|
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐỒNG PHÚ TỈNH BÌNH PHƯỚC |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh Phúc |
|
Bản án số: 14/2025/HS-ST Ngày: 27/3/2025 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐỒNG PHÚ, TỈNH BÌNH PHƯỚC
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Lê Văn Sơn
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Vũ Trung Thành
Ông Thạch Ni
- Thư ký ghi biên bản phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Hoài Thương – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Đồng Phú, tỉnh Bình Phước.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đồng Phú, tỉnh Bình Phước tham gia phiên tòa: Ông Lê Hoàng Anh - Kiểm sát viên.
Ngày 27 tháng 3 năm 2025, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Đồng Phú, tỉnh Bình Phước xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 124/2024/TLST-HS ngày 28 tháng 10 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 122/2024/QĐXXST-HS ngày 12 tháng 12 năm 2024, đối với bị cáo:
Họ và tên: Trần Thanh C (Tên gọi khác: Bánh T), sinh năm 1989 tại Vĩnh Long; giới tính: Nam; Dân tộc: Kinh; Quốc tịch: Việt Nam; Tôn giáo: không; Chức vụ (Đoàn thể, đảng phái): không; Nghề nghiệp: Nhân viên công ty giao hàng; Nơi đăng ký thường trú: Ấp L, xã L, huyện M, tỉnh Vĩnh Long; Tiền sự: không.
Tiền án: Ngày 15/5/2020 bị xử phạt 02 (hai) năm tù về tội “Trộm cắp tài sản” theo Bản án số 14/2020/HSST của Tòa án nhân dân huyện Mang Thít, tỉnh Vĩnh Long, chấp hành xong ngày 25/01/2022.
Nhân thân:
- Ngày 11/7/2007, bị xử phạt 06 (Sáu) tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”, theo Bản án số 80/2007/HSST của Tòa án nhân dân huyện Tân Uyên, tỉnh Bình Dương.
- Ngày 09/7/2008, bị xử phạt 09 (Chín) tháng tù về tội “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản”, theo Bản án số 76/2008/HSST của Tòa án nhân dân huyện Tân Uyên, tỉnh Bình Dương.
- Ngày 06/01/2010, bị xử phạt 03 (Ba) năm tù về tội “Trộm cắp tài sản”, theo Bản án số 10/2010/HSST của Tòa án nhân dân huyện Long Hồ, tỉnh Vĩnh Long.
- Ngày 20/4/2010, bị xử phạt 07 (Bảy) năm 09 (C1) tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”, theo Bản án số 50/2010/HSST của Tòa án nhân dân tỉnh Cà Mau (Tổng hợp hình phạt với Bản án số 10/2010/HSST, ngày 06/01/2010 của Tòa án nhân dân huyện Long Hồ, tỉnh Vĩnh Long).
- Ngày 31/3/2023 bị Tòa án nhân dân huyện Phú Giáo, tỉnh Bình Dương xử phạt 02 (hai) năm 03 (Ba) tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, chấp hành xong hình phạt tù ngày 21/11/2024.
Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú từ ngày 22/11/2024 cho đến nay (Có mặt tại phiên tòa).
* Những người tham gia tố tụng:
- Nguyên đơn dân sự: Công ty Cổ phần G. Đại diện theo ủy quyền: Ông Trần Quốc H- Nhân viên pháp chế Công ty Cổ phần G. Địa chỉ: Tòa nhà P, số B đường C, phường A, Quận T, thành phố Hồ Chí Minh. (Vắng mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Trần Thanh C là nhân viên của Công ty Cổ phần G - Chi nhánh B (viết tắt là Công ty G), có địa chỉ tại thị trấn T, huyện Đ, tỉnh Bình Phước. Nhiệm vụ của C là nhận các đơn hàng từ kho Đ mang đi giao cho khách hàng trên địa bàn thị trấn T, huyện Đ, tỉnh Bình Phước và thu hộ tiền từ khách hàng theo số tiền ghi trên đơn hàng, sau đó mang toàn bộ số tiền đã thu từ khách hàng hoặc những đơn hàng chưa giao được về kho và giao lại cho nhân viên điều phối từ 11 giờ đến 12 giờ và từ 18 giờ đến 19 giờ hàng ngày. Toàn bộ số lượng đơn C nhận từ kho, số đơn đã giao, số đơn còn lại sẽ được cập nhật vào hệ thống và theo dõi trên ứng dụng Drivers&X (tháng 5/2023 đã đổi tên thành GHTK.Co) được cài đặt trên điện thoại di động có sử dụng internet.
Sáng ngày 14/11/2022, C nhận 60 (sáu mươi) đơn hàng trị giá 35.088.800 đồng (ba mươi lăm triệu không trăm tám mươi tám nghìn tám trăm đồng). Đến khoảng 12 giờ cùng ngày, C đã giao thành công 25 đơn hàng và thu tiền của khách 15.810.800 đồng (mười lăm triệu tám trăm mười nghìn tám trăm đồng) còn lại 35 đơn hàng trị giá 19.278.000 đồng (mười chín triệu hai trăm bảy mươi tám nghìn đồng) chưa giao được. Sau khi giao xong các đơn hàng cho khách, thu hộ được số tiền trên thì C đến khu vực huyện P, tỉnh Bình Dương để sử dụng ma túy. Sau đó, C không liên hệ và làm việc với Công ty G mà tiếp tục sử dụng ma túy. Đến ngày 21/11/2022, C bị Công an huyện P, tỉnh Bình Dương bắt về hành vi “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
Tại bản Cáo trạng số: 120/CT-VKSĐP ngày 17/10/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Đồng Phú truy tố bị cáo Trần Thanh C về tội “Tham ô tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 353 của Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa, Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đồng Phú, tỉnh Bình Phước giữ nguyên quan điểm truy tố đối với các bị cáo như Cáo trạng đã đề cập và đề nghị Hội đồng xét xử: Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Trần Thanh C về phạm tội “Tham ô tài sản”.
Về hình phạt: Áp dụng khoản 1 Điều 353; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52, các điều 38, 50 của Bộ luật Hình sự, đề nghị xử phạt bị cáo Trần Thanh C từ 02 năm 06 tháng đến 03 năm tù.
Đối với Công ty G yêu cầu Trần Thanh C bồi thường số tiền 49.378.000 (Bốn mươi chín triệu ba trăm bảy mươi tám nghìn) đồng. Đồng thời, có đơn xin vắng mặt tại phiên tòa.
Tại phiên tòa, bị cáo khai nhận toàn bộ hành vi của mình như nội dung bản cáo trạng của Viện kiểm sát đã truy tố. Bị cáo không có ý kiến tranh luận với luận tội của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đồng Phú về tội danh; xin giảm nhẹ so với mức Viện kiểm sát đề nghị.
Lời nói sau cùng của bị cáo: Bị cáo đã nhận thức được hành vi của bị cáo là vi phạm pháp luật và xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về tố tụng: Trong quá trình điều tra, truy tố, các hành vi, quyết định của cơ quan điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát, Kiểm sát viên đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo, người liên quan không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Tại phiên tòa, bị cáo khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như Cáo trạng của Viện kiểm sát đã truy tố. Xét lời khai nhận tội của bị cáo phù hợp với khai của người liên quan, người làm chứng, vật chứng thu giữ và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở nhận định: Bị cáo Trần Thanh C là nhân viên của Công ty G, ngày 14/11/2022, bị cáo lợi dụng nhiệm vụ, quyền hạn được giao trong quản lý tài sản, đã chiếm đoạt số tiền thu hộ và các đơn hàng của Công ty G giao cho bị cáo quản lý. Trị giá tài sản bị chiếm đoạt là 35.088.800 (Ba mươi lăm triệu, không trăm tám mươi tám nghìn, tám trăm) đồng.
Như vậy, hành vi của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội “Tham ô tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 353 của Bộ luật Hình sự. Do đó, Cáo trạng truy tố của Viện kiểm sát nhân dân huyện Đồng Phú đối với bị cáo Trần Thanh C là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng quy định pháp luật.
[3] Hành vi mà bị cáo đã thực hiện là nghiêm trọng, đã xâm phạm đến các hoạt động đúng đắn, uy tín của cơ quan, tổ chức, gây dư luận xấu, làm ảnh hưởng đến lòng tin của người dân đối với cơ quan, tổ chức; trực tiếp xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của Công ty G và trật tự an toàn xã hội.
[4] Bị cáo thực hiện hành vi phạm tội với lỗi cố ý trực tiếp, khi thực hiện hành vi phạm tội, bị cáo là người có đủ năng lực trách nhiệm hình sự, biết hành vi chiếm đoạt tài sản mà Công ty G giao cho bị cáo quản lý là vi phạm pháp luật sẽ bị nghiêm trị nhưng vì mục đích tư lợi cá nhân bị cáo vẫn cố tình thực hiện. Mặc dù bị cáo khai lý do không trả lại tiền và hàng cho Công ty là do sau khi sử dụng ma túy, bị cáo bị ảo giác nên để mất số hàng và tiền đã thu hộ, nhưng lời khai trên là không có căn cứ, nên không được chấp nhận. Vì vậy, xét thấy cần xử bị cáo mức án nghiêm khắc, tương xứng với hành vi mà bị cáo đã thực hiện mới có tác dụng răn đe, giáo dục đối với bị cáo và phòng ngừa chung.
[3] Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và mức hình phạt:
Về tình tiết tăng nặng: Ngày 15/5/2020, bị cáo bị xử phạt 02 (hai) năm tù về tội “Trộm cắp tài sản” theo Bản án số 14/2020/HSST của Tòa án nhân dân huyện Mang Thít, tỉnh Vĩnh Long, chấp hành xong ngày 25/01/2022, đến ngày 14/11/2022 bị cáo tiếp tục phạm tội. Do đó, bị cáo bị áp dụng tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự là “Tái phạm” theo quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự.
Về tình tiết giảm nhẹ: Sau khi phạm tội và tại phiên tòa, bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; gia đình bị cáo có hoàn cảnh khó khăn, mẹ bị bệnh đột quỵ, bị cáo là lao động chính trong gia đình; có trình độ học vấn thấp; tại phiên tòa bị cáo đồng ý bồi thường theo yêu cầu của Công ty G. Đây là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự, được Hội đồng xét xử xem xét, áp dụng để giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo khi quyết định hình phạt.
Xét thấy, bị cáo có 01 tình tiết giảm nhẹ tại khoản 1 và 3 tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 2 Điều 51; có 01 tình tiết tăng nặng khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự. Ngoài ra, bị cáo từng nhiều lần bị kết án, nên có nhân thân xấu. Do đó, Hội đồng xét xử xét thấy cần xét xử bị cáo mức án nghiêm khắc, mới có tác dụng răn đe, giáo dục bị cáo và phòng ngừa chung.
Về hình phạt bổ sung: Do bị cáo không có nghề nghiệp ổn định nên miễn áp dụng hình phạt bổ sung cho bị cáo.
[5] Về trách nhiệm dân sự: Công ty G yêu cầu Trần Thanh C bồi thường số tiền 49.378.000 (Bốn mươi chín triệu ba trăm bảy mươi tám nghìn) đồng. Tại phiên tòa, bị cáo đồng ý bồi thường theo yêu cầu nêu trên, nên Hội đồng xét xử ghi nhận sự thỏa thuận, buộc bị cáo phải bồi thường cho Công ty giao hàng tiết kiệm số tiền trên là phù hợp.
[6] Về xử lý vật chứng: Đối với vật chứng là 01 USB hiệu KIOXIA 16GB màu trắng, lưu giữ dữ liệu điện tử 60 đơn hàng do Công ty G giao cho bị cáo Trần Thanh C, là vật chứng minh hành vi phạm tội của bị cáo, nên cần lưu hồ sơ là phù hợp.[8] Quan điểm của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đồng Phú, tỉnh Bình Phước đề nghị về tội danh, khung hình phạt, các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và đề nghị mức hình phạt như trên là có căn cứ nên được Hội đồng xét xử chấp nhận.[9] Về án phí hình sự sơ thẩm và án phí dân sự sơ thẩm: Bị cáo Trần Thanh C phải chịu theo luật định.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Tuyên bố bị cáo Trần Thanh C phạm tội “Tham ô tài sản”.
Áp dụng khoản 1 Điều 353; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52, các điều 38, 50 của Bộ luật Hình sự;
Xử phạt bị cáo Trần Thanh C 02 (Hai) năm 06 (Sáu) tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị cáo đi chấp hành án.
Về trách nhiệm dân sự: Ghi nhận sự tự nguyện thỏa thuận của bị cáo và nguyên đơn dân sự, buộc bị cáo Trần Thanh C phải bồi thường cho Công ty Cổ phần G 49.378.000 (Bốn mươi chín triệu ba trăm bảy mươi tám nghìn) đồng.
Về xử lý vật chứng: Lưu hồ sơ vụ án 01 (Một) USB hiệu KIOXIA 16GB, màu trắng.
Về án phí : Áp dụng Điều 135, Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc Hội, buộc bị cáo phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm và 2.468.900 đồng án phí dân sự sơ thẩm có giá ngạch.
Bị cáo Trần Thanh C được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án; Công ty Cổ phần G vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án, bản sao bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết theo luật định.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Lê Văn Sơn |
Bản án số 14/2025/HS-ST ngày 27/03/2025 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐỒNG PHÚ, TỈNH BÌNH PHƯỚC về tham ô tài sản
- Số bản án: 14/2025/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Tham ô tài sản
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 27/03/2025
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐỒNG PHÚ, TỈNH BÌNH PHƯỚC
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Trần Thanh Cường- Tham ô tài sản
