|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LONG ĐẤT TỈNH BÀ RỊA - VŨNG TÀU |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 36/2025/HNGĐ-ST
Ngày 02-4-2025
V/v Tranh chấp ly hôn
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LONG ĐẤT, TỈNH BÀ RỊA-VŨNG TÀU
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Văn Thị Hiền
Các hội thẩm nhân dân:
- Bà Trần Thị Mông Thu
- Bà Nguyễn Thị Di
- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Quốc Tín - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Long Đất, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Long Đất, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Minh Khuê, Kiểm sát viên.
Ngày 02 tháng 4 năm 2025, tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Long Đất, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu xét xử công khai vụ án hôn nhân và gia đình sơ thẩm thụ lý số 407/2024/TLST- HNGĐ ngày 26 tháng 11 năm 2025 về “Tranh chấp ly hôn”. Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 31/2025/QĐXXST - HNGĐ ngày 28 tháng 02 năm 2025; Quyết định hoãn phiên toà số 28/2025/QĐST - HNGĐ ngày 17 tháng 3 năm 2025 giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Bà Phúc Thị Mỹ D, sinh năm 2002 (có mặt).
Địa chỉ: Số 1 đường T, tổ G, khu phố H, thị trấn L, huyện L (nay là huyện L), tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu
Bị đơn: Ông Nguyễn Duy T, sinh năm 1998 (vắng mặt).
Địa chỉ: Tổ A, ấp L, xã P, huyện L (nay là huyện L), tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
- Theo đơn khởi kiện, quá trình tố tụng nguyên đơn trình bày:
Bà Phúc Thị Mỹ D và ông Nguyễn Duy T, sau thời gian tìm hiểu nhau đã chung sống và kết hôn từ năm 2020, có làm thủ tục đăng ký kết hôn theo quy định tại UBND thị trấn L, huyện L (nay là huyện L), tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu. Giấy chứng nhận kết hôn số 223 ngày 19/10/2020.
Theo bà D thì từ tháng 4/2021 giữa bà D và ông T bắt đầu phát sinh mâu thuẫn, ông T không lo làm ăn mà chỉ lo tụ tập bạn bè ăn chơi rồi về đánh đập bà. Đã rất nhiều lần bà D khuyên nhủ nhưng ông T vẫn không thay đổi. Vì không thể chịu đựng nổi nên bà D đã bỏ về nhà mẹ ruột sống từ năm 2021 cho đến nay.
Nay bà D xác định không còn tình cảm vợ chồng với ông T nữa nên bà D đề nghị Tòa án giải quyết cho bà được ly hôn với ông T để bà ổn định cuộc sống.
Về con chung: Bà D xác nhận giữa bà và ông T không có con chung
Về tài sản chung, nợ chung: Bà D xác nhận không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Đối với bị đơn: Kể từ khi Tòa án thụ lý vụ án, Tòa án đã niêm yết Thông báo thụ lý, Giấy triệu tập, Thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải, Quyết định xét xử, Quyết định hoãn phiên tòa nhưng ông T vẫn không đến Tòa án làm việc mà không có lý do, vì thế Tòa án không thể tổ chức hòa giải để thuyết phục động viên các bên giải quyết mâu thuẫn, hàn gắn tình cảm để trở về đoàn tụ với nhau. Theo biên bản xác minh tại địa phương thì ông T có đăng ký thường trú tại địa chỉ tổ A, ấp L, xã P, huyện H, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu, hiện nay ông T vẫn đang thực tế sinh sống tại địa chỉ trên.
Tại phiên tòa:
Nguyên đơn vẫn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện ly hôn.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Long Đất, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu phát biểu ý kiến:
Về tố tụng: Thẩm phán, thư ký, Hội đồng xét xử đã thực hiện đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.
Về việc chấp hành pháp luật của những người tham gia tố tụng: Nguyên đơn đã chấp hành đầy đủ quyền, nghĩa vụ theo quy định tại các Điều 70, Điều 71 Bộ luật tố tụng dân sự. Bị đơn không chấp hành đầy đủ quyền, nghĩa vụ theo quy định tại các Điều 70, Điều 71 Bộ luật Tố tụng dân sự.
Về nội dung tranh chấp:
Về quan hệ hôn nhân: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, chấp nhận cho bà D được ly hôn với ông T.
Về con chung, tài sản chung, nợ chung: Bà D xác nhận giữa bà D và ông T không có con chung, không có tài sản chung, nợ chung và không yêu cầu Tòa án giải quyết nên đề nghị Họ đồng xét xử không xem xét.
Về án phí: Buộc bà D phải nộp theo quy định pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Qua nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được xem xét tại phiên tòa, sau khi nghe ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Long Đất, Tòa án nhận định như sau:
[1] Về tố tụng:
1.1. Về quan hệ pháp luật và thẩm quyền giải quyết: Bị đơn có đăng ký thường trú và đang thực tế sinh sống tại huyện L, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu nên thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Long Đất theo khoản 1 Điều 28 và điểm a khoản 1 Điều 35, Điều 36, Điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự và quan hệ pháp luật của vụ án là “Tranh chấp ly hôn, nuôi con chung".
1.2. Về sự vắng mặt của người tham gia tố tụng trong vụ án: Bị đơn ông Nguyễn Duy T đã được Tòa án tiến hành niêm yết các văn bản tố tụng theo đúng quy định. Theo biên bản xác minh tại địa phương thì ông T có đăng ký thường trú tại địa chỉ tổ A, ấp L, xã P, huyện H, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu, hiện nay ông T vẫn đang thực tế sinh sống tại địa chỉ trên.
Ông Nguyễn Duy T đã được Tòa án tiến hành tống đạt các văn bản tố tụng theo đúng quy định tuy nhiên đây là lần thứ hai vắng mặt không có lý do nên căn cứ Điều 227, 228 Bộ luật Tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử tiếp xét xử vụ án là đúng quy định pháp luật.
[2] Xét yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn:
[2.1] Về quan hệ hôn nhân:
Qua thời gian quen biết và tìm hiểu nhau, bà Phúc Thị Mỹ D và ông Nguyễn Duy T tiến tới hôn nhân từ năm 2020 trên cơ sở hoàn toàn tự nguyện. Bà D và ông T đăng ký kết hôn tại UBND thị trấn L, huyện L (nay là huyện L), tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu. Giấy chứng nhận kết hôn số 223 ngày 19/10/2020. Do vậy, Hội đồng xét xử thấy rằng quan hệ hôn nhân giữa bà D và ông T là hôn nhân hợp pháp.
Quá trình hoà giải tại Toà, bà D xác định không còn tình cảm vợ chồng với ông T nữa. Cả hai phát sinh nhiều mâu thuẫn, nguyên nhân chính là do bất đồng về tính cách, quan điểm sống, ông T không cố gắng đi làm để lo cho gia đình mà thường xuyên tụ tập bạn bè nhậu nhẹt, đánh đập bà nên dẫn đến việc thường xuyên cãi vã, cuộc sống vợ chồng luôn căng thẳng. Xét thấy bà D và ông T đã tự ý ly thân từ năm 2021 cho đến nay, nhưng cả ông T và bà D đều không tìm cách tháo gỡ những mâu thuẫn, không có biện pháp nào để hàn gắn hạnh phúc gia đình mà bỏ mặc dẫn đến hạnh phúc gia đình tan vỡ. Tòa án đã nhiều lần tổ chức hòa giải để vợ chồng bà D, ông T đoàn tụ nhưng bà D không đồng ý. Điều này chứng tỏ bà D không mong muốn tiếp tục chung sống với ông T nữa và cương quyết được ly hôn với ông T. Nhận thấy, mâu thuẫn giữa hai vợ chồng bà D, ông T đã thật sự trầm trọng, không thể hàn gắn, mục đích hôn nhân không đạt, đời sống hôn nhân không thể kéo dài. Nên cần chấp nhận yêu cầu xin được ly hôn của bà D với ông T.
[2.2] Về con chung: Bà D xác nhận giữa bà D và ông T không có con chung nên Hội đồng xét xử không xem xét.
[3] Về tài sản chung, nợ chung: Bà D không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.
[4] Về án phí: Nguyên đơn bà D phải chịu án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm là 300.000 đồng.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ các Điều 28, 35, 39, 147, 227, 228, 235, 273 Bộ luật Tố tụng dân sự; các Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014; Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án.
1.Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Phúc Thị Mỹ D. Bà Phúc Thị Mỹ D được ly hôn với ông Nguyễn Duy T.
2.Về con chung: Bà Phúc Thị Mỹ D và ông Nguyễn Duy T không có con chung.
3. Về tài sản chung và nợ chung: Bà Phúc Thị Mỹ D không yêu cầu Tòa án giải quyết
4. Về án phí hôn nhân gia đình: Bà Phúc Thị Mỹ D phải nộp 300.000₫ (ba trăm ngàn đồng) án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm nhưng được khấu trừ 300.000₫ (ba trăm ngàn đồng) tiền tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu tiền số 0003909 ngày 25/11/2024 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Long Điền (nay là huyện L). Như vậy bà D đã nộp xong án phí.
5. Về quyền kháng cáo: Trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, đương sự có mặt có quyền kháng cáo bản án để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu xét xử theo thủ tục phúc thẩm. Đối với đương sự vắng mặt thì thời hạn kháng cáo là 15 ngày tính từ ngày nhận bản án hoặc bản án được niêm yết công khai
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Văn Thị Hiền |
Bản án số 36/2025/HNGĐ-ST ngày 02/04/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LONG ĐẤT, TỈNH BÀ RỊA-VŨNG TÀU về tranh chấp ly hôn
- Số bản án: 36/2025/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp ly hôn
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 02/04/2025
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LONG ĐẤT, TỈNH BÀ RỊA-VŨNG TÀU
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Phúc Thị Mỹ D-Nguyễn Duy T
