TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẮC GIANG TỈNH BẮC GIANG | CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc ———————————— |
Bản án số: 14/2024/HNGĐ-ST
Ngày: 22-4-2024
V/v Ly hôn giữa anh Thiêm và
chị Hải
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẮC GIANG, TỈNH BẮC GIANG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Tạ Thị Thu Thuỷ
Các Hội thẩm nhân dân:
- Ông Nguyễn Văn Tư
- Bà Hoàng Thị Hồng
Thư ký phiên tòa: Ông Đặng Văn Hưng - Thư ký Toà án nhân dân thành phố Bắc Giang, tỉnh Bắc Giang.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bắc Giang, tỉnh Bắc Giang tham gia phiên toà: Bà Trần Thị Huệ - Kiểm sát viên.
Trong ngày 22 tháng 4 năm 2024 tại trụ sở Toà án nhân dân thành phố Bắc Giang, tỉnh Bắc Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 03/2024/TLST-HNGĐ ngày 02 tháng 01 năm 2024 về “Ly hôn, tranh chấp nuôi con chung", theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 16/2024/QĐXX-ST ngày 03 tháng 4 năm 2024, giữa:
- * Nguyên đơn: Anh Hà Văn T, sinh năm 1974 (Xin vắng mặt)
- * Bị đơn: Chị Nguyễn Thị Thanh H, sinh năm 1980 (Xin vắng mặt)
Cùng địa chỉ: Số nhà D, đường N, tổ dân phố T, phường X, thành phố B, tỉnh Bắc Giang.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Tại đơn khởi kiện đề ngày 07/12/2023, các lời khai tiếp theo, nguyên đơn anh Hà Văn T trình bày: Anh và chị Nguyễn Thị Thanh H đăng ký kết hôn ngày 05/01/2005 tại Ủy ban nhân dân xã L, huyện T, tỉnh Bắc Giang. Việc kết hôn hoàn toàn tự nguyện, có tổ chức lễ cưới hỏi theo phong tục tập quán của địa phương. Sau khi kết hôn vợ chồng anh về chung sống với nhau tại phường X, thành phố B. Thời gian đầu tình cảm vợ chồng hòa thuận, hạnh phúc. Mâu thuẫn của vợ chồng phát sinh từ năm 2014, nguyên nhân do bất đồng quan điểm sống, chị H đã bỏ về nhà bố mẹ đẻ ở thị trấn B, huyện V sinh sống. Từ năm 2020 đến nay vợ chồng anh sống ly thân, không còn quan tâm chăm sóc lẫn nhau, hai bên gia đình đã hòa giải nhiều lần nhưng không thành. Nay anh xác định tình cảm vợ chồng không còn, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được nên yêu cầu Tòa án giải quyết cho anh được ly hôn với chị H.
Về con chung: Anh và chị H có 02 con chung là cháu Hà Thị Minh H1, sinh ngày 16/9/2005 và cháu Hà Phú T1, sinh ngày 12/12/2012, hiện nay các cháu đang ở với anh. Cháu H1 đã trưởng thành, khỏe mạnh và phát triển bình thường anh không yêu cầu giải quyết. Anh đề nghị được tiếp tục nuôi cháu T1 và yêu cầu chị H cấp dưỡng nuôi con 2.000.000 đồng/tháng kể từ ngày 01/3/2024 đến khi cháu T1 đủ 18 tuổi. Hiện nay anh là công chức, công tác tại Sở Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn tỉnh B, thu nhập 12 triệu đồng/tháng, đủ điều kiện để nuôi con.
Về tài sản chung, nghĩa vụ chung về tài sản: Vợ chồng anh không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
- Bị đơn, chị Nguyễn Thị Thanh H có lời khai trình bày về thời gian kết hôn và quá trình chung sống đúng như anh T trình bày. Năm 2018 vợ chồng chị mâu thuẫn do kinh tế và công việc, từ năm 2019 đến nay vợ chồng sống ly thân, không còn quan tâm chăm sóc lẫn nhau. Nay anh T xin ly hôn chị đồng ý ly hôn.
Về con chung: Vợ chồng chị có 02 con chung là cháu Hà Thị Minh H1, sinh ngày 16/9/2005 và cháu Hà Phú T1, sinh ngày 12/12/2012, hiện các cháu đang ở với anh T, cháu H1 đã trưởng thành, anh T có nguyện vọng được nuôi cháu T1 và yêu cầu chị cấp dưỡng nuôi con 2.000.000 đồng/tháng đến khi con chung đủ 18 tuổi chị nhất trí.
Về tài sản chung, nghĩa vụ chung về tài sản: Vợ chồng chị không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bắc Giang tham gia phiên tòa xét xử sơ thẩm, phát biểu ý kiến:
Quá trình giải quyết vụ án từ khi thụ lý đến trước khi mở phiên tòa, Thẩm phán và Thư ký Tòa án tuân theo đúng trình tự tố tụng. Tại phiên tòa Hội đồng xét xử sơ thẩm thực hiện đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự. Về phía các đương sự, nguyên đơn thực hiện đúng quyền và nghĩa vụ của mình, cả nguyên đơn và bị đơn xin xét xử vắng mặt. Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 56, Điều 81, Điều 82, Điều 83, Điều 110, Điều 116 của Luật Hôn nhân và gia đình, Điều 147, khoản 1 Điều 227, khoản 1 Điều 228, Điều 238, Điều 271, Điều 272 và Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, xử:
- Về quan hệ hôn nhân: Cho anh Hà Văn T được ly hôn chị Nguyễn Thị Thanh H.
- Về nuôi con chung: Giao cho anh Hà Văn T trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng cháu Hà Phú T1, sinh ngày 12/12/2012.
- Về cấp dưỡng nuôi con chung: Chị H có trách nhiệm cấp dưỡng nuôi cháu T1 2.000.000 đồng (Hai triệu đồng)/tháng kể từ tháng 5/2024 đến khi cháu T1 đủ 18 tuổi.
- Về tài sản chung, nghĩa vụ chung về tài sản: Các đương sự không yêu cầu giải quyết nên không xem xét.
Ngoài ra còn đề xuất giải quyết về án phí và quyền kháng cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và được thẩm tra chứng cứ tại phiên tòa, căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về tố tụng:
[1.1] Về quan hệ pháp luật và thẩm quyền giải quyết: Anh Hà Văn T có đơn xin ly hôn chị Nguyễn Thị Thanh H. Chị Hải đăng k hộ khẩu thường trú tại phường X, thành phố B, tỉnh Bắc Giang nên quan hệ pháp luật là “Ly hôn, tranh chấp nuôi con chung” quy định tại khoản 1 Điều 28 của Bộ luật Tố tụng dân sự và thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Bắc Giang, tỉnh Bắc Giang quy định tại khoản 1 Điều 35 và khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
[1.2] Anh Hà Văn T là nguyên đơn và chị Nguyễn Thị Thanh H là bị đơn đều có xin xét xử vắng mặt nên Hội đồng xét xử căn cứ khoản 2 Điều 227, Điều 228 và Điều 238 của Bộ luật Tố tụng dân sự xét xử vắng mặt tất cả các đương sự.
[2] Về quan hệ hôn nhân: Anh Hà Văn T và chị Nguyễn Thị Thanh H đăng ký kết hôn ngày 05/01/2005 tại Ủy ban nhân dân xã L, huyện T, tỉnh Bắc Giang trên cơ sở được tự do tìm hiểu và hoàn toàn tự nguyện nên hôn nhân giữa anh T và chị H là hôn nhân hợp pháp. Quá trình chung sống phát sinh nhiều mâu thuẫn do bất đồng quan điểm nên anh T và chị H đã chấm dứt quan hệ tình cảm và kinh tế, sống ly thân từ năm 2020 đến nay, hai bên gia đình đã hòa giải nhiều lần nhưng không thành. Nay anh T xét thấy tình cảm vợ chồng không còn, không thể đoàn tụ được và xin ly hôn. Chị H cũng xác nhận vợ chồng có mâu thuẫn và đồng ý ly hôn. Điều đó chứng tỏ cuộc sống vợ chồng giữa anh T và chị H đã đến mức trầm trọng, cuộc sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Do vậy cần căn cứ Điều 56 của Luật Hôn nhân và gia đình. Cho anh Hà Văn T được ly hôn chị Nguyễn Thị Thanh H.
[3] Về con chung: Anh Hà Văn T và chị Nguyễn Thị Thanh H có 2 con chung là cháu Hà Thị Minh H1, sinh ngày 16/9/2005 và cháu Hà Phú T1, sinh ngày 12/12/2012, hiện các cháu đang ở với anh T, cháu H1 đã trưởng thành, anh T có nguyện vọng được nuôi cháu T1, cháu T1 cũng có nguyện vọng ở với anh T và chị H cũng đồng ý, ngoài ra anh T2 là công chức, có thu nhập ổn định nên để bảo quyền lợi cho con chưa thành niên, cần căn cứ Điều 81, Điều 82, Điều 83 của Luật hôn nhân và gia đình giao cháu T1 cho anh T tiếp tục nuôi dưỡng là phù hợp.
[4] Anh T yêu cầu chị H cấp dưỡng nuôi cháu T1 2.000.000 đồng/tháng kể từ tháng 5/2024 đến khi con chung đủ 18 tuổi chị H cũng nhất trí nên chấp nhận sự thỏa thuận của các đương sự.
Về tài sản chung, nghĩa vụ chung về tài sản: Các đương sự không yêu cầu giải quyết nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét, giải quyết.
[5] Về án phí: Căn cứ khoản 4 Điều 147 của Bộ luật Tố tụng dân sự; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/NQ-UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Toà án: Anh T phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm, xác nhận anh T đã nộp đủ, chị H phải chịu án phí cấp dưỡng nuôi con.
[6] Các đương sự có quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ Điều 51, Điều 56, Điều 81, Điều 82, Điều 83, Điều 110, Điều 116 của Luật Hôn nhân và gia đình; khoản 1 Điều 28, khoản 1 Điều 35, khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147, khoản 2 Điều 227, Điều 228, Điều 238, Điều 271, Điều 272 và Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/NQ-UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Toà án, xử:
- Về quan hệ hôn nhân: Cho anh Hà Văn T được ly hôn chị Nguyễn Thị Thanh H.
- Về nuôi con chung: Giao cho anh Hà Văn T trực tiếp chăm sóc nuôi dưỡng cháu Hà Phú T1, sinh ngày 12/12/2012. Chị H phải cấp dưỡng nuôi con chung 2.000.000 đồng (hai triệu đồng)/tháng kể từ tháng 5/2024 đến khi cháu T1 đủ 18 tuổi. Chị H có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung không ai được cản trở quyền này.
- Về án phí: Anh Hà Văn T phải chịu 300.000 đồng tiền án phí ly hôn sơ thẩm, anh T được trừ vào số tiền 300.000 đồng đã nộp tại Biên lai thu tiền tạm ứng án phí số 0001540 ngày 02/01/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Bắc Giang, tỉnh Bắc Giang.
Chị Nguyễn Thị Thanh H phải chịu 300.000 đồng tiền án phí cấp dưỡng nuôi con.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 - Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6; 7; 7a; 7b và 9 - Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 - Luật thi hành án dân sự.
4.Về quyền kháng cáo: Các đương sự vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được tống đạt bản án hoặc kể từ ngày niêm yết bản án theo quy định pháp luật.
Nơi nhận:
| T/M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Tạ Thị Thu Thuỷ |
Bản án số 14/2024/HNGĐ-ST ngày 22/04/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẮC GIANG, TỈNH BẮC GIANG về ly hôn, tranh chấp nuôi con chung
- Số bản án: 14/2024/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Ly hôn, tranh chấp nuôi con chung
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 22/04/2024
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẮC GIANG, TỈNH BẮC GIANG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Thiêm - Hải
