|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐĂK HÀ TỈNH KON TUM Bản án số: 14/2025/HS-ST Ngày: 04/4/2025 |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
|
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐĂK HÀ, TỈNH KON TUM
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Quách Văn Nưm
Các Hội thẩm nhân dân.
- Ông Vũ Văn Linh – Bí thư Đoàn thanh niên xã Đăk Hring.
- Bà Dương Thị Mỹ Xuân – Chủ tịch UBMTTQ Việt Nam thị trấn Đăk Hà
Thư ký phiên tòa: Ông Vũ Đức Huynh - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Đăk Hà, tỉnh Kon Tum.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đăk Hà tham gia phiên tòa: Bà Bùi Thị Giang - Kiểm sát viên.
Ngày 04/4/2025, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Đăk Hà, tỉnh Kon Tum, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 07/2025/TLST-HS ngày 18/02/2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 12/2025/QĐXXST- HS ngày 20/3/2025 đối với các bị cáo sau:
Bị cáo thứ nhất: A Truyền, Sinh ngày 19 tháng 6 năm 1997 tại: Tỉnh Kon Tum. Nơi thường trú và nơi ở: Thôn K, xã Đ, huyện Đ, tỉnh Kon Tum; Nghề nghiệp: Làm nông; Trình độ học vấn: 9/12; Dân tộc: Xơ Đăng; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Công giáo; Quốc tịch: Việt Nam; Số CCCD: [...]; Cấp ngày 13 tháng 4 năm 2021; Nơi cấp: C06-BCA; Con ông A P, sinh năm: 1974 và bà Y M, sinh năm: 1980. Bị cáo có vợ Y H, sinh năm: 2006, có 01 người con sinh năm 2022.
Tiền án, tiền sự: Không.
Bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 19/11/2024 cho đến nay. Hiện bị cáo đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh K. Có mặt.
Bị cáo thứ hai: A Hoàng Q, sinh ngày 25 tháng 7 năm 2000 tại: tỉnh Kon Tum;
Nơi ở hiện nay: Thôn K, xã Đ, huyện Đ, tỉnh Kon Tum. Nghề nghiệp: Làm nông; Trình độ học vấn: 09/12; Dân tộc: Xơ đăng; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Công giáo; Quốc tịch: Việt Nam; Số CCCD: [...]; Cấp ngày 20 tháng 6 năm 2023; Nơi cấp: C06-BCA; Con bà Y Y, Sinh năm: 1969. Bị cáo chưa có vợ, con.
Tiền án, tiền sự: Không.
Bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 19/11/2024 cho đến nay. Hiện bị cáo đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh K. Có mặt.
Bị cáo thứ ba: A N, sinh ngày 13 tháng 01 năm 2008 tại: Tỉnh Kon Tum.
Nơi ở hiện nay: Thôn K, xã Đ, huyện Đ, tỉnh Kon Tum. Nghề nghiệp: Làm nông; Trình độ học vấn: 08/12; Dân tộc: Xơ đăng; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Công giáo; Quốc tịch: Việt Nam; Số CCCD: [...]; Cấp ngày 30 tháng 11 năm 2022; Nơi cấp: C06-BCA; Con ông A B (Đã chết) và bà Y S, sinh năm 1981. Bị cáo chưa có vợ, con.
Tiền án, tiền sự: Không.
Bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 19/11/2024 cho đến nay. Hiện bị cáo đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh K. Có mặt.
Bị cáo thứ tư: A T1, sinh ngày 02 tháng 7 năm 2006 tại: Tỉnh Kon Tum
Nơi ở hiện nay: Thôn K, xã Đ, huyện Đ, tỉnh Kon Tum. Nghề nghiệp: Làm nông; Trình độ học vấn: 08/12; Dân tộc: Xơ đăng; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Công giáo; Quốc tịch: Việt Nam; Số CCCD: [...]; cấp ngày 01 tháng 5 năm 2021 Nơi cấp: C06-BCA; Con ông A B1, sinh năm: 1981 và bà Y M1, sinh năm: 1985. Bị cáo chưa có vợ, con.
Tiền án, tiền sự: Không.
Bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 19/11/2024 cho đến nay. Hiện bị cáo đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh K. Có mặt.
- Người bào chữa cho các bị cáo A T; A Hoàng Q; A N; A T1: Ông Nguyễn Văn Đ – Là trợ giúp viên pháp lý thuộc Trung tâm trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh K.
Địa chỉ: Số B T, phường T, Tp, Kon Tum, tỉnh Kon Tum. Có mặt.
Người đại diện hợp pháp của bị cáo A N: Bà Y S, sinh năm 1981 và chị Y L, sinh năm 2001
Địa chỉ: Thôn K, xã Đ, huyện Đ, tỉnh Kon Tum. Có mặt.
Người làm chứng:
- + Anh A N1, sinh năm 2002.
- Địa chỉ: Thôn Đ, xã Đ, huyện Đ, tỉnh Kon Tum. Có mặt.
- + Anh A H1, sinh năm 2006
- Địa chỉ: Thôn K, xã Đ, huyện Đ, tỉnh Kon Tum. Vắng mặt.
- + Cháu A H2, sinh ngày 26/7/2008
- Địa chỉ: Thôn T, xã Đ, huyện Đ, tỉnh Kon Tum. Vắng mặt.
Người đại diện hợp pháp của cháu A H2: Ông A C, sinh năm 1989
Địa chỉ: Thôn K, xã Đ, huyện Đ, tỉnh Kon Tum. Vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào ngày 03/10/2024, A T là người nghiện ma túy, đã mua ma túy của một người đàn ông tên “Châu” (không rõ tên tuổi, địa chỉ cụ thể) tại khu vực xã Đ, thành phố K, tỉnh Kon Tum với giá 7.600.000đ (bảy triệu sáu trăm ngàn đồng) mục đích để sử dụng trái phép chất ma túy và có ai mua thì bán lại kiếm lời. Sau khi mua về, A T đã cất giấu số ma túy trên trong phòng uống nước của ngôi nhà A T đang ở tại thôn K, xã Đ, huyện Đ, tỉnh Kon Tum. A T thuê nhà trên của gia đình bà Lê Thị M2 (sinh năm: 1965; trú tại: thôn Đ, xã Đ, huyện Đ, tỉnh Kon Tum) để kinh doanh quán bida.
A N (sinh ngày: 13/01/2008; trú tại thôn K, xã Đ, huyện Đ, tỉnh Kon Tum) thường đến phụ A T trông coi quán bida tại thôn K, xã Đ, huyện Đ, tỉnh Kon Tum, A T có nhờ A N khi nào có ai hỏi mua ma túy thì A N đi giao ma túy và A T trả tiền công. Khoảng đầu tháng 10/2024, A N1 (sinh năm: 2002; trú tại: thôn Đ, xã Đ, huyện Đ, tỉnh Kon Tum) nhắn tin cho A N qua ứng dụng Facebook Messenger với nội dung “có ma túy không bán cho 500.000đ (năm trăm ngàn đồng)”, A N trả lời “có” và hẹn A N1 đến thôn K, xã Đ, huyện Đ, tỉnh Kon Tum để lấy ma túy. A N nhắn tin cho A T là có người lấy ma túy 500.000đ (năm trăm ngàn đồng) thì A T nhắn A N đến quán B4 để lấy ma túy đi bán. A N bỏ số ma túy trên vào trong một gói thuốc lá rồi ném ra khu vực bãi đất trống thuộc thôn K, xã Đ rồi nói A N1 đến lấy. Sau khi lấy ma túy, A N1 chuyển 500.000đ (năm trăm ngàn đồng) qua số tài khoản ngân hàng cho A T rồi A T cho A N số tiền 100.000₫ (một trăm ngàn đồng) trả tiền công. Ngày 04/11/2024, A H1 (sinh năm: 2006, trú tại: thôn K, xã Đ, huyện Đ, tỉnh Kon Tum) gặp A N và hỏi “có biết ai bán ma túy không”, A N trả lời “có, muốn mua bao nhiêu”, A H1 nói “mua 300.000đ (ba trăm ngàn đồng)”. A N đến nhà A T và nói “có họ lấy ba” (nghĩa là có người mua ma túy đá 300.000đ (ba trăm ngàn đồng), A T lấy một bì ni lông trong suốt chứa ma túy đưa cho A N. A N cầm số ma túy trên đi đưa cho A H1, và cầm số tiền 300.000đ (ba trăm ngàn đồng) về đưa cho A T rồi A T cho A N 100.000đ (một trăm ngàn đồng) trả tiền công.
Do có nhu cầu sử dụng trái phép chất ma túy và biết A T bán ma túy nên vào ngày 07/11/2024, A T1 (sinh ngày: 02/7/2006; trú tại: Thôn K, xã Đ, huyện Đ, tỉnh Kon Tum) đến quán bida của A T để mua ma túy với số tiền 400.000₫ (Bốn trăm ngàn đồng). A T1 đã sử dụng hết số ma túy trên. Đến trưa ngày 08/11/2024, vì tiếp tục có nhu cầu sử dụng trái phép chất ma túy nên A T1 lại đến quán bida của A T để mua ma túy với số tiền 450.000đ (Bốn trăm năm mươi ngàn đồng). Sau đó, A T1 đến bãi đất trống gần nhà sử dụng ma túy một mình. Vài ngày sau, A T1 đến quán bida của A T chơi, tại đây A T nói với A T1 là ai hỏi mua ma túy thì nhờ A T1 đi giao sau đó A T sẽ trả tiền công, A T1 đồng ý. Khoảng 20 giờ 30 phút ngày 15/11/2024, A H1 (Sinh năm: 2006; trú tại thôn K, xã Đ, huyện Đ, tỉnh Kon Tum) hỏi mua ma túy với số tiền 300.000đ (Ba trăm ngàn đồng) thì A T1 nói A H1 đợi một lúc. A T1 đi đến quán bida của A T hỏi A T “có người lấy ma túy 300.000 đồng (Ba trăm ngàn đồng)”, A T đưa cho A T1 một bì ni lông bên trong có chứa ma túy và A T1 giao ma túy cho A H1 rồi cầm 300.000₫ (Ba trăm ngàn đồng) đưa cho A T. A T đã đưa cho A T1 tiền công giao ma túy là 100.000đ (Một trăm ngàn đồng).
Khoảng 14 giờ ngày 15/11/2024, A Hoàng Q (sinh năm: 2000; trú tại: xã Đ, huyện Đ; nơi ở hiện tại: Thôn K, xã Đ, huyện Đ, tỉnh Kon Tum) đang ở nhà tại thôn K, xã Đ, huyện Đ, tỉnh Kon Tum thì A H2 (sinh năm: 26/7/2008; trú tại: thôn T, xã Đ, huyện Đ, tỉnh Kon Tum) đến và đưa cho Q số tiền 200.000₫ (hai trăm ngàn đồng) để mua ma túy. Q bảo H2 đợi rồi Q đi đến nhà A T tại thôn K, xã Đ, huyện Đ, tỉnh Kon Tum để mua ma túy thì A T đưa Q một bì ni lông bên trong chứa ma túy đá với số tiền 200.000đ (hai trăm ngàn đồng). Sau đó, Q đi về nhà và trích ra một ít ma túy vừa mua được để sử dụng vào tối cùng ngày, còn lại bán cho A H2. Đến khoảng 18 giờ 30 phút ngày 18/11/2024, A H2 sử dụng tài khoản Facebook Messenger có tên “Hiếu C1” nhắn tin vào tài khoản Facebook M3 có tên “Tướngg Quânn” của Q để hỏi mua ma túy với giá 300.000₫ (Ba trăm ngàn đồng), Q đồng ý. Sau đó, Q sử dụng tài khoản Facebook Messenger có tên “Tướngg Quânn” nhắn tin với tài khoản Facebook Messenger của A T có tên “Phạm B2” để hỏi mua ma túy với số tiền 700.000₫ (Bảy trăm ngàn đồng) thì A T đồng ý và nói Q qua nhà A T tại thôn K, xã Đ, huyện Đ, tỉnh Kon Tum để lấy. Q đến nhà A T, lúc này, A T đi lấy ma túy và phân chia ra để bán cho Q thì bị lực lượng Công an phát hiện, bắt quả tang đồng thời tiến hành niêm phong, thu giữ đồ vật, tài liệu có liên quan (01 (một) bì ni lông trong suốt, có kích thước 24cm x 13,8cm, bên trong bì ni lông có chứa các hạt tinh thể rắn màu trắng, nghi là ma túy; 01 (một) cân điện tử; 01 (một) điện thoại di động, loại màn hình cảm ứng, nhãn hiệu OPPO A78, màu xanh dương; 01 (một) điện thoại di động, loại màn hình cảm ứng, nhãn hiệu IPHONE XS, màu gold, máy đã qua sử dụng) và đưa A T, A Hoàng Q về trụ sở để làm việc. Qua khám xét không thu giữ gì thêm.
Tại Cơ quan điều tra, tiến hành kiểm tra (test) nhanh chất ma túy trong cơ thể đối với A T, A Hoàng Q, A N, A T1 và A H1. Kết quả kiểm tra (test) nhanh xác định A T, A Hoàng Q, A N, A T1 và A H1 đều dương tính với chất ma túy trong cơ thể, loại Methamphetamine (ma túy đá).
Tại bản kết luận giám định số: 454/KL-KTHS ngày 22/11/2024 của Phòng K - Công an tỉnh K, xác định: Mẫu các hạt tinh thể rắn màu trắng được niêm phong trong bì thư gửi giám định là ma túy, loại: Methamphetamine, có khối lượng là: 21,834 gam.
Tại bản Cáo trạng số: 08/CT-VKSĐH ngày 18/02/2025 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Đăk Hà, tỉnh Kon Tum truy tố các bị cáo:
A T về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” quy định tại điểm b khoản 2 Điều 251 Bộ luật Hình sự và tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý” quy định tại điểm g khoản 2 Điều 249 Bộ luật Hình sự; A Hoàng Q, A N về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” quy định tại điểm b khoản 2 Điều 251 Bộ luật Hình sự; A T1 về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” quy định tại khoản 1 Điều 251 Bộ luật Hình sự.
Tại phiên toà, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đăk Hà giữ nguyên quan điểm truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử:
Tuyên bố: Bị cáo A T phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy” và tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”. Bị cáo A Hoàng Q, A N phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”; Bị cáo A T1 phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.
+ Căn cứ điểm g khoản 2 Điều 249; điểm b khoản 2 Điều 251; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm o khoản 1 Điều 52; Điều 38; Điều 55 Bộ luật Hình sự, xét xử bị cáo A T về tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, mức án: từ 07 năm đến 07 năm 03 tháng tù; về tội: “Mua bán trái phép chất ma túy”, mức án: từ 07 năm 03 tháng tù đến 07 năm 06 tháng tù. Tổng hợp hình phạt: từ 14 năm 03 tháng tù đến 14 năm 09 tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tính từ ngày bắt, tạm giữ, tạm giam bị cáo (ngày 19/11/2024).
+ Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 251; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự, xét xử bị cáo A Hoàng Q về tội: “Mua bán trái phép chất ma túy”, mức án: từ 07 năm đến 07 năm 04 tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tính từ ngày bắt, tạm giữ, tạm giam bị cáo (ngày 19/11/2024).
+ Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 251; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38; Điều 91 ; 101 Bộ luật Hình sự, xét xử bị cáo A N về tội: “Mua bán trái phép chất ma túy”, mức án: từ 05 năm 03 tháng đến 05 năm 06 tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tính từ ngày bắt, tạm giữ, tạm giam bị cáo (ngày 19/11/2024).
+ Căn cứ khoản 1 Điều 251; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự, xét xử bị cáo A T1 về tội: “Mua bán trái phép chất ma túy”, mức án: từ 02 năm đến 02 năm 03 tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tính từ ngày bắt, tạm giữ, tạm giam bị cáo (ngày 19/11/2024).
Về hình phạt bổ sung: Xét thấy các bị cáo có thu nhập không ổn định. Do đó, miễn hình phạt bổ sung cho các bị cáo.
Về xử lý vật chứng của vụ án: Áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điểm a, c Khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự, đề nghị:
Tịch thu tiêu hủy số ma tuý, loại Methamphetamine, có khối lượng đã trừ bì là 21,808 gam, là vật cấm tàng trữ, lưu hành; 01 (một) Chiếc quẹt gas; 03 (ba) ống nhựa trong suốt; 01 (một) cân điện tử màu đỏ.
Đề nghị tịch thu, nộp quỹ Nhà nước: 01 (một) điện thoại di động OPPO A78; 01 (một) điện thoại di động IPHONE XS.
Ý kiến của người bào chữa cho các bị cáo: Xét về hành vi của các bị cáo bị Viện kiểm sát nhân dân huyện Đăk Hà truy tố là đúng. Tuy nhiên, đề nghị Hội đồng xét xử cần xem xét đánh giá hành vi phạm tội của từng bị cáo. Về các tình tiết giảm nhẹ: Đề nghị Hội đồng xét xử xem xét áp dụng Điểm s Khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự cho các bị cáo. Bị cáo A N là trẻ vị thành niên, khi phạm tội mới hơn 17 tuổi nên nhận thức về pháp luật còn hạn chế. Về nhân thân các bị cáo không có tiền án, tiền sự; sau khi bị bắt các bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải. Đề nghị Hội đồng xét xử đánh giá các tình tiết trên quyết định hình phạt mức thấp nhất cho các bị cáo.
Tại phiên tòa, các bị cáo đã thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình. Các bị cáo xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và quá trình tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1]. Về thủ tục tố tụng: Hành vi, các quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Đ, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Đăk Hà, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Trong quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, các bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Tại phiên toà vắng mặt người làm chứng. Tuy nhiên, quá trình điều tra những người làm chứng đã có lời khai tại hồ sơ vụ án. Do đó, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt họ theo quy định tại Khoản 1 Điều 293 Bộ luật Tố tụng hình sự.
[2]. Về hành vi phạm tội: Tại phiên tòa, các bị cáo A T; A Hoàng Q, A N, A T1 đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như nội dung cáo trạng đã truy tố. Xét lời khai của các bị cáo là phù hợp với các chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án và hành vi phạm tội thể hiện:
Ngày 03/10/2024, A T mua ma túy của một người đàn ông tên “Châu” (không rõ tên tuổi, địa chỉ cụ thể) với giá 7.600.000đ (bảy triệu sáu trăm ngàn đồng) mục đích để sử dụng trái phép chất ma túy và bán lại kiếm lời.
Khoảng đầu tháng 10/2024, A T thông qua A N bán ma túy cho A N1 với giá 500.000đ (năm trăm ngàn đồng). Ngày 04/11/2024, thông qua A N, A T bán ma túy cho A H1 với giá 300.000đ (Ba trăm ngàn đồng). A N được A T trả tiền công mỗi lần bán ma tuý với số tiền 100.000đ (một trăm ngàn đồng). Tổng 02 lần bán là 200.000 đ (Hai trăm ngàn đồng).
Ngày 07/11/2024, A T1 mua ma túy của A T với giá 400.000₫ (Bốn trăm ngàn đồng) để sử dụng. Ngày 08/11/2024, A T1 tiếp tục mua ma túy của A T với giá 450.000đ (Bốn trăm năm mươi ngàn đồng) để sử dụng. Khoảng 20 giờ 30 phút ngày 15/11/2024, A T thông qua A T1 bán ma túy cho A H1 với giá 300.000đ (Ba trăm ngàn đồng) và được A T trả công số tiền 100.000đ (một trăm ngàn đồng).
Khoảng 14 giờ ngày 15/11/2024, A Hoàng Q mua ma túy của A T với số tiền 200.000đ (hai trăm ngàn đồng) để bán cho A H2 và để sử dụng. Ngày 18/11/2024, sau khi A H2 hỏi mua ma túy của Q với giá 300.000₫ (Ba trăm ngàn đồng) thì Q đồng ý và đến nhà A T để mua ma túy với số tiền 700.000₫ (Bảy trăm ngàn đồng) để bán lại cho A H2 300.000đ (Ba trăm ngàn đồng). Lúc này, A T đi lấy ma túy và phân chia ra để bán cho Q thì bị lực lượng Công an phát hiện, bắt quả tang đồng thời tiến hành niêm phong, thu giữ đồ vật, tài liệu có liên quan và đưa A T, A Hoàng Q về trụ sở để làm việc.
Tại bản kết luận giám định số: 454/KL-KTHS ngày 22/11/2024 của Phòng K - Công an tỉnh K, xác định: Mẫu các hạt tinh thể rắn màu trắng được niêm phong trong bì thư gửi giám định là ma túy, loại: Methamphetamine, có khối lượng là: 21,834 gam.
Hành vi nêu trên của các bị cáo A T phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy” và “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”; Bị cáo A Hoàng Q, A N, A T1 phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.
Đối với A T còn có hành vi cất giấu gói ma túy, loại Methamphetamine, với trọng lượng 21,834 gam nhằm mục đích sử dụng cá nhân đã phạm vào tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”; tội danh và hình phạt được quy định tại Điểm g Khoản 2 Điều 249 Bộ luật Hình sự.
Do đó, cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Đăk Hà và quan điểm luận tội của Kiểm sát viên tại phiên tòa là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật và không oan.
[3]. Về tính chất, mức độ nghiêm trọng của hành vi phạm tội; vai trò, mức độ thực hiện hành vi của từng bị cáo:
Các bị cáo A T; A Hoàng Q; A N; A T1 là những đối tượng nghiện ma tuý. Vì muốn có ma tuý để sử dụng và bán kiếm lời nên bị cáo A T đã mua ma tuý của một đối tượng tên C2 về cất giữ và bán dần. Biết A T có ma tuý bán nên các bị cáo A N; A T1; A Hoàng Q thường xuyên lui tới nhà A T mua ma tuý. Để việc tiêu thụ ma tuý được thuận lợi bị cáo A T đã móc lối với các bị cáo A N, A T1 nhờ A N, A T1 bán ma tuý cho mình, mỗi lần bán được ma tuý A T sẽ trả cho A T1, A N 100.000 đ (Một trăm ngàn đồng) và được A N, A T1 đồng ý. Trong suốt thời gian từ tháng 10 năm 2024 đến tháng 11 năm 2024 A N đã bán cho A T 02 lần; A T1 bán cho A T 01 lần. Các lần bán đều được A T Trả công. Do đó, hành vi của A N, A T1 đóng vai trò đồng phạm với A T về tội “Mua bán trái phép chất ma tuý”.
Riêng bị cáo A Hoàng Q khi biết A T có ma tuý bán đã tự chủ động liên hệ với A T để mua ma tuý. Một phần để sử dụng, một phần để bán kiếm lời. Trong 02 ngày 15/11/2024 và ngày 18/11/2024 bị cáo đã mua của A T 02 lần và bán lại cho A H2. Như vậy, hành vi của bị cáo đã cấu thành tội “Mua bán trái phép chất ma tuý”. Hành vi phạm tội của bị cáo là độc lập không liên quan đến A T, A T1, A N.
Trong vụ án này bị cáo A T giữ vai trò chính là người cầm đầu, rủ rê lôi kéo các bị cáo A T1, A N cùng tham gia thực hiện hành vi phạm tội mua bán trái phép chất ma tuý. Không những thế bị cáo còn cất giấu số lượng 21,834 gam nhằm mục đích sử dụng cá nhân đã phạm vào tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Do đó, cần phải có một mức án nghiêm khắc hơn các bị cáo khác mới tương xứng với hành vi phạm tội đối với bị cáo A T.
[4]. Về nhân thân, và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với các bị cáo:
[4.1]. Về nhân thân: Trước khi phạm tội, các bị cáo đều có nhân thân tốt chưa có tiền án, tiền sự.
[4.2]. Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo A T là người xúi giục bị cáo A N (chưa đủ 18 tuổi) thực hiện hành vi phạm tội nên bị cáo A T phải chịu tình tiết tăng nặng “xúi giục người dưới 18 tuổi phạm tội” được quy định tại khoản o khoản 1 Điều 52 BLHS. Các bị cáo A Hoàng Q, A T1 và A N không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự quy định tại Điều 52 Bộ luật Hình sự.
[4.3]. Về tình tiết giảm nhẹ: Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo A T, A Hoàng Q, A N, A T1 thành khẩn khai báo và ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình. Do đó, cần áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại Điểm s Khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự đối với các bị cáo A T, A Hoàng Q, A N, A T1.
Bị cáo A N khi phạm tội là người chưa thành niên (mới hơn 17 tuổi), nhận thức về pháp luật còn hạn chế. Do đó, quá trình giải quyết vụ án cần xem xét áp dụng hình phạt đối với người chưa thành niên phạm tội quy định tại Chương XII của Bộ luật Hình sự đối với bị cáo A N khi lượng hình.
Qua phân tích, đánh giá tính chất mức độ hành vi phạm tội, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ và nhân thân của các bị cáo, Hội đồng xét xử xét thấy:
Hành vi của các bị cáo đã trực tiếp xâm hại đến quyền quản lý độc quyền về ma tuý của Nhà nước, thể hiện sự coi thường pháp luật, làm ảnh hưởng xấu đến tình hình trật tự trị an tại địa phương, tạo ra sự hoang mang lo lắng cũng như gây phẫn nộ trong quần chúng nhân dân. Do đó, cần phải xử phạt các bị cáo mức án nghiêm khắc phù hợp với tính chất, mức độ hành vi phạm tội mà các bị cáo đã gây ra. Cách ly các bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian mới đủ sức răn đe, giáo dục các bị cáo trở thành những người sống có ý thức chấp hành pháp luật.
[5]. Về hình phạt bổ sung: Xét thấy các bị cáo A T, A Hoàng Q, A N, A T1 là người nghiện ma túy, làm nông và không có thu nhập ổn định. Vì vậy, Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung bằng tiền đối với các bị cáo.
[6]. Về vật chứng của vụ án: Quá trình điều tra, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Đ tạm giữ những vật chứng gồm:
- - 01 (một) bì ni lông trong suốt, có kích thước 24cm x 13,8cm, bên trong bì ni lông có chứa các hạt tinh thể rắn màu trắng, nghi là ma túy. Là số ma tuý mà bị cáo A T mua của người tên C2 tại khu vực xã Đ, thành phố K, tỉnh Kon Tum với giá 7.600.000đ (bảy triệu sáu trăm ngàn đồng), mục đích để bán và sử dụng ma tuý khi có nhu cầu. Số ma tuý trên là ma túy, loại: Methamphetamine, có khối lượng là: 21,834 gam đã niêm phong sau khi được giám định tại Phòng K - Công an tỉnh K; Mẫu vật hoàn trả sau khi giám định có khối lượng đã trừ bì là 21,808 gam đây là vật chứng của vụ án nên cần tịch thu tiêu huỷ là phù hợp.
- - 01 (một) cân điện tử màu đỏ, xung quanh cân có các dòng chữ "Marllono”, cân đã qua sử dụng; là tài sản của A T, sử dụng vào việc mua bán trái phép chất ma túy. Đây là vật chứng của vụ án nên cần tịch thu tiêu huỷ là phù hợp.
- - 01 (một) điện thoại di động, loại màn hình cảm ứng, nhãn hiệu OPPO A78, màu xanh dương, máy đã qua sử dụng, là tài sản của bị cáo A T, đã được niêm phong. Đây là công cụ phương tiện bị cáo dùng để liên lạc mua bán ma tuý nên cần tịch thu sung quỹ Nhà nước.
- - 01 (một) điện thoại di động, loại màn hình cảm ứng, nhãn hiệu IPHONE XS, màu gold, máy đã qua sử dụng; là tài sản của bị cáo A Hoàng Q, đã được niêm phong. Đây là công cụ phương tiện bị cáo dùng để liên lạc mua bán ma tuý nên cần tịch thu sung quỹ Nhà nước.
[7]. Các vấn đề khác:
Đối với người đàn ông tên C2 bán ma túy cho A T vào ngày 03/10/2024: Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Đ đã tiến hành xác minh nhưng không xác định được nhân thân, lai lịch, địa chỉ cụ thể nên chưa có căn cứ để xử lý. Cơ quan điều tra tiếp tục xác minh đối với người đàn ông tên C2 để có cơ sở xử lý theo quy định của pháp luật.
Đối với hành vi sử dụng trái phép chất ma túy của các bị cáo A T, A Hoàng Q, A T1 và A N vào các thời điểm khác nhau, các bị cáo sử dụng một mình tại xã Đ, huyện Đ, tỉnh Kon Tum. Căn cứ khoản 1 Điều 23, Nghị định 144/2021/NĐ-CP ngày 31 tháng 12 năm 2021 Quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực an ninh, trật tự, an toàn xã hội; phòng chống tệ nạn xã hội; phòng cháy, chữa cháy; cứu nạn, cứu hộ; phòng chống bạo lực gia đình. Công an huyện Đ đã ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính đối với A T, A Hoàng Q và A T1 bằng hình thức phạt tiền, mức phạt tiền 1.500.000đ (một triệu năm trăm nghìn đồng). Công an huyện Đ đã ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính đối với A N (là người từ đủ 16 tuổi đến dưới 18 tuổi) về hành vi trên bằng hình thức phạt tiền, mức phạt bằng ½ mức phạt tiền của người đã thành niên, số tiền: 750.000 đồng (bảy trăm năm mươi nghìn đồng).
Đối với hành vi sử dụng trái phép chất ma túy của A H1, A N1, A H2 vào các thời điểm khác nhau, các đối tượng sử dụng một mình. Căn cứ khoản 1 Điều 23, Nghị định 144/2021/NĐ-CP ngày 31 tháng 12 năm 2021 Quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực an ninh, trật tự, an toàn xã hội; phòng chống tệ nạn xã hội; phòng cháy, chữa cháy; cứu nạn, cứu hộ; phòng chống bạo lực gia đình. Công an huyện Đ đã ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính đối với A H1 và A N1 bằng hình thức phạt tiền, mức phạt 1.500.000đ (một triệu năm trăm nghìn đồng). Công an huyện Đ đã ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính đối với A H2 (là người từ đủ 16 tuổi đến dưới 18 tuổi) về hành vi trên, bằng hình thức phạt tiền, mức phạt bằng ½ mức phạt tiền của người đã thành niên, số tiền: 750.000 đồng (bảy trăm năm mươi nghìn đồng).
Đối với bà Lê Thị M2: Khoảng từ tháng 12/2023, A T thuê nhà của bà tại thôn K, xã Đ, huyện Đ, tỉnh Kon Tum để kinh doanh quán bida. Trong quá trình thuê, bà không đến nhà này. Đến cuối tháng 11/2024, đến hạn nộp tiền thuê nhà, bà đến đây thì người nhà của A T đã dọn dẹp đồ, qua tìm hiểu mới biết A T bị Cơ quan điều tra bắt về hành vi mua bán ma túy. Vì vậy, Cơ quan Cảnh sát điều tra không xem xét trách nhiệm đối với bà M2 là đúng quy định của pháp luật.
[8]. Về án phí: Các bị cáo A T, A Hoàng Q, A N, A T1 sinh sống tại vùng có điều kiện kinh tế đặc biệt khó khăn nên căn cứ vào Quyết định 612/QĐ-UBDT ngày 16/9/2002 của Uỷ ban dân tộc quyết định phê duyệt danh sách các thôn đặc biệt khó khăn vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi giai đoạn 2021-2025 miễn toàn bộ án phí cho các bị cáo A T, A Hoàng Q, A N, A T1.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Tuyên bố: Bị cáo A T phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy” và tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”; Các bị cáo A Hoàng Q, A Nhôm A T1 phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.
-
Áp dụng điểm b khoản 2 Điều 251; Điều 17; Điều 38; Điểm s Khoản 1 Điều 51; điểm o khoản 1 Điều 52 BLHS; Điều 58 Bộ luật Hình sự.
Xử phạt: Bị cáo A T mức án 07 (Bảy) năm 03 (Ba) tháng tù về tội “Mua bán trái phép chất ma tuý”.
Áp dụng điểm g khoản 2 Điều 249; Điều 38; Điểm s Khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
Xử phạt: Bị cáo A T mức án 07 (B3) năm tù, về tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”.
Áp dụng Khoản 1 Điều 55 Bộ luật Hình sự, tổng hợp hình phạt buộc bị cáo A T phải chịu mức án của 02 tội là 14 (Mười bốn) năm 03 (Ba) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bắt tạm giữ, tạm giam ngày 19/11/2024.
-
Áp dụng điểm b khoản 2 Điều 251; Điều 17; Điều 38; Điểm s Khoản 1 Điều 51; Điều 58 Bộ luật Hình sự.
Xử phạt: Bị cáo A Hoàng Q mức án 07 (Bảy) năm tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bắt tạm giữ, tạm giam ngày 19/11/2024.
-
Áp dụng điểm b khoản 2 Điều 251; Điều 17; Điều 38; Điểm s Khoản 1, Khoản 2 Điều 51; Điều 58; Điều 90; Điều 91; Điều 101 Bộ luật Hình sự.
Xử phạt: Bị cáo A N mức án 05 (Năm) năm 03 (Ba) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bắt tạm giữ, tạm giam ngày 19/11/2024.
-
Áp dụng khoản 1 Điều 251; Điều 17; Điều 38; Điểm s Khoản 1 Điều 51; Điều 58 Bộ luật Hình sự.
Xử phạt: Bị cáo A T1 02 (Hai) năm tù, thời hạn tù tính từ ngày bắt tạm giữ, tạm giam ngày 19/11/2024.
Về hình phạt bổ sung: Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung đối với các bị cáo.
Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điểm a Khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; điểm a khoan 2 Điều 106 Bộ Luật Tố tụng hình sự:
- Tịch thu tiêu huỷ:
- + Mẫu vật hoàn trả sau khi giám định gồm: Phong bì mặt trước có nội dung "CÔNG AN TỈNH KON TUM PHÒNG KỸ THUẬT HÌNH SỰ SỐ 454/KL-KLHS", mặt sau có các hình dấu tròn có nội dung "*PHÒNG KỸ THUẬT HÌNH SỰ CÔNG AN TỈNH KON TUM" và có các chữ ký ghi tên của những người tham gia niêm phong tại mép dán, số lượng: 1 Cái, Đặc điểm: Mẫu vật hoàn trả sau giám định gồm 01 (một) bì ni lông trong suốt có kích thước khoảng (24x13,8)cm; 01 (một) phong bì thư đựng mẫu vật gửi giám định và mẫu vật còn lại sau giám định có khối lượng đã trừ bì là 21,808 gam.
- + 01 Cân điện tử, số lượng: 1 Cái, Đặc điểm: Màu đỏ, xung quanh cân có các dòng chữ "Marllono".
Tịch thu sung quỹ Nhà nước;
- + Phong bì thư màu trắng, có mặt trước chữ "VỊNH HẠ LONG DI SẢN THIÊN NHIÊN THẾ GIỚI", mặt sau có các dấu tròn đỏ có nội dung "*CÔNG AN XÃ ĐĂK HRING*CÔNG AN HUYỆN ĐĂK HÀ TỈNH KON TUM*" và có các chữ ký ghi tên của những người tham gia niêm phong tại mép dán, số lượng: 1 dụng của A T. Cái, Đặc điểm: Điện thoại di động hiệu OPPO A78, màu xanh dương, đã qua sử dụng.
- + Phong bì thư màu trắng, có mặt trước chữ "VỊNH HẠ LONG DI SẢN THIÊN NHIÊN THẾ GIỚI", mặt sau có các dấu tròn đỏ có nội dung "*CÔNG AN XÃ ĐĂK HRING*CÔNG AN HUYỆN ĐĂK HÀ TỈNH KON TUM*" và có các chữ ký ghi tên của những người tham gia niêm phong tại mép dán, số lượng: 1 của A Hoàng Q. Cái, Đặc điểm: Điện thoại di động hiệu Iphone, loại XS, màu Gold, đã qua sử dụng.
(Các vật chứng có đặc điểm, hình dạng, kích thước như trong Biên bản giao nhận vật chứng ngày 21 tháng 02 năm 2025 giữa Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Đ và Chi cục Thi hành án dân sự huyện Đăk Hà).
Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 12; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Quyết định 612/QĐ-UBDT ngày 16/9/2002 của Uỷ ban dân tộc Quyết định phê duyệt danh sách các thôn đặc biệt khó khăn vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi giai đoạn 2021-2025 miễn toàn bộ án phí cho các bị cáo A T; A Hoàng Q; A T1, A N.
Quyền kháng cáo: Căn cứ các Điều 331, 332, 333 Bộ luật Tố tụng hình sự. Trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày, kể từ ngày tuyên án 04/4/2025, các bị cáo, người đại diện hợp pháp của bị cáo A N; Người bào chữa cho bị cáo A N có quyền kháng cáo bản án lên Tòa án nhân dân tỉnh Kon Tum để yêu cầu giải quyết theo trình tự phúc thẩm.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6,7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự./.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Quách Văn Nưm |
Bản án số 14/2025/HS-ST ngày 04/04/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐĂK HÀ, TỈNH KON TUM về mua bán trái phép chất ma túy và tàng trữ trái phép chất ma túy
- Số bản án: 14/2025/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Mua bán trái phép chất ma túy và Tàng trữ trái phép chất ma túy
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 04/04/2025
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐĂK HÀ, TỈNH KON TUM
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: A Truyền cùng đồng bọn Mua bán trái phép chaatsv ma túy
