|
TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH TRÀ VINH |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
|
Bản án số: 14/2025/HS-PT Ngày: 04 - 4- 2025 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH TRÀ VINH
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Mến
Các Thẩm phán: Ông Nguyễn Văn Thành
Ông Lê Văn Hùng
- Thư ký phiên tòa: Ông Đinh Duy Quyền – Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Trà Vinh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Trà Vinh tham gia phiên tòa:
Ông Nguyễn Văn Đoàn - Kiểm sát viên.
Ngày 04 tháng 4 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Trà Vinh mở phiên tòa xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự phúc thẩm thụ lý số: 21/2025/HSPT, ngày 20 tháng 02 năm 2025 đối với bị cáo Lê Thị N, do có kháng cáo của bị cáo Lê Thị N đối với bản án hình sự sơ thẩm số: 03/2025/HSST ngày 14/01/2025 của Tòa án nhân dân thành phố Trà Vinh, tỉnh Trà Vinh.
- Bị cáo có kháng cáo: Lê Thị N, sinh ngày 10 tháng 4 năm 1984, tại tỉnh Thanh Hóa. Nơi cư trú: ấp C, xã T, huyện C, tỉnh Trà Vinh; Nơi ở hiện tại: khóm G, phường G, thành phố T, tỉnh Trà Vinh; nghề nghiệp: Buôn bán; trình độ học vấn: 4/12; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; giới tính: Nữ; con ông Lê Văn L, sinh năm 1947 (đã chết) và bà Trương Thị L1, sinh năm 1947 (đã chết); có chồng và 02 người con; tiền án: không; tiền sự: không; bị cáo tại ngoại có mặt tại phiên tòa.
- Người bào chữa cho bị cáo Lê Thị N: Luật sư Võ Trung D – Văn phòng Luật sư Võ Trung D thuộc Đoàn luật sư tỉnh T.
Ngoài ra, trong vụ án còn có bị cáo Lâm Thị Út C, bị cáo Nguyễn Hoàng T nhưng do không có kháng cáo, không có kháng nghị và không liên quan đến kháng cáo nên không triệu tập đến phiên tòa phúc thẩm.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Bị cáo Lê Thị N hàng ngày sinh sống bằng nghề bán nước giải khát, để có thêm thu nhập bị cáo N thông qua mạng xã hội Z đã bán số lô, số đề cho người khác, sau đó giao lại cho bị cáo Nguyễn Hoàng T; ông Dương Chí T1 (sinh ngày 01/01/1976, địa chỉ ấp H, xã L, thành phố T, tỉnh Trà Vinh) và ông Lê Văn K (sinh năm 1975, địa chỉ ấp C, xã L, thành phố T, tỉnh Trà Vinh) để hưởng tiền huê hồng, cụ thể:
Vào khoảng 17 giờ 00 phút ngày 17/01/2024, Phòng C1 - Công an tỉnh T phối hợp với Công an thành phố T, tỉnh Trà Vinh tiến hành kiểm tra quán cà phê võng H, địa chỉ tại khóm G, phường G, thành phố T, tỉnh Trà Vinh do bị cáo Lê Thị N làm chủ, phát hiện bị cáo N có hành vi lợi dụng kết quả mở thưởng của xổ số miền N 3 tỉnh gồm Đồng Nai, Cần Thơ và Sóc Trăng và xổ số miền T của tỉnh Đà Nẵng và tỉnh Khánh Hòa mở thưởng ngày 17/01/2024 để bán số lô, số đề được thua bằng tiền qua ứng dụng Zalo trên điện thoại cho bị cáo Lâm Thị Út C, có tên Z là Kim N1 với tổng số tiền bán số lô, số đề của xổ số miền N là 7.122.000 đồng và của xổ số miền T2 là 3.072.000 đồng. Tại thời điểm kiểm tra phát hiện đối với xổ số M đã có kết quả mở thưởng, tổng số tiền trúng thưởng là 6.500.000 đồng gồm con số 94 trúng lô 20.000 đồng của tỉnh Sóc Trăng, số tiền trúng thưởng là 1.400.000 đồng, trúng con số 83 lô 10.000 đồng của tỉnh Đồng Nai, số tiền trúng thưởng là 700.000 đồng, trúng thưởng con số 43 và 38 lô 10.000 đồng, số tiền trúng thưởng là 1.400.000 đồng, trúng thưởng con số 799 lô 5.000 đồng của tỉnh Sóc Trăng, số tiền trúng thưởng là 3.000.000 đồng, còn xổ số miền trung chưa có kết quả mở thưởng, do đó số tiền đánh bạc của xổ số M là 13.622.000 đồng và của xổ số miền T2 là 3.072.000 đồng.
Quá trình điều tra còn phát hiện trong tin nhắn ứng dụng Zalo của bị cáo Lê Thị N còn có nhiều tin nhắn nhận bán số lô, số đề cho bị cáo Lâm Thị Út C gồm:
- Ngày 15/01/2024:
- Xổ số miền N 3 tỉnh là Thành Phố Hồ Chí Minh, Đồng Tháp và Cà Mau, số tiền bán số lô, số đề là 2.520.000 đồng, số tiền trúng thưởng là 1.900.000 đồng, tổng số tiền đánh bạc của xổ số miền N là 4.420.000 đồng.
- Xổ số miền Trung 2 tỉnh gồm Thừa Thiên H và Phú Yên số tiền bán số lô, số đề là 1.510.400 đồng, không có số trúng thưởng, tổng số tiền đánh bạc của xổ số miền T2 là 1.510.400 đồng.
- Xổ số miền B: số tiền bán số lô, số đề là 665.000 đồng, số tiền trúng thưởng là 210.000 đồng, tổng số tiền đánh bạc của xổ số miền B là 875.000 đồng.
- Ngày 16/01/2024:
- Xổ số miền N: Số tiền bán số lô, số đề là 4.892.000 đồng, số tiền trúng thưởng là 5.100.000 đồng, tổng số tiền đánh bạc là 9.992.000 đồng.
- Xổ số miền T: Số tiền bán số lô, số đề là 2.627.000 đồng, số tiền trúng thưởng là 1.050.000 đồng, tổng số tiền đánh bạc là 3.677.000 đồng.
- Xổ số miền B: Số tiền bán số lô, số đề là 3.135.000 đồng, số tiền trúng thưởng là 1.750.000 đồng, tổng số tiền đánh bạc là 4.885.000 đồng.
Ngoài kiểm tra phát hiện số lô, số đề trên điện thoại di động của bị cáo Lê Thị N, Cơ quan điều tra còn phát hiện tại quán của bị cáo N có 7 tờ giấy và 04 quyển sổ có nội dung ghi số lô, số đề, trong đó tờ phơi ký hiệu số 2 là số đề ghi của bị cáo Lâm Thị Út C vào ngày 17/01/2024, kết quả cộng phơi đề như sau:
- Tờ phơi ký hiệu số 2:
- Tổng cộng số tiền nhận biên đề là 11.250.000 đồng, bị cáo N trình bày toàn bộ số tiền biên đề là của bị cáo Lâm Thị Út C, tuy nhiên qua điều tra bị cáo Lâm Thị Út C chỉ thừa nhận 7.122.000 đồng, còn lại 4.128.000 đồng bị cáo C không thừa nhận, Cơ quan điều tra tiến hành đối chất giữa bị cáo N với bị cáo Út C nhưng hai bên không thống nhất. Tổng số tiền trúng thưởng của tờ phơi số 2 là 6.500.000 đồng (Sáu triệu năm trăm nghìn đồng). Như vậy, xác định tổng số tiền đánh bạc của tờ phơi số 2 đối với bị cáo Lê Thị N là: 17.750.000 đồng, đối với bị cáo Lâm Thị Út C là 13.622.000 đồng.
- Tờ phơi ký hiệu số 3 (Mặt trước), không rõ ghi của ngày nào.
- Xổ số miền N: Số tiền biên số lô, số đề là 17.626.000 đồng.
- Xổ số miền T: Số tiền biên số lô, số đề là 9.608.000 đồng.
- Tờ phơi ký hiệu số 3 (Mặt sau), không rõ ghi của ngày nào.
- Xổ số miền N: Số tiền biên số lô, số đề là 6.286.000 đồng.
- Xổ số miền T: Số tiền biên số lô, số đề là 4.472.000 đồng.
- Tờ phơi ghi trong quyển sổ màu nâu ký hiệu số 3 (Mặt sau), không rõ ghi của ngày nào, số tiền biên của xổ số miền N là 1.600.000 đồng.
- Tờ phơi ký hiệu số 5.1, không rõ ghi của ngày nào.
- Xổ số miền N: Số tiền biên số lô, số đề là 1.448.000 đồng.
- Xổ số miền T: Số tiền biên số lô, số đề là 336.000 đồng.
- Xổ số miền B: Số tiền biên số lô, số đề là 1.235.000 đồng.
- Tờ phơi ký hiệu số 5.2, không rõ ghi của ngày nào và không rõ ghi của xổ số tỉnh nào nên không cộng được số tiền biên đề.
- Tờ phơi ký hiệu số 7, không rõ ghi của ngày nào.
- Xổ số miền N: Số tiền biên số lô, số đề là 1.678.000 đồng.
- Tờ phơi ký hiệu số 8.1, mặt trước, không rõ ghi của ngày nào.
- Xổ số miền N: Số tiền biên số lô, số đề là 2.819.000 đồng.
- Tờ phơi ký hiệu số 8.1, mặt sau, không rõ ghi của ngày nào.
- Xổ số miền N: Số tiền biên số lô, số đề 4.340.000 đồng.
- Xổ số miền T: Số tiền biên số lô, số đề là 1.880.000 đồng.
- Xổ số miền B: Số tiền biên số lô, số đề là 1.490.000 đồng.
- Tờ phơi ký hiệu số 8.1, mặt sau, không rõ ghi của ngày tháng nào và không xác định của xổ số tỉnh nào nên không xác định được số tiền biên đề.
- 03 quyển sổ còn lại bên trong có ghi nội dung tính tiền số đề như ng không ghi rõ của xổ số tỉnh nào, cũng không ghi rõ của ngày tháng nào nên không đối chiếu xác định được số tiền đánh bạc của ngày nào.
Đối với các tờ phơi đề ký hiệu 3, 5.1, 5.2, 7, 8.1, 8.2, bị cáo N trình bày là ghi của bị cáo Lâm Thị Út C trước ngày bị phát hiện khoảng 1 tháng, các tờ phơi đó đã có kết quả mở thưởng, đã tính tiền thắng thua xong, tuy nhiên các tờ phơi không ghi ngày tháng nào nên bị cáo N không xác định được các tờ phơi ghi của ngày tháng nào. Kết quả điều tra làm việc với bị cáo Lâm Thị Út C không thừa nhận các con số trong phơi trên là của mình, Cơ quan điều tra tiến hành cho bị cáo Lâm Thị Út C và bị cáo Lê Thị N đối chất nhưng hai bên không thống nhất. Bị cáo N trình bày toàn bộ số tiền ghi đề trên, bị cáo chuyển cho ông Dương Chí T1 và ông Lê Văn K, tuy nhiên bị cáo N không xác định được chuyển cho mỗi người số tiền bao nhiêu, cũng không xác định được chuyển những con số nào, do đó không có căn cứ xử lý đối với ông T1 và ông K đối với các tờ phơi trên.
Quá trình điều tra, Cơ quan điều tra tiến hành kiểm tra dữ liệu điện thoại là phương tiện đánh bạc của bị cáo Lê Thị N, kết quả ngoài tin nhắn nhận số lô, số đề của bị cáo Lâm Thị Út C, Cơ quan điều tra còn phát hiện bị cáo Lê Thị N chuyển số lô, số đề cho 03 người khác gồm:
1. Bị cáo Nguyễn Hoàng T, sinh ngày 27/11/1991, địa chỉ số H, Hoàng Hoa T3, khóm I, phường F, thành phố T 03 ngày gồm:
- Ngày 13/01/2024: Đối với số đề của xổ số miền N, bị cáo N chuyển cho bị cáo T số lô, số đề với số tiền 1.220.000 đồng (Một triệu hai trăm hai mươi nghìn đồng), kết quả mở thưởng, không có số trúng thưởng nên số tiền đánh bạc là 1.220.000 đồng (Một triệu hai trăm hai mươi nghìn đồng); Đối với xổ số miền B bị cáo N chuyển bị cáo T số lô, số đề với số tiền 727.000 đồng ( Bảy trăm hai mươi bảy nghìn đồng), kết quả mở thưởng, trúng thưởng cặp số 17,69 với số tiền trúng thưởng là 600.000 đồng nên số tiền đánh bạc của xổ số miền B là 1.327.000 đồng.
- Ngày 16/01/2024: Đối với xổ số miền N bị cáo N chuyển cho bị cáo T số lô, số đề với số tiền là 2.157.000 đồng, kết quả mở thưởng, trúng thưởng các con số 32,89,98, mỗi con số trúng 01 lô 3.000đ đài Bạc Liêu, số tiền trúng thưởng 630.000 đồng; con số 699 trúng thưởng lô 5.000 đồng đài Bạc Liêu, số tiền trúng thưởng là 3.000.000 đồng nên số tiền đánh bạc là 5.787.000 đồng; Đối với xổ số
miền T, bị cáo N chuyển cho bị cáo T số lô, số đề với số tiền là 2.070.000 đồng, kết quả mở thưởng, trúng thưởng con số 49, trúng 01 lô 3.000 đồng đài Đắk Lắk, số tiền trúng thưởng là 210.000 đồng nên số tiền đánh bạc là 2.280.000 đồng; Đối với xổ số miền B bị cáo N số lô, số đề với số tiền là 1.490.000 đồng, kết quả trúng thưởng con số 79, trúng 01 lô 3.000 đồng, số tiền trúng thưởng là 210.000 đồng nên số tiền đánh bạc là 1.700.000 đồng.
- Ngày 17/01/2024: Đối với xổ số miền N, bị cáo N chuyển số lô, số đề với số tiền là 3.695.000 đồng, kết quả mở thưởng trúng con số 799 đài Sóc Trăng, trúng 01 lô 5.000 đồng, số tiền trúng thưởng 3.000.000 đồng nên số tiền đánh bạc là 6.695.000 đồng; Đối với xổ số miền T, bị cáo N chuyển cho bị cáo T số lô, số đề với số tiền là 560.000 đồng, tại thời điểm phát hiện chưa có kết quả mở thưởng nên số tiền đánh bạc là 560.000 đồng; Xổ số miền Bắc bị cáo N chuyển cho bị cáo T số lô, số đề với số tiền là 152.000 đồng, tại thời điểm phát hiện chưa có kết quả mở thưởng nên số tiền đánh bạc là 152.000 đồng.
2. Ông Dương Chí T1, sinh ngày 01/01/1976, địa chỉ ấp H, xã L, thành phố T ngày 17/01/2024.
- Ngày 17/01/2024: Đối với xổ số miền N, bị cáo N chuyển cho ông T1 số lô, số đề với số tiền là 2.694.000 đồng, kết quả mở thưởng, trúng con số 94 đài Sóc Trăng, trúng 01 lô 10.000đ, số tiền trúng thưởng 700.000 đồng nên số tiền đánh bạc là 3.394.000 đồng; Đối với xổ số miền T, bị cáo N chuyển cho ông T1 số lô, số đề với số tiền 1.664.000 đồng, tại thời điểm phát hiện chưa có kết quả mở thưởng nên số tiền đánh bạc là 1.664.000 đồng.
3. Ông Lê Văn K, sinh năm 1975, địa chỉ ấp C, xã L, thành phố T.
- Ngày 14/01/2024: Đối với xổ số miền N bị cáo N chuyển cho ông K số lô, số đề với số tiền là 814.000 đồng, kết quả mở thưởng, không có số trúng thưởng nên số tiền đánh bạc là 814.000 đồng; Đối với xổ số miền B bị cáo N chuyển cho ông K là 209.000 đồng, không có số trúng thưởng nên số tiền đánh bạc là 209.000 đồng.
- Ngày 15/01/2024: Đối với xổ số miền N, bị cáo N chuyển cho ông K số lô, số đề với số tiền là 1.532.000 đồng, kết quả mở thưởng, trúng thưởng con số 39, 59, mỗi con số trúng 01 lô 5.000 đồng, con số 83 trúng 2 lô 5.000 đồng, tổng số tiền trúng thưởng 1.400.000 đồng nên số tiền đánh bạc là 2.932.000 đồng; Đối với xổ số miền T, bị cáo N chuyển cho ông K số lô, số đề với số tiền đề là 56.000 đồng, kết quả mở thưởng, không có số trúng thưởng nên số tiền đánh bạc là 56.000 đồng; Xổ số miền B, bị cáo N chuyển cho ông K số lô, số đề với số tiền là 226.000 đồng, kết quả mở thưởng, không có số trúng thưởng nên số tiền đánh bạc là 226.000 đồng.
- Ngày 16/01/2024: Đối với xổ số miền N, bị cáo N chuyển cho ông K số lô, số đề với số tiền là 1.996.000 đồng, kết quả mở thưởng, không có số trúng thưởng nên số tiền đánh bạc là 1.996.000 đồng; Đối với xổ số miền T, bị cáo N chuyển cho ông K số lô, số đề với số tiền là 968.000 đồng, kết quả mở thưởng không có số trúng thưởng nên số tiền đánh bạc là 968.000 đồng; Đối với xổ số miền B bị cáo N chuyển cho ông K số lô, số đề với số tiền là 969.000 đồng, kết quả mở thưởng, không có số trúng thưởng nên số tiền đánh bạc là 969.000 đồng
- Ngày 17/01/2024: Đối với xổ số miền N, bị cáo N chuyển cho ông K số lô, số đề với số tiền là 1.242.000 đồng, kết quả mở thưởng, không có số trúng thưởng nên số tiền đánh bạc là 1.242.000 đồng; Đối với xổ số miền T, bị cáo N chuyển cho ông K số lô, số đề với số tiền là 768.000 đồng, tại thời điểm phát hiện chưa có kết quả mở thưởng nên số tiền đánh bạc là 768.000 đồng.
Qua quá trình điều tra các bị cáo Lê Thị N, Lâm Thị Út C và Nguyễn Hoàng T đã thừa nhận hành vi phạm tội của mình.
Tại bản án hình sự sơ thẩm số: 03/2025/HS – ST ngày 14 tháng 01 năm 2025 của Tòa án nhân dân thành phố Trà Vinh đã xét xử.
Tuyên bố bị cáo Lê Thị N phạm tội “Đánh bạc”
Căn cứ: Khoản 1 Điều 321; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52; Điều 38 Bộ luật Hình sự.
Xử phạt bị cáo Lê Thị N 09 (chín) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bị cáo đi chấp hành án.
Buộc bị cáo Lê Thị N nộp 831.000 đồng tiền hưởng huê hồng sung ngân sách Nhà nước.
Ngoài ra bản án sơ thẩm còn xử phạt bị cáo bị cáo Lâm Thị Út C, bị cáo Nguyễn Hoàng T, xử lý lý vật chứng, án phí và quyền kháng cáo theo quy định pháp luật.
Ngày 22/01/2025 bị cáo Lê Thị N kháng cáo xin được hưởng án treo.
Tại phiên tòa hôm nay bị cáo Lê Thị N thừa nhận bản án sơ thẩm quy kết hành vi phạm tội của bị cáo là đúng, bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội không kêu oan và giữ nguyên yêu cầu kháng cáo và cung cấp nhiều tình tiết mới tại phiên tòa. Tại phiên tòa bị cáo thay đổi ý kiến của bị cáo là xin phạt tiền và được hưởng án treo.
Quan điểm đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Trà Vinh: Sau khi xem xét toàn diện nội dung vụ án, lời trình bày của bị cáo và các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án. Xét thấy Tòa án cấp sơ thẩm xét xử bị cáo Lê Thị N phạm tội “Đánh bạc” theo quy định khoản 1 Điều 321 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017 là đúng người, đúng tội đúng quy định pháp luật. Mức hình phạt mà bản án sơ thẩm áp dụng đối với bị cáo Lê Thị N 09 tháng tù là đã đánh giá
đúng tính chất vụ án và áp dụng đầy đủ các tình tiết giảm nhẹ cho bị cáo theo quy định khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Ngoài ra còn có bị cáo Lâm Thị Út C và Nguyễn Hoàng T, bản án cấp sơ thẩm mặc dù không có kháng cáo, kháng nghị tuy nhiên qua đối chiếu với quy định của pháp luật, việc xét xử bị cáo Nguyễn Hoàng T là chưa nghiêm, bởi vì bản thân của bị cáo T là thầu đề, giữ vai trò chính trong vụ án và bị cáo Lâm Thị Út C là người trực tiếp đánh bạc nhiều lần, tuy nhiên khắc phục số tiền đánh bạc cấp sơ thẩm áp dụng điểm b khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự, áp dụng Điều 54 bộ luật hình sự là chưa phù hợp với quy định của pháp luật, đề nghị Hội đồng xét xử kiến nghị với Tòa án nhân dân cấp cao thành phố Hồ Chí Minh xem xét lại vụ án với hai bị cáo T và C mà Tòa án cấp sơ thẩm đã xét xử. Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ điểm a khoản 1 Điều 355, Điều 356 Bộ luật Tố tụng hình sự, không chấp nhận yêu cầu kháng cáo xin hưởng án treo và phạt tiền của bị cáo Lê Thị N, giữ nguyên Bản án sơ thẩm của Tòa án nhân dân thành phố Trà Vinh, tỉnh Trà Vinh.
Quan điểm của người bào chữa cho bị cáo Lê Thị N trình bày: Vị hoàn toàn thống nhất với án sơ thẩm đã xét xử bị cáo Lê Thị N về tội đánh bạc được quy định tại khoản 1 Điều 321 Bộ luật hình sự. Tuy nhiên mức hình phạt đối với bị cáo Lê Thị N là quá nghiêm khắc, bởi vì bị cáo Lê Thị N có đủ điều kiện chuyển hình phạt khác là phạt tiền hoặc cải tạo không giam giữ. Tại phiên tòa hôm nay bị cáo cung cấp thêm tình tiết cha mẹ bị cáo có công với cách mạng được địa phương ghi nhận, bị cáo có hoàn cảnh khó khăn, đang nuôi hai đứa con đi học, đứa lớn đang học đại học ở Cần Thơ, đứa nhỏ đang học lớp 12. Trong vụ án có nhiều người phạm tội vai trò nguy hiểm hơn nhưng được chuyển hình phạt. Vì vậy bị cáo đủ điều kiện chuyển hình phạt thành phạt tiền, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét chấp nhận yêu cầu kháng cáo của bị cáo Lê Thị N.
Lời nói sau cùng của bị cáo Lê Thị N: Xin Hội đồng xét xử xem xét như ý kiến của người bào chữa cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy:
[1] Đơn kháng cáo của bị cáo còn trong thời hạn luật định nên được Hội đồng xét xử chấp nhận xem xét theo thủ tục phúc thẩm.
[2] Đối với yêu cầu kháng cáo của bị cáo Lê Thị N Hội đồng xét xử nhận thấy: Tại phiên tòa hôm nay bị cáo đã thừa nhận ngày 15/01/2024 đến ngày 17/01/2024 bị cáo ghi số lô, số đề cho bị cáo Lâm Thị Út C với tổng số tiền 25.543.400 đồng, sau đó bị cáo bán số lô, số đề trên cho bị cáo Nguyễn Hoàng T là 12.071.000 đồng để hưởng huê hồng tổng số tiền 831.000 đồng; bán cho Dương Chí T1 4.358.000 đồng; bán cho Lê Văn K 8.780.000 đồng. Do đó, Bản án sơ
thẩm quy kết bị cáo Lê Thị N phạm tội “Đánh bạc” theo quy định tại khoản 1 Điều 321 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017 là có căn cứ đúng quy định pháp luật, không oan, không sai.
[3] Xét hành vi phạm tội của bị cáo Lê Thị N là nguy hiểm cho xã hội. Bản thân bị cáo nhận thức được việc đánh bạc bằng hình thức ghi số lô, số đề là hành vi vi phạm pháp luật nhưng bị cáo thực hiện hành vi phạm tội. Xét thấy Tòa án cấp sơ thẩm xử phạt bị cáo Lê Thị N 09 tháng tù là quá nghiêm khắc đối với các bị cáo cùng phạm tội trong vụ án và đánh giá chưa đầy đủ các tình tiết giảm nhẹ theo quy định Điều 51 Bộ luật Hình sự. Tại phiên tòa phúc thẩm hôm nay bị cáo Lê Thị N có nhiều tình tiết như: Bản thân bị cáo thật thà khai báo, ăn năn hối cải, hoàn cảnh gia đình đơn chiết, bị cáo phải nuôi hai con và một đứa cháu ăn học, gia đình có công với cách mạng. Theo quy định tại Điều 35 bộ luật hình sự bị cáo đủ điều kiện áp dụng hình phạt chính là phạt tiền. Xét thấy yêu cầu kháng cáo của bị cáo và quan điểm của người bào chữa của bị cáo là phù hợp với quy định của pháp luật vì vậy được Hội đồng xét xử chấp nhận.
[4] Xét quan điểm của Kiểm sát viên xét xử phúc thẩm Hội đồng xét xử có xem xét tuy nhiên chưa phù hợp với nhận định trên.
[5] Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, không bị kháng nghị, không liên quan đến kháng cáo đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị. Đối với Tòa án cấp sơ thẩm xét xử áp dụng điểm b khoản 1 Điều 51 và Điều 54 Bộ luật hình sự cho bị cáo Lâm Thị Út C là không phù hợp với pháp luật. Vì vậy cấp sơ thẩm cần rút kinh nghiệm trong việc áp dụng pháp luật.
[6] Về án phí: Do kháng cáo của bị cáo Lê Thị N được chấp nhận nên bị cáo không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào điểm b khoản 1 Điều 355, Điều 357 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015.
Chấp nhận yêu cầu kháng cáo của bị cáo Lê Thị N.
Sửa Bản án hình sự sơ thẩm số: 03/2025/HSST ngày 14/01/2025 của Tòa án nhân dân thành phố Trà Vinh, tỉnh Trà Vinh.
Tuyên bố: Bị cáo Lê Thị N phạm tội “Đánh bạc”.
Căn cứ: Khoản 1 điều 321; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52; Điều 35 Bộ luật Hình sự.
Xử phạt bị cáo Lê Thị N 30.000.000 (ba mươi triệu) đồng sung vào ngân sách nhà nước
Buộc bị cáo Lê Thị N nộp 831.000 đồng tiền hưởng huê hồng sung vào ngân sách Nhà nước.
Về án phí: Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội: Bị cáo Lê Thị N không phải nộp án phí hình sự phúc thẩm.
Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, không bị kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết hạn kháng cáo, kháng nghị.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án./.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Văn Mến |
Bản án số 14/2025/HS-PT ngày 04/04/2025 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH TRÀ VINH về hình sự (đánh bạc)
- Số bản án: 14/2025/HS-PT
- Quan hệ pháp luật: Hình sự (Đánh bạc)
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 04/04/2025
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH TRÀ VINH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Đánh bạc
