Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN AN MINH

TỈNH KIÊN GIANG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 14/2025/HS-ST

Ngày 15-4-2025

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN AN MINH, TỈNH KIÊN GIANG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

  • Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Lê Chí Công
  • Các Hội thẩm nhân dân: Bà Hồ Thị Hoa
  • Ông Trần Văn Hiền
  • - Thư ký phiên tòa: Bà Trần Thị Thùy Trang - Thư ký Toà án nhân dân huyện An Minh, tỉnh Kiên Giang
  • - Đại diện Viện kiểm sát nhân huyện An Minh, tỉnh Kiên Giang tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Toàn - Kiểm sát viên

Ngày 15 tháng 4 năm 2025 tại Toà án nhân dân huyện An Minh, tỉnh Kiên Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 19/2025/TLST-HS ngày 04 tháng 3 năm 2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 15/2025/QĐXXST-HS ngày 20 tháng 3 năm 2025 đối với bị cáo:

Nguyễn Văn Đ, sinh ngày 13 tháng 12 năm 2001 tại A, Kiên Giang; CCCD: [...]; Nơi cư trú: ấp A, xã Đ, huyện A, tỉnh Kiên Giang; Giới tính: Nam; Nghề nghiệp: Làm thuê; trình độ văn hóa: 10/12; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; con ông Nguyễn Văn M và bà Nguyễn Thị N; chưa có vợ con; Tiền án, tiền sự: Không; Bị cáo bị bắt người bị giữ trong trường hợp khẩn cấp ngày 29/11/2024, tạm giữ ngày 29/11/2024, chuyển sang tạm giam ngày 05/12/2024 cho đến nay; có mặt tại phiên tòa.

- Bị hại:

  • + Công ty Cổ phần T. Địa chỉ: A T, phường T, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh.
  • Người đại diện: Anh Hoàng Minh P, sinh năm 1992. Địa chỉ: tổ B, ấp X, xã T, huyện A, tỉnh Kiên Giang (có mặt).
  • + Công ty Cổ phần D
  • Người đại diện: Chị Nguyễn Ngọc H, sinh năm 1998. Địa chỉ: ấp A Chợ, xã Đ, huyện A, tỉnh Kiên Giang (xin vắng mặt).

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Ông Nguyễn Văn M, sinh năm 1970. Địa chỉ: tổ C, ấp A, xã Đ, huyện A, tỉnh Kiên Giang (là cha ruột bị cáo; có mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên toà, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào khoảng 20 giờ 30 ngày 27/11/2024, Nguyễn Văn Đ điều khiển xe mô tô hiệu Honda loại Wave RSX màu đỏ - đen, biển kiểm soát 68M1 - 12271 để đi uống rượu tại quán “Đậm” tại Khu phố B, Thị Trấn T, huyện A, Kiên Giang cùng với người bạn tên K nhà ở xã Đ, huyện A, tỉnh Kiên Giang. Đến khoảng hơn 22 giờ cùng ngày thì Nguyễn Văn Đ đi về một mình và tiếp tục điều khiển xe đi đến cửa hàng B huyện A, tỉnh Kiên Giang. Do trước đây Nguyễn Văn Đ từng làm bảo vệ tại đây nên biết được nơi nhân viên nhà thuốc An Khang thường cất giấu chìa khóa, nên Nguyễn Văn Đ lấy chìa khóa mở cửa đột nhập vào trong nhà thuốc đi đến tủ đựng tiền lấy trộm được số tiền 3,950,000 đồng gồm nhiều tờ tiền mệnh giá khác nhau. Sau đó, Nguyễn Văn Đ đi qua cửa hàng B xanh dùng dao và kéo có sẵn trong cửa hàng phá hư hỏng két sắt lấy trộm số tiền 107.543.000 đồng gồm: nhiều cọc tiền mệnh giá khác nhau như 500.000 đồng; 200.000 đồng; 100.000 đồng; 50.000 đồng, 20.000 đồng; 10.000 đồng; 5000 đồng; 2.000 đồng; 1.000 đồng. Sau khi lấy trộm được tiền Nguyễn Văn Đ bỏ tiền vào bọc nylon màu trắng có in chữ Bách Hóa X rồi tẩu thoát ra ngoài và đi về đến nhà của Mai Tính N1 ở Khu phố C, Thị Trấn T, huyện A, tỉnh Kiên Giang trả cho anh N1 số tiền 18.500.000 đồng do Đ thiếu anh N1 trước đó. Sau đó, Nguyễn Văn Đ đi về nhà lấy ra nhiều cọc tiền có mệnh giá 5.000 đồng; 2,000 đồng: 1.000 đồng; cất vào trong tủ ở nhà của Đ rồi bỏ trốn lên tỉnh An Giang. Trên đường đi Nguyễn Văn Đ mua 01 cái áo và 01 cái nón bảo hiểm và vứt bỏ cái áo và 01 cái nón bảo hiểm của Đỡ trên đường đi đoạn nào thì Nguyễn Văn Đ1 không nhớ, rồi thuê nhà nghĩ ngủ. Đến trưa ngày 28/11/2024, Nguyễn Văn Đ đến cửa hàng điện thoại mua 01 điện thoại di động hiệu Iphone 14 Promax với giá 21.000.000 đồng, xong Nguyễn Văn Đ đi đến ngân hàng V thuộc Phường M, Thành Phố L, tỉnh An Giang mở tài khoản ngân hàng lấy số tiền trộm từ cửa hàng Bách Hóa X đưa cho nhân viên Ngân hàng nộp vào tài khoản số tiền 81.000.000 đồng. Sau đó, Nguyễn Văn Đ dùng số tiền trên chơi đánh bạc qua mạng thua hết đến khi bị Cơ quan Công an triệu tập làm việc thì Đ khai nhận hành vi phạm tội của mình.

Cơ quan điều tra tiến hành khám xét nhà của Nguyễn Văn Đ; thu giữ tại nhà của Nguyễn Văn Đ tổng số tiền là 6.916.000 đồng gồm: 10 cọc tiền, mỗi cọc gồm 100 tờ tiền Việt Nam mệnh giá 1.000 đồng; 02 cọc tiền mỗi cọc gồm 100 tờ tiền Việt Nam mệnh giá 2.000 đồng; 09 cọc tiền mỗi cọc gồm 100 tờ tiền Việt Nam mệnh giá 5.000 đồng; 10 tờ tiền Việt Nam mệnh giá 20.000 đồng; 29 tờ tiền Việt Nam mệnh giá 10.000 đồng; 01 cọc tiền Việt Nam gồm 90 tờ tiền mệnh giá 5.000 đồng; 17 tờ tiền Việt Nam mệnh giá 2.000 đồng; 42 tờ tiền Việt Nam mệnh giá 1.000 đồng.

Việc thu giữ, tạm giữ tài liệu, đồ vật; xử lý vật chứng, Trong giai đoạn điều tra vụ án, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện A đã tạm giữ: 01 (một) xe mô tô hiệu Honda loại Wave RSX màu đỏ - đen, biển kiểm soát 68M1 – 12271, đã qua sử dụng. Cơ quan điều tra đã trả lại cho ông Nguyễn Văn M chiếc xe do Nguyễn Văn Đ mượn của ông M sử dụng vào việc phạm tội ông M không biết.

Về trách nhiệm dân sự, Bị can Nguyễn Văn Đ đã bồi thường cho cửa hàng Bách Hóa X số tiền 107.543.000 đồng; bồi thường cho nhà thuốc An Khang số tiền 3.950.000 đồng.

Đối với 01 két sắt bị hư hỏng, đã cũ đại diện cửa hàng B ông Hoàng Minh P không có yêu cầu gì.

Tại Cáo trạng số 19/CT-VKS-AM ngày 28-02-2025 Viện kiểm sát nhân dân huyện An Minh, tỉnh Kiên Giang truy tố Nguyễn Văn Đỡ về tội Trộm cắp tài sản quy định tại điểm c khoản 2 Điều 173 của Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa,

  • - Kiểm sát viên kết luận bị cáo Nguyễn Văn Đ phạm tội Trộm cắp tài sản và đề nghị áp dụng điểm c khoản 2 Điều 173, điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51, điểm g khoản 1 Điều 52, Điều 38 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Nguyễn Văn Đ từ 02 năm đến 02 năm 06 tháng tù. Về trách nhiệm dân sự, bị cáo đã bồi thường xong cho bị hại, bị hại không yêu cầu bồi thường gì thêm nên đề nghị không xem xét. Về vật chứng, đã trả lại cho ông Nguyễn Văn M 01 (Một) xe mô tô hiệu Honda, loại Wave RSX màu đỏ - đen, biển kiểm soát 68M1 - 12271, đã qua sử dụng.
  • - Bị cáo trình bày: Bị cáo thừa nhận đã thực hiện hành vi vi phạm đúng như cáo trạng và luận tội của Viện kiểm sát đã nêu. Trong lời nói sau cùng bị cáo trình bày đã biết lỗi, rất hối hận về hành vi của bản thân đã thực hiện, xin HĐXX xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
  • - Bị hại anh P: đã được bồi thường đầy đủ, không yêu cầu gì thêm. Về hình phạt xin giảm nhẹ cho bị cáo.
  • - Người liên quan ông M: không yêu cầu bị cáo bồi thường gì. Xin giảm nhẹ cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TOÀ ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện A, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện An Minh, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện cơ bản đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Bị cáo, bị hại không có ý kiến hoặc khiếu nại gì về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng.

[2] Về tội phạm:

[2.1] Về hành vi phạm tội: Lời khai nhận của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai và những tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa, từ đó có đủ căn cứ để kết luận: Do từng làm nhân viên bảo vệ tại cửa hàng B nên Nguyễn Văn Đ biết được nơi cất giấu chìa khóa của nhân viên nhà thuốc A. Đến khoảng 22 giờ ngày 27/11/2024 tại Nhà thuốc An Khang và cửa hàng B thuộc khu phố C, thị trấn T, huyện A, Kiên Giang, Nguyễn Văn Đ lấy chìa khóa đột nhập vào Nhà thuốc An Khang, đi đến tủ đựng tiền và lấy trộm số tiền 3.950.000 đồng. Sau đó, Đ tiếp tục đi qua cửa hàng Bách Hóa X dùng dao và kéo có sẵn trong cửa hàng phá két sắt và lấy trộm tổng số tiền 107.543.000 đồng.

[2.2] Về tội danh: Hành vi của bị cáo là hành vi nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản hợp pháp của bị hại; khi thực hiện hành vi phạm tội bị cáo là người có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự; nhận thức được việc lén lút lấy trộm tài sản của người khác là phạm tội nhưng bị cáo vẫn thực hiện, nên thuộc trường hợp phạm tội với lỗi cố ý; tài sản bị cáo lấy trộm có tổng giá trị 111.493.000 đồng. Do đó, Viện kiểm sát truy tố và kết luận hành vi của bị cáo Nguyễn Văn Đ phạm tội Trộm cắp tài sản theo quy định tại Điều 173 Bộ luật Hình sự là có căn cứ và đúng pháp luật.

[2.3] Về định khung hình phạt: Bị cáo Đ đã thực hiện hành vi lén lút để chiếm đoạt tài sản của bị hại với tổng giá trị là 111.493.000 đồng. Khoản 2 Điều 173 Bộ luật Hình sự quy định “2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 02 năm đến 07 năm: a) Có tổ chức; b) Có tính chất chuyên nghiệp; c) Chiếm đoạt tài sản trị giá từ 50.000.000 đồng đến dưới 200.000.000 đồng;...”. Do đó, hành vi của bị cáo Nguyễn Văn Đ đã cấu thành tội Trộm cắp tài sản được quy định tại điểm c khoản 2 Điều 173 Bộ luật Hình sự.

[2.4] Đối với két sắt bị Nguyễn Văn Đ đập phá để lấy trộm tiền thì người đại diện của bị hại xác định két sắt đã cũ, không yêu cầu định giá và không có yêu cầu gì thêm nên không xem xét xử lý trong vụ án này là phù hợp quy định pháp luật.

[3] Về hình phạt:

[3.1] Về tình tiết tăng nặng, tính chất của vụ án: Bị cáo hai lần thực hiện hành vi chiếm đoạt tài sản và giá trị tài sản cả hai lần chiếm đoạt đều đủ định lượng truy cứu trách nhiệm hình sự nên phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự là phạm tội 02 lần trở lên. Đây là tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm g khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự. Hành vi phạm tội của bị cáo còn gây mất an ninh trật tự, an toàn xã hội ở địa phương, gây bất bình trong nhân dân nên cần có hình thức xử lý nghiêm để răn đe, giáo dục và phòng ngừa chung.

[3.2] Về tình tiết giảm nhẹ: Trong quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa bị cáo đã thành khẩn khai báo thể hiện thái độ ăn năn hối cải; bị cáo đã tác động gia đình bồi thường đầy đủ thiệt hại để khắc phục hậu quả cho bị hại; bị hại có đơn xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo; sau khi phạm tội bị cáo đã đầu thú; bị cáo có ông, bà là người có công Cách mạng. Đây là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự để giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

[3.3] Về quyết định hình phạt, HĐXX thấy rằng bị cáo chưa chấp hành tốt pháp luật, phạm tội nghiêm trọng có khung hình phạt từ 02 đến 07 năm tù, gây ảnh hưởng xấu cho xã hội, hành vi của bị cáo còn gây ảnh hưởng xấu đến an ninh trật tự, gây hoang mang, lo lắng trong nhân dân nên cần áp dụng Điều 38 Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo bằng hình phạt tù có thời hạn nhằm cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội, buộc chấp hành hình phạt tại cơ sở giam giữ trong một thời hạn nhất định để cải tạo, giáo dục bị cáo thành công dân tốt, sống có ích cho gia đình và xã hội.

[4] Về trách nhiệm dân sự: Bị cáo đã bồi thường thiệt hại cho bị hại, bị hại không yêu cầu gì thêm; người liên quan ông M đã nhận lại chiếc xe và không yêu cầu gì, nên HĐXX không xem xét.

[5] Về vật chứng: Đã giao trả cho ông Nguyễn Văn M nhận lại 01 (Một) chiếc xe mô tô hiệu Honda, loại Wave RSX màu đỏ - đen, biển kiểm soát 68M1 - 12271, đã qua sử dụng, nên HĐXX không xem xét.

[6] Về án phí, bị cáo Nguyễn Văn Đ phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1- Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Văn Đ phạm tội Trộm cắp tài sản.

Căn cứ điểm c khoản 2 Điều 173, điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51, điểm g khoản 1 Điều 52, Điều 38 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Nguyễn Văn Đ 02 (hai) năm tù về tội Trộm cắp tài sản. Thời điểm chấp hành hình phạt tù tính kể từ ngày bị cáo bị bắt người bị giữ trong trường hợp khẩn cấp (ngày 29/11/2024).

2- Về trách nhiệm dân sự: Không xem xét.

3- Về biện pháp tư pháp: Không xem xét.

4- Về án phí, căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự và Điều 12, 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án, bị cáo Nguyễn Văn Đ phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

5- Bị cáo, bị hại có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án (ngày 15-4-2025). Bị hại vắng mặt có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết hợp lệ./.

Nơi nhận:

  • - VKS huyện, tỉnh;
  • - Toà án tỉnh KG;
  • - Cơ quan THAHS Kiên Giang;
  • - Cơ quan THADS huyện AM;
  • - Bị cáo; Bị hại; NLQ;
  • - Sở TP tỉnh KG;
  • - Công an tỉnh KG (P. Hồ sơ);
  • - UBND X. Đông Hưng, AM, KG;
  • - Lưu Văn phòng, hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TOẠ PHIÊN TÒA

Lê Chí Công

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 14/2025/HS-ST ngày 15/04/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN AN MINH, TỈNH KIÊN GIANG về trộm cắp tài sản (hình sự sơ thẩm)

  • Số bản án: 14/2025/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản (Hình sự sơ thẩm)
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 15/04/2025
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN AN MINH, TỈNH KIÊN GIANG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Nguyễn Văn Đ phạm tội Trộm cắp tài sản
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger