|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NHƯ XUÂN TỈNH THANH HÓA |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số 14/2025/HS-ST
Ngày: 15-04-2025.
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NHƯ XUÂN - TỈNH THANH HÓA
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thu Hằng
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Xuân Ký
Ông Lê Cảnh Ái
- Thư ký phiên tòa: Ông Lê Quang Tùng - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Như Xuân.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Như Xuân tham gia phiên tòa: Bà Quách Thị Vân - Kiểm sát viên.
Ngày 15 tháng 04 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Như Xuân xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 08/2025/TLST- HS ngày 11 tháng 03 năm 2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 09/2025/QĐXXST - HS ngày 01 tháng 04 năm 2025 đối với bị cáo:
1. Đinh Văn Đ, T gọi khác: Không, sinh ngày 16/08/1985 tại Quận K, Tp Hải Phòng; Nơi cư trú: thôn T, xã T, Quận K, TP. Hải Phòng. Chỗ ở hiện nay: Phân trại số 1, Trại giam T3. Nghề nghiệp: Phạm Nhân; Trình độ học vấn: 09/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Số CCCD: [...]; Con ông Đinh Văn Đ1 và bà Vũ Thị H; Tiền sự: Không; Tiền án: 03. Cụ thể:- Bản án số 07/2010/HS-ST ngày 11/01/2011 của của Tòa án nhân dân Thành phố Hải Phòng, xử phạt Đinh Văn Đ 05 năm tù về tội: Trộm cắp tài sản. - Bản án số 07/2018/HSST ngày 29/5/2018 của Tòa án nhân dân quận Dương Kinh, thành phố Hải Phòng, xử phạt Đinh Văn Đ 04 năm 06 tháng tù về tội: Cướp giật tài sản.- Bản án số 60/2024/HSST ngày 13/3/2024 của Toà án nhân dân quận Ngô Quyền, thành phố Hải Phòng, xử phạt Đinh Văn Đ 06 năm tù về tội: Tàng trữ trái phép chất ma tuý. Bị cáo đang chấp hành hình phạt tù tại Trại giam T3, Cục C2, Bộ C3. Ngày 27/03/2025, Bị cáo được trích xuất từ Trại giam T3 đến Trại tạm giam công an tỉnh T cho đến nay. Có mặt.
2. Quàng Văn T1, T gọi khác: Không, sinh ngày 05/08/1981 tại huyện M, tỉnh Sơn La; Nơi cư trú: Bản U, xã M, huyện M, tỉnh Sơn La. Chỗ ở hiện nay: Phân trại số 1, Trại giam T3. Nghề nghiệp: Phạm Nhân; Trình độ học vấn: 0/12; Dân tộc: Thái; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Số CCCD: [...]; Con ông Quàng Văn Ó và bà Tòng Thị C; H1 và tên vợ: Cà Thị D – Sinh năm: 1988 và 01 con sinh năm 2011; Tiền sự: Không; Tiền án: 04.
Bản án số 06/2006/HS-ST ngày 17/01/2006 của của Tòa án nhân dân huyện Mai Sơn, tỉnh Sơn La, xử phạt Quàng Văn T1 48 tháng tù về tội: “Cướp giật tài sản".
Bản án số 90/2016/HSST ngày 21/9/2016 của Tòa án nhân dân huyện Yên Châu, tỉnh Sơn La, xử phạt Quàng Văn T1 36 tháng tù về tội: “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”.
Bản án số 30/2022/HSST ngày 12/01/2022 của Toà án nhân dân huyện Mai Sơn, tỉnh Sơn La, xử phạt Quàng Văn T1 18 tháng tù về tội: “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”.
Bản án số 140/2023/HSST ngày 20/9/2023 của Toà án nhân dân huyện Mai Sơn, tỉnh Sơn La, xử phạt Quàng Văn T1 05 năm 06 tháng tù về tội: “Tàng trữ trái phép chất ma tuý".
Về nhân thân: Năm 2003, Ủy ban nhân dân tỉnh S đưa Quàng Văn T1 vào cơ sở giáo dục bắt buộc thời hạn 24 tháng. Năm 2021, Quàng Văn T1 bị Công an Thành phố S, tỉnh Sơn La ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính bằng hình thức phạt tiền về hành vi Tàng trữ trái phép chất ma tuý.
Bị cáo đang chấp hành hình phạt tù tại Trại giam T3, Cục C2, Bộ C3. Ngày 27/03/2025, Bị cáo được trích xuất từ Trại giam T3 đến trại tạm giam công an tỉnh T cho đến nay. Có mặt.
- Người tham gia tố tụng khác:
- Người làm chứng:
-
Anh Nguyễn Thành L – Sinh năm: 1985.
Địa chỉ: Cán bộ P, Trại giam T3, Cục C2, Bộ C3.
-
Nguyễn Hữu Đ2 – Sinh năm: 1980.
Địa chỉ: Phạm nhân P, Trại giam T3, Cục C2, Bộ C3.
-
Đào Anh D1 – Sinh năm: 1977.
Địa chỉ: Phạm nhân P, Trại giam T3, Cục C2, Bộ C3.
-
Nguyễn Văn T2 – Sinh năm: 1985.
Địa chỉ: Phạm nhân P, Trại giam T3, Cục C2, Bộ C3.
-
Trần Quốc H2 – Sinh năm: 1971.
Địa chỉ: Phạm nhân P, Trại giam T3, Cục C2, Bộ C3.
Tại phiên tòa, người làm chứng gồm: Anh L, anh Đ2, anh D1, anh T2, anh H2 đều vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Đinh Văn Đ và Quàng Văn T1 đều là phạm nhân đang chấp hành án tại Phân trại số A, Trại giam T3, Cục C2, Bộ C3. Tối ngày 28/11/2024, trong lúc chơi cờ tướng giải trí với nhau trong buồng giam thì Đ và T1 đã xảy ra mâu thuẫn cá nhân, nên hẹn nhau sáng hôm sau sẽ ra xưởng lao động để giải quyết. Khoảng 06 giờ 45 phút ngày 29/11/2024, đội phạm nhân số 8, Phân trại số 1, do quản giáo Nguyễn Thành L quản lý, xuất trại đưa các phạm nhân đến xưởng để lao động. Sau khi phạm nhân thay quần áo để lao động thì Đ và T1 gặp nhau nên tiếp tục khiêu khích, Đ nói với T1: “mày ra đây tao bảo”, T1 đáp lại: “mày thích thật không"; đồng thời T1 cúi xuống tay phải nhặt nửa viên gạch, tay trái nhặt một viên gạch còn nguyên, tiến lại gần Đương. T1 dùng Tay phải ném nửa viên gạch về phía Đ nhưng không trúng mà trúng vào bờ tường. Hai người lao vào vật lộn, đánh nhau, tay phải Đ sử dụng một chiếc kéo (là dụng cụ lao động của phạm nhân) đâm về phía T1 trúng vào vùng má bên trái, hai người ôm chặt lấy nhau, Đ tiếp tục dùng kéo đâm ba phát trúng vào vùng sau lưng của T1. Trong lúc giằng co, ôm ghì để đánh nhau, thì T1 dùng răng, miệng cắn mạnh vào vùng cằm bên trái của Đ. Lúc này cán bộ quản giáo và các phạm nhân khác phát hiện, can ngăn kéo hai người tách rời nhau. Đương và T1 được đưa đến bộ phận y tế của Phân trại để xử lý vết thương. Do vết thương chảy nhiều máu nên T1 được đưa đi điều trị tại bệnh viện đã khoa huyện N, tỉnh Thanh Hóa. Kết quả xem xét dấu vết trên thân thể Quàng Văn T1 có các dấu vết sau: 01 vết thương tại gò má bên trái, cách cánh mũi 5cm, dài 1cm, rộng 0,5 cm, sâu không xác định; 01 vết xước da dưới cằm phía bên trái kích thước (1 x 0,5) cm; 01 vết thương tại vùng vai phía sau lưng bên trái dài 1cm, rộng 0,3 cm, sâu không xác định; 01 vết thương mặt ngoài hố nách trái dài 0,6 cm, rộng 0,3 cm, sâu không xác định; 01 vết thương tại vai trái, dài 0,5 cm, rộng 0,6 cm, sâu không xác định; 01 vết xước da tại cùi trỏ cánh tay trái kích thước (0,5 х 0,5) cm; Gẫy 01 chiếc răng số 7 hàm trên bên trái.
Kết luận giám định số 9765/KL-KTHS ngày 19/12/2024 của V Bộ C3 kết luận: Tổng tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể của Quàng Văn T1 tại thời điểm giám định là 10%. Cơ chế hình thành thương tích: Tổn thương gây mất răng của Quàng Văn T1 do vật tày gây nên. Các tổn thương còn lại trên cơ thể do vật có thiết diện hẹp gây nên.
Kết quả xem xét dấu vết trên thân thể Đinh Văn Đ có các dấu vết sau: 01 vết thương tại vị trí quay hàm bên má bên trái, phía dưới tai trái, kích thước (4 x 1,5 x 0,5) cm; 01 vết xước da tại vị trí má bên trái, các khóe miệng bên trái 2 cm, kích thước (1,5 x 0,3) cm; 01 vết xước da tại vị trí đỉnh gò má bên trái, kích thước (1,2 x 0,3) cm; 01 vết xước da tại vị trí thái dương bên trái, kích thước (1 x 0,7) cm; 01 vết xước da tại vị trí trán trái kích thước (2,5 x 0,5) cm; 01 vết xước da má trái, cách cánh mũi 1 cm, kích thước (1,5 x 0,4) cm; 01 vết thương ngón út chân trái kích thước (2 x 0,6) cm.
Kết luận giám định số 9764/KL-KTHS ngày 17/12/2024 của V Bộ C3 xác định: Tổng tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể của Đinh Văn Đ tại thời điểm giám định là 06%. Cơ chế hình thành thương tích: Các tổn thương trên cơ thể của Đinh Văn Đ do vật tày gây ra.
Việc thu giữ, tạm giữ tài liệu, đồ vật; xử lý vật chứng:
Thu giữ 01 viên gạch vỡ màu đỏ dài khoảng 08 cm, một bên màu đen, một bên cạnh sắc nhọn, một bên phẳng; 01 viên gạch, dài 22 cm, rộng 10 cm, dày 5 cm, các mặt phẳng, một góc của viên gạch đã bị sứt mẻ từ trước; 01 cái kéo bằng kim loại dài 15 cm, lưỡi kéo sắc nhọn dài 05 cm, cán kéo dài 10cm, một bên kéo được bọc nhựa màu xanh, một bên kéo được quấn dây màu vàng, phần cán kéo hình cong.
Vật chứng được chuyển đến kho vật chứng Chi cục thi hành án dân sự huyện Như Xuân bảo quản chờ xử lý theo quy định.
Bản cáo trạng số 10/CT-VKSNX ngày 10/03/2025 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Như Xuân truy tố Đinh Văn Đ và Quàng Văn T1 về tội “Cố ý gây thương tích” theo điểm d khoản 2 Điều 134 của Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa, các bị cáo Đinh Văn Đ và Quàng Văn T1 giữ nguyên lời khai trong giai đoạn điều tra và khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình, thừa nhận bản cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Như Xuân, tỉnh Thanh Hóa truy tố là hoàn toàn đúng với hành vi mà các bị cáo đã thực hiện.
Tại phiên toà Đinh Văn Đ và Quàng Văn T1 đều không có yêu cầu gì về việc bồi thường dân sự. Cả hai bị cáo Đ và T1 đều nhận thấy hành vi của mình là sai, quá trình điều tra cả hai bị cáo đều đã có đơn và tại phiên toà đều xin giảm nhẹ hình phạt cho nhau.
Đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố tại phiên tòa giữ nguyên quan điểm truy tố, hành vi của các bị cáo Đinh Văn Đ và Quàng Văn T1 đủ yếu tố cấu thành tội “Cố ý gây thương tích”, đồng thời đề nghị Hội đồng xét xử:
Tuyên bố: Các bị cáo Đinh Văn Đ và Quàng Văn T1 phạm tội “Cố ý gây thương tích",
Áp dụng: Điểm d khoản 2 Điều 134; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 50, khoản 2 Điều 56; Điều 38 của Bộ luật hình sự đối với Đinh Văn Đ và Quàng Văn T1.
Xử phạt: Bị cáo Đinh Văn Đ với mức án từ 2 (Hai) năm 6 (S) tháng đến 2 (Hai) năm 9 (C1) tháng tù.
Xử phạt: Bị cáo Quàng Văn T1 với mức án từ 2 (Hai) năm 3 (Ba) tháng đến 2 (Hai) năm 6 (Sáu) tháng tù.
Về xử lý vật chứng:
Áp dụng Điều 106 Bộ luật TTHS, Điều 47 BLHS.
+ Đề nghị Tịch thu tiêu huỷ:
01 viên gạch vỡ màu đỏ dài khoảng 08 cm, một bên màu đen, một bên cạnh sắc nhọn, một bên phẳng; 01 viên gạch, dài 22 cm, rộng 10 cm, dày 5 cm, các mặt phẳng, một góc của viên gạch đã bị sứt mẻ từ trước; 01 cái kéo bằng kim loại dài 15 cm, lưỡi kéo sắc nhọn dài 05 cm, cán kéo dài 10cm, một bên kéo được bọc nhựa màu xanh, một bên kéo được quấn dây màu vàng, phần cán kéo hình cong.
Về trách nhiệm dân sự: Đề nghị HĐXX không xem xét.
Ngoài ra, đại diện Viện kiểm sát còn đề nghị Hội đồng xét xử buộc các bị cáo phải nộp án phí hình sự.
Các bị cáo không bào chữa và thống nhất không có ý kiến tranh luận gì.
Lời nói sau cùng: Các bị cáo biết hành vi của các bị cáo là sai, là vi phạm pháp luật. Các bị cáo đều đề nghị hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo để các bị cáo có cơ hội sửa chữa lỗi lầm, sớm được trở về với cộng đồng và xã hội.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Như Xuân, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Như Xuân, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có người nào có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Về tội danh: Khoảng 06 giờ 45 phút ngày 29/11/2024 tại hiện trường lao động của đội phạm nhân số H, P, Trại giam T3. Đinh Văn Đ và Quàng Văn T1 xảy ra mâu thuẫn, nên cả hai xông vào xô xát đánh nhau; trong lúc đánh nhau Đinh Văn Đ sử dụng hung khí nguy hiểm là chiếc kéo đâm vào vùng mặt và lưng của Quàng Văn T1 gây thương tích, tỷ lệ tổn thương cơ thể đối với Quàng Văn T1 là 10%. Quàng Văn T1 dùng răng miệng cắn mạnh vào vùng cằm, dưới dái tai bên trái của Đinh Văn Đ gây thương tích, tỷ lệ tổn thương cơ thể đối với Đinh Văn Đ là 6%. Lời khai nhận tội của các bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của các bị cáo tại cơ quan điều tra, phù hợp với lời khai của những người làm chứng về địa điểm, thời gian và diễn biến hành vi phạm tội, phù hợp với nội dung của bản cáo trạng và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. [3] Các bị cáo Đinh Văn Đ và Quàng Văn T1 là những người có đủ năng lực trách nhiệm hình sự, bản thân các bị cáo đều đang là phạm nhân chấp hành án tại Trại giam T3. Các bị cáo đều đã có nhiều lần phạm tội và đang phải chấp hành án. Lẽ ra các bị cáo phải lấy đó làm bài học để nỗ lực rèn luyện cải tạo tốt để sớm được trở về với cộng đồng và xã hội. Nhưng với bản chất coi thường pháp luật, chỉ vì những mâu thuẫn nhỏ trong sinh hoạt mà các bị cáo tiếp tục thực hiện hành vi gây thương tích cho người khác, Đinh Văn Đ dùng hung khí nguy hiểm là chiếc kéo đâm vào vùng mặt và lưng của Quàng Văn T1, tỷ lệ tổn thương cơ thể mà Đinh Văn Đ gây ra đối với Quàng Văn T1 là 10%, tỷ lệ tổn thương cơ thể mà Quàng Văn T1 gây ra đối với Đinh Văn Đ là 6%. Mặc dù thương tích mà các bị cáo gây ra cho nhau đều dưới 11%. Nhưng Tại thời điểm thực hiện hành vi phạm tội gây thương tích lần này, Đinh Văn Đ và Quàng Văn T1 đều đã tái phạm, chưa được xóa án tích lại thực hiện hành vi phạm tội do cố ý, do đó cả hai bị cáo đều thuộc trường hợp tái phạm nguy hiểm. Nên các bị cáo phải chịu trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm d khoản 2, Điều 134 Bộ luật hình sự. Quan điểm truy tố của Viện kiểm sát là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
[4] Xét tính chất của vụ án: Về tính chất, mức độ hành vi và hậu quả: Hành vi của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm quyền được bảo hộ về sức khoẻ của con người được pháp luật bảo vệ, làm mất an ninh trật tự tại Trại giam T3, nơi các bị cáo đang chấp hành án, đang thực hiện việc cải tạo rèn luyện để được trở về với cộng đồng xã hội. Hành vi của các bị cáo còn gây hoang mang tinh thần đối với các phạm nhân khác, ảnh hưởng xấu đến môi trường lao động, cải tạo giáo dục phạm nhân, vi phạm nội quy quản lý của trại giam và ảnh hưởng xấu đến trật tự an toàn xã hội trên địa bàn. Các bị cáo nhận thức hành vi gây thương tích cho người khác là vi phạm pháp luật nhưng chỉ vì mâu thuẫn nhỏ trong sinh hoạt mà cả hai bất chấp pháp luật, vẫn cố ý thực hiện hành vi phạm tội. Vì vậy, cần phải có đường lối xử lý nghiêm khắc đối với từng bị cáo để cải tạo, giáo dục các bị cáo và phòng ngừa tội phạm chung, đồng thời cách ly các bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian là cần thiết.
[5] Xét về nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, về tính chất đồng phạm và vai trò của các bị cáo thì thấy rằng:
Về nhân thân: Cả Đinh Văn Đ và Quàng Văn T1 đều có nhân thân xấu, các bị cáo đều có nhiều tiền án. Hiện đang chấp hành án tại Trại Giam T3. Cụ thể:
Bị cáo Đinh Văn Đ không có Tiền sự; Nhưng bị cáo có 03 Tiền án:
- Bản án số 07/2010/HS - ST ngày 11/01/2011 của Tòa án nhân dân Thành phố Hải Phòng, xử phạt 05 năm tù về tội: Trộm cắp tài sản.
- Bản án số 07/2018/HSST ngày 29/5/2018 của Tòa án nhân dân quận Dương Kinh, thành phố Hải Phòng, xử phạt 04 năm 06 tháng tù về tội: Cướp giật tài sản.
- Bản án số 60/2024/HSST ngày 13/3/2024 của Toà án nhân dân quận Ngô Quyền, Thành phố Hải Phòng, xử phạt Đinh Văn Đ 06 năm tù về tội: Tàng trữ trái phép chất ma tuý.
Bị cáo Quàng Văn T1 không có Tiền sự; Nhưng bị cáo có 04 Tiền án:
- Bản án số 06/2006/HS-ST ngày 17/01/2006 của của Tòa án nhân dân huyện Mai Sơn, tỉnh Sơn La, xử phạt Quàng Văn T1 48 tháng tù về tội: “Cướp giật tài sản”.
- Bản án số 90/2016/HSST ngày 21/9/2016 của Tòa án nhân dân huyện Yên Châu, tỉnh Sơn La, xử phạt Quàng Văn T1 36 tháng tù về tội: “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”.
- Bản án số 30/2022/HSST ngày 12/01/2022 của Toà án nhân dân huyện Mai Sơn, tỉnh Sơn La, xử phạt Quàng Văn T1 18 tháng tù về tội: “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”.
- Bản án số 140/2023/HSST ngày 20/9/2023 của Toà án nhân dân huyện Mai Sơn, tỉnh Sơn La, xử phạt Quàng Văn T1 05 năm 06 tháng tù về tội: “Tàng trữ trái phép chất ma tuý".
Về nhân thân: Năm 2003, Ủy ban nhân dân tỉnh S đưa Quàng Văn T1 vào cơ sở giáo dục bắt buộc thời hạn 24 tháng. Năm 2021, Quàng Văn T1 bị Công an thành phố S, tỉnh Sơn La ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính bằng hình thức phạt tiền về hành vi Tàng trữ trái phép chất ma tuý.
Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, các bị cáo Đinh Văn Đ và Quàng Văn T1 đều thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi của mình. Vì vậy cần xem xét áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho các bị cáo theo điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ Luật hình sự. Mặt khác bị cáo Đ và T1 trong vụ án này vừa là bị cáo, nhưng đồng thời cả hai cũng là người bị hại trong vụ án. Sau khi sự việc xảy ra các bị cáo đều đã có đơn xin đề nghị giảm nhẹ hình phạt và đơn không yêu cầu bồi thường dân sự đối với hành vi gây thương tích của bị cáo khác gây ra đối với mình. Riêng đối với bị cáo Quàng Văn T1, bản thân bị cáo không biết chữ, bị cáo lại là người dân tộc thiểu số. Do đó các bị cáo Đ và T1 còn được hưởng thêm các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại khoản 2 điều 51 Bộ luật hình sự.
Về tình tiết tăng nặng: Các bị cáo đều không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
Về tính chất đồng phạm và vai trò của các bị cáo: Trong vụ án này có 02 bị cáo thực hiện hành vi phạm tội, nhưng hành vi phạm tội của từng bị cáo độc lập với nhau nên vụ án không có tính chất đồng phạm.
Trong đó Đinh Văn Đ là người sử dụng kéo, là hung khí nguy hiểm để xâm phạm sức khoẻ, gây nên thương tích, với tỷ lệ tổn thương cơ thể đối với T1 với mức cao hơn (Thương tích 10%) nên bị cáo Đ phải chịu mức án cao hơn. Bị cáo Quàng Văn T1 sử dụng gạch để ném Đ nhưng không trúng và cắn vào cằm gây thương tích đối với Đinh Văn Đ với tỷ lệ tổn thương cơ thể thấp hơn (Thương tích 6%) nên bị cáo T1 chịu mức án thấp hơn so với bị cáo Đ.
[6] Về hình phạt:
[6.1] Từ việc phân tích đánh giá những căn cứ quyết định hình phạt như trên, Hội đồng xét thấy bản thân các bị cáo đang chấp hành hình phạt tù, nhưng không chịu tu dưỡng học tập rèn luyện, học tập mà lại tiếp tục thực hiện hành vi phạm tội với lỗi cố ý nên cần thiết phải áp dụng hình phạt tù đối với các bị cáo với mức hình phạt tương xứng với tính chất mức độ của hành vi phạm tội của từng bị cáo nhưng đồng thời cũng xem xét giảm một phần hình phạt cho các bị cáo để các bị cáo thấy được sự khoan hồng của pháp luật, yên tâm cải tạo sớm trở thành công dân tốt cho xã hội.
[6.2] Về tổng hợp hình phạt:
Bị cáo Đinh Văn Đ hiện đang chấp hành Bản án số 60/2024/HSST ngày 13/3/2024 của Toà án nhân dân quận Ngô Quyền, Thành phố Hải Phòng, với mức phạt 06 năm tù về tội: Tàng trữ trái phép chất ma tuý. Thời hạn tù tính từ ngày 27/10/2023. Tính đến trước ngày xét xử lần này (ngày 14/04/2025), bị cáo đã chấp hành được 01 (Một) năm 05 (Năm) tháng 25 (Hai mươi lăm) ngày. Thời gian bị cáo còn phải chấp hành án là 04 (Bốn) năm 06 (Sáu) tháng 05 (năm) ngày tù.
Bị cáo Quàng Văn T1 hiện đang chấp hành Bản án số 140/2023/HSST ngày 20/9/2023 của Toà án nhân dân huyện Mai Sơn, tỉnh Sơn La, với mức phạt 05 năm 06 tháng tù về tội: “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”. thời hạn tù tính từ ngày 10/05/2023. Tính đến trước ngày xét xử lần này (ngày 14/04/2025), bị cáo đã chấp hành được 01 (Một) năm 11 (Mười một) tháng 05 (Năm) ngày. Thời gian bị cáo còn phải chấp hành án là 03 (Ba) năm 06 (Sáu) tháng 25 (Hai mươi lăm) ngày tù.
Do đó cần căn cứ theo quy định tại khoản 2 Điều 56 Bộ luật hình sự, để tổng hợp hình phạt buộc các bị cáo Đ và T1 phải chấp hành hình phạt chung của phần hình phạt còn lại của bản án trước và hình phạt đối với lần phạm tội này.
[7] Về trách nhiệm dân sự: Do các bên đều thống nhất không yêu cầu bồi thường về dân sự. Nên Hội đồng xét xử không xem xét.
[8] Về vật chứng:
+ Đối với: 01 viên gạch vỡ màu đỏ dài khoảng 08 cm, một bên màu đen, một bên cạnh sắc nhọn, một bên phẳng; 01 viên gạch, dài 22 cm, rộng 10 cm, dày 5 cm, các mặt phẳng, một góc của viên gạch đã bị sứt mẻ từ trước; 01 cái kéo bằng kim loại dài 15 cm, lưỡi kéo sắc nhọn dài 05 cm, cán kéo dài 10cm, một bên kéo được bọc nhựa màu xanh, một bên kéo được quấn dây màu vàng, phần cán kéo hình cong. Đây là công cụ phương tiện các bị cáo dùng để thực hiện hành vi phạm tội, không có giá trị sử dụng nên cân tịch thu tiêu huỷ là phù hợp.
[9] Về Án phí: Các bị cáo là người bị kết án nên buộc bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm.
[10] Về quyền kháng cáo: Các bị cáo được quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ: Điểm d khoản 2 Điều 134; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 50; Khoản 2 Điều 56; Điều 38 của Bộ luật hình sự;
Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 47 của Bộ luật hình sự; khoản 1, điểm a, c khoản 2 Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự;
Căn cứ: Điều 135; khoản 2 Điều 136; Điều 331; Điều 333 của Bộ luật tố tụng hình sự; Điều 6; các điểm a, c khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14; Điều 26 của Luật thi hành án dân sự.
Tuyên bố: Các bị cáo Đinh Văn Đ và Quàng Văn T1 phạm tội “Cố ý gây thương tích".
Xử phạt: Bị cáo Đinh Văn Đ 31 (Ba mươi mốt) tháng tù. Tổng hợp với phần hình phạt còn phải chấp hành của bản án số 60/2024/HSST ngày 13/3/2024 của Toà án nhân dân quận Ngô Quyền, Thành phố Hải Phòng là 04 (Bốn) năm 06 (Sáu) tháng 05 (Năm) ngày tù. Buộc bị cáo Đinh Văn Đ phải chấp hành hình phạt chung là 07 (Bảy) năm 01 (Một) tháng 05 (Năm) ngày tù. Thời hạn tính từ ngày tuyên án sơ thẩm 15/04/2025.
Xử phạt: Bị cáo Quàng Văn T1 28 (Hai mươi tám) tháng tù. Tổng hợp với phần hình phạt còn phải chấp hành của Bản án số 140/2023/HSST ngày 20/09/2023 của Toà án nhân dân huyện Mai Sơn, tỉnh Sơn La là 03 (ba) năm 06 (sáu) tháng 25 (Hai mươi lăm) ngày tù. Buộc bị cáo Quàng Văn T1 phải chấp hành hình phạt chung là 05(Năm) năm 10 (Mười) tháng 25 (Hai mươi lăm) ngày tù. Thời hạn tính từ ngày tuyên án sơ thẩm 15/04/2025.
Về xử lý vật chứng:
+ Tịch thu tiêu huỷ:
- 01 viên gạch vỡ màu đỏ dài khoảng 08 cm, một bên màu đen, một bên cạnh sắc nhọn, một bên phẳng;
- 01 viên gạch, dài 22 cm, rộng 10 cm, dày 5 cm, các mặt phẳng, một góc của viên gạch đã bị sứt mẻ từ trước;
- 01 cái kéo bằng kim loại dài 15 cm, lưỡi kéo sắc nhọn dài 05 cm, cán kéo dài 10cm, một bên kéo được bọc nhựa màu xanh, một bên kéo được quấn dây màu vàng, phần cán kéo hình cong.
Theo biên bản về việc giao nhận vật chứng số 18 ngày 24/03/2025 giữa Công an huyện Như Xuân với Chi cục Thi hành án dân sự huyện Như Xuân.
Án phí: Các bị cáo Đinh Văn Đ và Quàng Văn T1, mỗi bị cáo phải nộp 200.000 (Hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7a và 9 Luật thi hành án dân sự; Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
Các bị cáo có mặt có mặt, có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm (15/04/2025). Viện kiểm sát nhân dân huyện Như Xuân, Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Thanh Hóa có quyền kháng nghị bản án theo quy định của pháp luật.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Thu Hằng |
Bản án số 14/2025/HS-ST ngày 15/04/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NHƯ XUÂN - TỈNH THANH HÓA về cố ý gây thương tích
- Số bản án: 14/2025/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Cố ý gây thương tích
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 15/04/2025
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NHƯ XUÂN - TỈNH THANH HÓA
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Đinh Văn Đ và Quàng Văn T phạm tội "Cố ý gây thương tích"
