|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐẮK MIL TỈNH ĐẮK NÔNG |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc Lập – Tự Do – Hạnh Phúc |
|
Bản án số: 14/2025/HS-ST Ngày: 14-3-2025 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐẮK MIL, TỈNH ĐẮK NÔNG
- Thành phần hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
- Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Vi Thế Nam.
- Các hội thẩm nhân dân: Ông Trương Văn Cường, ông Nguyễn Sỹ Thông.
- Thư ký phiên tòa: Ông Đinh Thế Toàn – Thư ký viên Tòa án nhân dân huyện Đắk Mil.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đắk Mil tham gia phiên tòa: Ông Phạm Anh Đức – Kiểm sát viên.
Ngày 14 tháng 3 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Đắk Mil xét xử công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 05/2025/HSST, ngày 23 tháng 01 năm 2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 11/2025/QĐXXST-HS, ngày 28 tháng 02 năm 2025 đối với bị cáo:
Trần Không B, sinh năm 1988; Nơi sinh: tỉnh Gia Lai; Nơi đăng ký thường trú:
Thôn H, xã I, huyện Đ, tỉnh Gia Lai; Chỗ ở trước khi phạm tội: Số G Đ, phường T, thành phố P, tỉnh Gia Lai; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: 08/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Trần V, sinh năm 1949 và bà Phạm Thị N, sinh năm 1963; vợ là Nguyễn Thị Tuyết S, sinh năm 1988 và 01 con, sinh năm 2021; Tiền án, tiền sự: Không; Bị tạm giữ từ ngày 11/12/2024, đến ngày 17/12/2024 chuyển tạm giam tại nhà tạm giữ Công an huyện Đ (nay là P trại tạm giam khu vực Đ, thuộc trại tạm giam Công an tỉnh Đ) cho đến nay (Có mặt).
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Ông Trần Quốc T, sinh năm 1999; Nơi cư trú: Thôn H, xã I, huyện Đ, tỉnh Gia Lai. (Vắng mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Để có tiền tiêu xài cá nhân, Trần Không B mượn điện thoại di động nhãn hiệu Huawei P30 Pro, màu xanh của anh Trần Quốc T (là em trai của B) đăng bài bán các loại pháo nổ, pháo hoa nổ trên mạng xã hội Facebook. Khoảng đầu tháng 12
năm 2024, một đối tượng (chưa xác định được nhân thân, lai lịch) sử dụng tài khoản mạng xã hội Zalo có tên "P" liên hệ với B đặt mua pháo hoa nổ thì B đồng ý. Ngày 10/12/2024, B liên hệ với một đối tượng (chưa xác định được nhân thân, lai lịch) mua 14 hộp pháo rồi đem về nhà bà Phạm Thị N (là mẹ của B) tại thôn H, xã I, huyện Đ, tỉnh Gia Lai để cất giấu.
Đến khoảng 06 giờ ngày 11/12/2024, B bỏ 14 khối hình hộp chữ nhật, có cùng kích thước 17cm x 17cm x 10cm, bên ngoài mỗi khối đều được bọc bằng giấy nhiều màu sắc vào 01 thùng catton nhãn hiệu nước giải Surf, kích thước 45cm x 23cm x 34cm và bỏ 01 khối hình hộp chữ nhật, có kích thước 24cm x 24cm x 10cm, bên ngoài được bọc bằng giấy nhiều màu sắc vào 01 ba-lô màu đen rồi đón xe khách đến huyện Đ, tỉnh Đắk Nông để bán. Đến 14 giờ 30 phút cùng ngày, khi đến khu vực bon Đ, xã Đ, huyện Đ, tỉnh Đắk Nông, B xuống xe rồi liền hệ với đối tượng mua pháo thì bị lực lượng Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Đ phát hiện và bắt quả tang cùng tang vật.
* Tại bản kết luận giám định số 559/KL-KTHS, ngày 16/12/2024 của Phòng K Công an tỉnh Đ kết luận:
- - 14 khối hình hộp chữ nhật, có cùng kích thước 17cm x 17cm x 10cm, bên ngoài mỗi khối đều được bọc bằng giấy nhiều màu sắc, bên trong mỗi khối đều có 49 ống hình trụ tròn được niêm phong trong thùng giấy catton gửi giám định đều là pháo nổ (pháo hoa nổ). Khi đốt bay lên cao, nổ và phát ra ánh sáng màu. Tổng khối lượng là 23,482 kilôgam.
- - 01 khối hình hộp chữ nhật, có kích thước 24cm x 24cm x 10cm, bên ngoài được bọc bằng giấy nhiều màu sắc, bên trong có 100 ống hình trụ tròn được niêm phong trong thùng giấy catton gửi giám định là pháo nổ (pháo hoa nổ). Khi đốt bay lên cao, nổ và phát ra ánh sáng màu. Tổng khối lượng là 3,002 kilôgam.
Cáo trạng số: 09/CT-VKS(ĐM), ngày 21 tháng 01 năm 2025 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Đắk Mil đã truy tố bị cáo Trần Không B về tội “Buôn bán hàng cấm” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 190 của Bộ luật hình sự.
Tại phiên tòa, bị cáo Trần Không B khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như bản cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Đắk Mil đã truy tố.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đắk Mil thực hành quyền công tố luận tội và tranh luận, đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Trần Không B phạm tội “Buôn bán hàng cấm”. Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 190; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật hình sự. Xử phạt bị cáo Trần Không B từ 01 năm 06 tháng đến 02 năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị tạm giữ ngày 11/12/2024. Xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 của Bộ luật hình sự; khoản 3 Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự, đề nghị: Tịch thu, tiêu hủy 01 thùng catton; 01 ba-lô và 02 sim số 0967.605.675; 0867.555.375 do không còn giá trị sử dụng. Chấp nhận việc Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Đ đã Trả lại 01 điện thoại di động nhãn hiệu Huawei P30 Pro, màu xanh cho anh Trần Quốc T là chủ sở hữu hợp pháp; Tiêu hủy 26,484 kilôgam pháo nổ (pháo hoa nổ), là vật thuộc loại Nhà nước cấm tàng trữ, lưu hành.
Bị cáo không có ý kiến bào chữa, tranh luận, chỉ đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định của Cơ quan điều tra Công an huyện Đ, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Đắk Mil, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Lời khai của bị cáo tại phiên toà phù hợp với lời khai của bị cáo tại Cơ quan điều tra và các chứng cứ, tài liệu khác đã thu thập được thẩm tra công khai tại phiên toà, do đó Hội đồng xét xử có đủ căn cứ xác định: Vào lúc 14 giờ 30 phút ngày 11 tháng 12 năm 2024, tại bon Đ, xã Đ, huyện Đ, tỉnh Đắk Nông, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Đ bắt quả tang Trần Không B đang có hành vi tàng trữ 26,484 kilôgam pháo nổ (pháo hoa nổ) mục đích để bán lại kiếm lời.
Như vậy, đã đủ căn cứ kết luận hành vi bị cáo Trần Không B phạm tội “Buôn bán hàng cấm” theo điểm c khoản 1 Điều 190 của Bộ luật Hình sự.
Điểm c khoản 1 Điều 190 của Bộ luật hình sự quy định:
“1. Người nào thực hiện một trong các hành vi sau đây, nếu không thuộc trường hợp quy định tại các điều 232, 234, 244, 246, 248, 251, 253, 254, 304, 305, 306, 309 và 311 của Bộ luật này, thì bị phạt tiền từ 100.000.000 đồng đến 1.000.000.000 đồng hoặc phạt tù từ 01 năm đến 05 năm:
...
c) Sản xuất, buôn bán pháo nổ từ 06 kilôgam đến dưới 40 kilôgam;”
Xét quan điểm của Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đắk Mil tại phiên tòa là có căn cứ.
[3] Xét tính chất vụ án là nghiêm trọng, bị cáo là người có đầy đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự, hành vi của bị cáo gây ra nguy hiểm cho xã hội, đã trực tiếp xâm phạm đến chế độ quản lý đối với các loại hàng hoá mà Nhà nước cấm lưu hành, ảnh hưởng xấu đến an ninh trật tự, an toàn xã hội ở địa phương.
[4] Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
Trong giai đoạn điều tra và tại phiên tòa bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải đối với hành vi phạm tội của mình. Do đó, Hội đồng xét xử có căn cứ để áp dụng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại các điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự để xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo.
Gia đình bị cáo cung cấp tài liệu thể hiện ông ngoại bị cáo là ông Phạm Văn Đ có công với cách mạng, đề nghị xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo. Tuy nhiên, tình tiết này không thuộc trường hợp được áp dụng tình tiết giảm nhẹ quy định tại Điều 51 của Bộ luật hình sự.
[5] Từ những phân tích trên, Hội đồng xét xử xét thấy cần áp dụng mức hình phạt tương xứng với hành vi phạm tội của bị cáo, cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian nhất định nhằm giáo dục bị cáo và răn đe, phòng ngừa chung.
[6] Về hình phạt bổ sung: Xét thấy gia đình bị cáo có hoàn cảnh khó khăn, bị cáo có con nhỏ, thu nhập không ổn định nên không cần thiết phải áp dụng hình phạt bổ sung quy định tại khoản 4 Điều 190 của Bộ luật hình sự.
[7] Vật chứng của vụ án: Áp dụng khoản 2 Điều 47 của Bộ luật hình sự; Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự.
Tịch thu, tiêu huỷ 01 thùng catton; 01 ba-lô và 02 sim số 0967.605.675; 0867.555.375 do không còn giá trị sử dụng.
Chấp nhận việc Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Đ đã: Trả lại 01 điện thoại di động nhãn hiệu Huawei P30 Pro, màu xanh cho anh Trần Quốc T là chủ sở hữu hợp pháp; Tiêu hủy 26,484 kilôgam pháo nổ (pháo hoa nổ), là vật thuộc loại Nhà nước cấm tàng trữ, lưu hành.
[8] Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30.12.2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, nộp, quản lý, sử dụng án phí, lệ phí toà án. Buộc bị cáo Trần Không B phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
- Tuyên bố bị cáo Trần Không B phạm tội “Buôn bán hàng cấm”.
- Vật chứng của vụ án: Áp dụng khoản 2 Điều 47 của Bộ luật hình sự; Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự.
Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 190; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật hình sự.
Xử phạt bị cáo Trần Không B 02 (hai) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị tạm giữ ngày 11/12/2024.
Tịch thu, tiêu huỷ 01 thùng catton; 01 ba-lô và 02 sim số 0967.605.675; 0867.555.375 do không còn giá trị sử dụng. (Vật chứng có đặc điểm như trong biên bản giao nhận vật chứng, tài sản lập ngày 22/01/2025 giữa Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Đ với Chi cục Thi hành án dân sự huyện Đắk Mil)
Chấp nhận việc Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Đ đã: Trả lại 01 điện thoại di động nhãn hiệu Huawei P30 Pro, màu xanh cho anh Trần Quốc T là chủ sở hữu hợp pháp; Tiêu hủy 26,484 kilôgam pháo nổ (pháo hoa nổ), là vật thuộc loại Nhà nước cấm tàng trữ, lưu hành.
- Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30.12.2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, nộp, quản lý, sử dụng án phí, lệ phí toà án.
- Về quyền kháng cáo: Bị cáo có mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm; Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đến vụ án vắng mặt có quyền kháng cáo bản án về những vấn đề trực tiếp liên quan đến quyền lợi, nghĩa vụ của mình trong thời hạn mười lăm ngày kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ.
Buộc bị cáo Trần Không B phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa (đã ký) Vi Thế Nam |
Bản án số 14/2025/HS-ST ngày 14/03/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐẮK MIL, TỈNH ĐẮK NÔNG về hình sự
- Số bản án: 14/2025/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Hình sự
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 14/03/2025
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐẮK MIL, TỈNH ĐẮK NÔNG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Trần Không B phạm tội “Buôn bán hàng cấm”
