có đăng ký kết hôn. Sau khi kết hôn vợ chồng chị L về sống cùng gia đình chồng 01 thời gian đến năm 2017 thì chuyển ra ở riêng. Chung sống hạnh phúc được một thời gian ngắn thì vợ chồng phát sinh mâu thuẫn trầm trọng, vợ chồng đã được gia đình hai bên hòa giải nhưng không thành nên chính thức ly thân từ năm 2021 đến nay.
Nay chị L xác định hôn nhân không có hạnh phúc nên đề nghị Tòa án giải quyết cho ly hôn anh Tạ Văn X.
Về con chung: Vợ chồng có 02 con chung là Tạ Bảo K, sinh ngày 29/7/2013 và Tạ Thị Vân A, sinh ngày 19/7/2015. Chị L yêu cầu giao cháu Vân A cho chị trực tiếp nuôi dưỡng, giao cháu K cho anh X trực tiếp nuôi dưỡng, chị L không đề nghị Tòa án giải quyết cấp dưỡng nuôi con.
Về tài sản của vợ chồng, nợ chung, công sức: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.
* Bị đơn, anh Tạ Văn X không chấp hành các văn bản tố tụng, không có mặt theo giấy triệu tập của Tòa án.
Tại phiên toà: Chị Lâm Thị L giữ nguyên yêu cầu xin ly hôn anh Tạ Văn X.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Sóc Sơn phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán và Hội đồng xét xử, thư ký phiên tòa và các đương sự.
Về nội dung: Đề nghị Tòa án chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị L; Về con chung: Giao chị L trực tiếp nuôi dưỡng cháu Vân A, giao cho anh X trực tiếp nuôi dưỡng cháu K. Về cấp dưỡng nuôi con các bên không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Tòa án không giải quyết.
Về tài sản của vợ chồng, nợ chung, công sức: Các đương sự không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Về án phí: Chị L phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
[1] Về tố tụng: Tại đơn khởi kiện đề ngày 26/01/2024, chị Lâm Thị L yêu cầu Tòa án giải quyết yêu cầu ly hôn đối với anh Tạ Văn X - đây là tranh chấp về hôn nhân gia đình thuộc thẩm quyền thụ lý và giải quyết của Tòa án được quy định tại khoản 1 Điều 28 Bộ luật Tố tụng dân sự. Anh Tạ Văn X không chấp hành các văn bản tố tụng, không có mặt tại phiên tòa lần thứ hai vì vậy Tòa án tiến hành đưa vụ án ra xét xử và tống đạt Bản án cho anh X theo quay định của pháp luật.
[2] Về nội dung:
Chị Lâm Thị L kết hôn với anh Tạ Văn X trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã H, huyện Sóc Sơn,thành phố Hà Nội ngày 03/01/2013 do vậy đây là cuộc hôn nhân hợp pháp. Quá trình chung sống đến năm 2016 thì vợ chồng xẩy ra mâu thuẫn; nguyên nhân mâu thuẫn theo chị L khai ban đầu do bất đồng với chị dâu và mẹ chồng. Năm 2017, vợ chồng ở riêng nhưng vợ chồng vẫn xẩy ra mâu thuân do không thống nhất với nhau về cách làm ăn kinh tế và cách nuôi dạy con. Năm 2022 chị L đã gửi đơn ly hôn nhưng sau đó rút đơn, Tòa án huyên S đã đình chỉ giải quyết vụ án nhưng quan hệ vợ chồng vẫn không được cải thiện, hai bên không có trách nhiệm, nghĩa vụ gì với nhau kể từ đó đến nay.
Xét thấy, mâu thuẫn vợ chồng chị L và anh X đã trầm trọng, mục đích hôn nhân của hai bên không đạt được vì vậy cần chấp nhận đơn yêu cầu của chị L - giải phóng hôn nhân để hai bên sớm ổn định cuộc sống riêng.
Về con chung: Chị Lâm Thị L và anh Tạ Văn X có 02 con chung là Tạ Bảo K, sinh ngày 29/7/2013 và Tạ Thị Vân A, sinh ngày 19/7/2015. Ly hôn, chị L có nguyện vọng được trực tiếp nuôi dưỡng cháu Vân A và để cho anh X trực tiếp nuôi cháu K; hai bên không phải cấp dưỡng nuôi con chung cho nhau.
Xét thấy yêu cầu nuôi con của chị L là chính đáng, cần giao con chung cho các bên nuôi theo nư yêu cầu của chị L; tạm hoãn việc cấp dưỡng nuôi con chung cho các bên đến khi có quyết định khác của Tòa án.
Về tài sản của vợ chồng, nợ chung, công sức: Chị L không yêu cầu nên không đặt ra giải quyết.
[3] Về án phí: Chị L được chấp nhận yêu cầu nên phải nộp án phí loại không có giá ngạch để sung ngân sách Nhà nước.
[4] Về quyền kháng cáo: Các đương sự có quyền kháng cáo Bản án theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên.
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ Điều 51, 56; Điều 81, Điều 82, 83 Luật Hôn nhân gia đình; Khoản 1 điều 28, điều 35, 39; Điều 203, 271, 273 Bộ luật Tố tụng dân sự Bộ luật tố tụng dân sự; Nghị Quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Xử:
- Chấp nhận đơn khởi kiện của chị Lâm Thị L đối với anh Tạ Văn X; Chị Lâm Thị L được ly hôn anh Tạ Văn X - quan hệ hôn nhân của hai bên chấm dứt kể từ khi Bản án có hiệu lực pháp luật.
- Về con: Xác định chị Lâm Thị L và anh Tạ Văn X có 02 con chung là Tạ Bảo K, sinh ngày 29/7/2013 và Tạ Thị Vân A, sinh ngày 19/7/2015.
Ly hôn, giao chị L trực tiếp nuôi dưỡng cháu Vân A; giao cho anh X trực tiếp nuôi dưỡng cháu K. Tạm hoãn việc cấp dưỡng nuôi con chung cho hai bên đến khi có quyết định khác của Tòa án.
Hai bên đều có quyền đi lại, chăm sóc con chung không ai được ngăn cản.
- Về tài sản của vợ chồng, nợ chung, công sức: Các bên không yêu cầu nên không đặt ra giải quyết.
- Về án phí ly hôn sơ thẩm: 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) chị L phải chịu cả để sung ngân sách Nhà nước nhưng được trừ vào số tiền 300.000đ tiền tạm ứng án phí chị đã nộp theo biên lai thu số 0022318, ký hiệu BLTU/23 ngày 02/02/2024 tại Chi cục thi hành án Dân sự huyện Sóc Sơn.
- Án xử sơ thẩm công khai, chị L có quyền kháng cáo Bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án; anh X có quyền kháng cáo Bản án trong hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản tống đạt hợp lệ.
|
Nơi nhân:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa Ngô Minh Cường |
Bản án số 14/2024/HNGĐ-ST ngày 23/04/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN SÓC SƠN - THÀNH PHỐ HÀ NỘI về tranh chấp về hôn nhân và gia đình
- Số bản án: 14/2024/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp về hôn nhân và gia đình
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 23/04/2024
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN SÓC SƠN - THÀNH PHỐ HÀ NỘI
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Tranh chấp ly hôn, nuôi con
