trending_up Tìm kiếm thịnh hành hôm nay
  • history Nghị định xử phạt hành chính đất đai
  • search Thuế thu nhập cá nhân khi bán nhà đất
  • search Luật đất đai mới nhất năm 2026
  • search Lợi ích khi đăng ký tài khoản VNeID cấp 2
Chế độ Trả lời thông minh A.I

Hệ thống AI sẽ trả lời nhanh dựa trên hàng triệu văn bản luật, giải đáp trực tiếp khúc mắc của bạn.

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN ÂN THI

TỈNH HƯNG YÊN

Bản án số: 14/2025/HSST

Ngày: 26-3-2025

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ÂN THI - TỈNH HƯNG YÊN

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Nguyễn Tiến Lũng.

Các hội thẩm nhân dân:

Ông: Trần Quang Chử;

Bà: Nguyễn Thị Thu Lương.

Thư ký phiên toà: Ông Nguyễn Tuấn Anh - Thư ký Tòa án.

Đại diện VKSND huyện tham gia phiên toà: Ông Trần Xuân T - KSV.

Ngày 26 tháng 3 năm 2025 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Ân Thi, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 18/2025/TLST-HS ngày 04 tháng 3 năm 2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 15/QĐXXST-HS ngày 13 tháng 3 năm 2025 đối với các bị cáo:

  1. Bị cáo: Phạm Như N, sinh ngày 16/7/2006; Giới tính: Nam; Nơi cư trú: thôn M, xã H, huyện Â, tỉnh Hưng Yên. Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Học sinh; Trình độ học vấn: Đang học lớp 12; Con ông: Phạm Như Â, con bà: Nguyễn Thị N1; Vợ, con: chưa có. Tiền án, tiền sự: Không. Bị cáo được áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú. Hiện đang tại ngoại tại địa phương. Có mặt.
  2. Bị cáo: Đinh Văn L, sinh ngày 14/10/2006; Giới tính: Nam; Nơi cư trú: thôn L, xã C, huyện Â, tỉnh Hưng Yên. Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Học sinh; Trình độ học vấn: Đang học lớp 12; Con ông: Đinh Văn H, con bà: Đỗ Thị P; Vợ, con: chưa có. Tiền án, tiền sự: Không. Bị cáo được áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú. Hiện đang tại ngoại tại địa phương. Có mặt.
  3. Bị cáo: Nguyễn Công K, sinh ngày 12/12/2007; Giới tính: Nam; Nơi cư trú: thôn L, xã H, huyện Â, tỉnh Hưng Yên. Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Học sinh; Trình độ học vấn: Đang học lớp 11; Con ông: Nguyễn Công N2, con bà: Nguyễn Thị T1; Vợ, con: chưa có. Tiền án, tiền sự: Không. Bị cáo được áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú. Hiện đang tại ngoại tại địa phương. Có mặt.
  4. - Người đại diện theo pháp luật cho bị cáo K: Ông Nguyễn Công N2, sinh năm 1976 (là bố đẻ của bị cáo); Trú tại: thôn L, xã H, huyện Â, tỉnh Hưng Yên. Có mặt.
  5. - Trợ giúp viên pháp lý bào chữa cho bị cáo K: Bà Đỗ Thị K1 - Trợ giúp viên pháp lý của Trung tâm trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh H.
  6. Bị cáo: Nguyễn Quang T2, sinh ngày 16/02/2008; Giới tính: Nam; Nơi cư trú: thôn T, xã H, huyện Â, tỉnh Hưng Yên. Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Học sinh; Trình độ học vấn: Đang học lớp 10; Con ông: Nguyễn Văn T3, con bà: Nguyễn Thị N3; Vợ, con: chưa có. Tiền án, tiền sự: Không. Bị cáo được áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú. Hiện đang tại ngoại tại địa phương. Có mặt.
  7. - Người đại diện theo pháp luật cho bị cáo T2: Anh Nguyễn Văn N4, sinh năm 2004 (là anh ruột của bị cáo); Trú tại: thôn T, xã H, huyện Â, tỉnh Hưng Yên. Có mặt.
  8. - Trợ giúp viên pháp lý bào chữa cho bị cáo T2: Bà Đỗ Thị K1 - Trợ giúp viên pháp lý của Trung tâm trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh H.
  9. Người bị hại: Cháu Nguyễn Duy T4, sinh ngày 11/7/2008; Có mặt
  10. - Người đại diện theo pháp luật cho cháu T4: Chị Nghiêm Thị C, sinh năm 1982. Có mặt
  11. Đều trú tại: thôn G, xã H, huyện Â, tỉnh Hưng Yên.
  12. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Chị Nghiêm Thị C, sinh năm 1982; Trú tại: thôn G, xã H, huyện Â, tỉnh Hưng Yên.
  13. Những người làm chứng:
    • - Cháu Nguyễn Văn H1, sinh ngày 24/8/2008.
    • + Người đại diện theo pháp luật cho cháu H1: Chị Nguyễn Thị T5, sinh năm 1980;
    • - Chị: Nguyễn Thị T5, sinh năm 1980;
  14. Đều trú tại: thôn G, xã H, huyện Â, tỉnh Hưng Yên.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Phạm Như N, sinh ngày 16/7/2006: Trú tại thôn M, xã H, huyện Â, tỉnh Hưng Yên; Đinh Văn L, sinh ngày 14/10/2006: trú tại: thôn L, xã C, huyện Â, tỉnh Hưng Yên; Nguyễn Công K, sinh ngày 12/12/2007; Trú tại thôn L, xã H, huyện Â, tỉnh Hưng Yên và Nguyễn Quang T2, sinh ngày 16/02/2008; trú tại thôn T, xã H, huyện Â, tỉnh Hưng Yên có quan hệ quen biết nhau. N biết được cháu Nguyễn Duy T4, sinh ngày 11/7/2008; Trú tại: thôn Â, xã H, huyện Â, tỉnh Hưng Yên, hiện ở thôn G, xã H, huyện Â, tỉnh Hưng Yên, thường gửi chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave, màu trắng, đen, bạc; BKS: 89L1 - 401.99 tại nhà bạn là cháu Nguyễn Văn H1, sinh ngày 24/8/2008 (là con của chị Nguyễn Thị T5 sinh năm 1980) ở thôn G, xã H, huyện Â, tỉnh Hưng Yên. N đã rủ L và K trộm cắp chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave, màu trắng, đen bạc, BKS: 89L1-401.99 để bán lấy tiền chia nhau ăn tiêu, thì L và K đều đồng ý. Khoảng 20 giờ ngày 02/10/2024, L đã được N dẫn đến, chỉ vị trí nhà ở của chị T5 để L biết. Khoảng 21 giờ cùng ngày, trong khi L ngồi chơi tại nhà của mình cùng với K và T2 thì L và K nói chuyện về việc N rủ đi trộm cắp chiếc xe mô tô mà cháu T4 gửi tại nhà chị T5. Thấy vậy, T2 đã xin tham gia cùng thì được L, K đồng ý. Đến khoảng 01 giờ ngày 08/10/2024, T2 điều khiển chiếc xe mô tô (T2 không nhớ tên, nhãn hiệu, do T2 mượn của người mới quen biết trước đó) chở L và K đến khu vực đầu ngõ đi vào nhà chị T5. T2 đỗ xe, đứng cảnh giới còn K và L đi lại gần cổng nhà chị T5. Khỏe và L thấy cửa cổng nhà chị T5 vẫn mở, thấy chiếc xe mô tô biển số 89L1-401.99 được dựng ở trong sân, khu vực đầu hồi nhà, đầu xe quay vào phía trong, đuôi xe quay ra phía ngoài cổng. Quan sát thấy xung quanh không có người, K và L lén lút đi vào sân, lại gần thấy không có chìa khóa ở ổ khóa điện, xe không khóa cổ, không khóa càng. Khỏe dắt chiếc xe còn L đi phía sau xe dùng tay đẩy chiếc xe đi ra khỏi cổng nhà chị T5 đến chỗ T2 đang đứng. Khỏe ngồi lên lái chiếc xe mô tô vừa trộm cắp được còn T2 điều khiển xe mô tô kia chở L đồng thời dùng chân đẩy chiếc xe do K cầm lái từ phía sau để di chuyển ra khỏi khu vực nhà chị T5 thì dừng lại. T2 cùng L dùng tay nâng yên xe lên tạo khe hở để K đưa tay vào trong cốp xe kiểm tra thì thấy có chìa khóa điện của xe. Khỏe mở khóa điện, nổ máy và điều khiển chiếc xe mô tô vừa trộm cắp, còn T2 điều khiển xe mô tô chở L cùng đi cất giấu chiếc xe mô tô vừa trộm cắp được tại khu vực nghĩa trang thôn L, xã C, huyện  rồi tất cả đi về. Đến khoảng 11 giờ 45 phút ngày 08/10/2024, trong khi K và L gặp N ở khu vực cổng trường THPT L2, huyện Â, L và K nói cho N biết về việc đã cùng với T2 trộm cắp được chiếc xe mô tô mà cháu T4 gửi ở nhà chị T5 và đang cất giấu ở nghĩa trang thôn L, xã C. N nói với L và K cứ để ở đó rồi sẽ bán chiếc xe lấy tiền chia nhau.

Ngày 10/10/2024, chị Nghiêm Thị C, sinh năm 1982, ở thôn G, xã H, huyện  đã làm đơn trình báo sự việc đến Công an xã H và giao nộp 01 giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô, xe gắn máy số 89006486, mang tên Nguyễn Thị Lan A và 01 giấy mua bán xe. Ngày 17/10/2024, Công an xã H đã bàn giao toàn bộ hồ sơ vụ việc đến Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Â1 giải quyết theo thẩm quyền.

Đến ngày 25/11/2024, do lo sợ việc trộm cắp của mình đã bị phát hiện nên L đã giao nộp cho Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Â1 chiếc xe mô tô, BKS: 89L1-401.99 và khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội.

Kết luận định giá tài sản số 26 ngày 02/12/2024 của Hội đồng định giá tài sản UBND huyện Â2 kết luận: 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave, màu trắng, đen bạc, BKS: 89L1-401.99 (xe đã qua sử dụng) có giá trị: 10.000.000 đồng.

Quá trình điều tra, Phạm Như N, Đinh Văn L, Nguyễn Công K và Nguyễn Quang T2 thành khẩn khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình.

* Về vật chứng của vụ án: Quá trình điều tra xác định chiếc xe mô tô, nhãn hiệu Honda Wave, màu trắng, đen bạc, BKS: 89L1 - 401.99 là của chị Nghiêm Thị C (là mẹ đẻ cháu T4) mua tại cửa hàng mua bán xe mô tô cũ của anh Đào Xuân T6 sinh năm 1996, ở thôn Đ, xã D, huyện K, tỉnh Hưng Yên để đi lại, việc mua bán là hoàn toàn hợp pháp. Ngày 13/02/2025, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Â1 đã trả lại cho chị C chiếc xe BKS: 89L1-401.99, cùng giấy đăng ký của xe và không có yêu cầu đề nghị gì về trách nhiệm dân sự đối với các bị cáo.

Đối với chiếc xe mô tô T6 đã sử dụng chở L, K đi trộm cắp tài sản, T6 khai đã mượn tại khu vực quảng trường N, thuộc thành phố H ngày 07/10/2024 của một người mới quen, chỉ biết tên là N, không rõ tên đầy đủ và địa chỉ ở đâu. Đến ngày 08/10/2024, T6 đã mang trả lại chiếc xe này cũng tại khu vực quảng trường Nguyễn Văn L1. N không nhớ đặc điểm, biển số của chiếc xe này. Cơ quan điều tra đã xác minh nhưng không đủ căn cứ xác định được xe mô tô này.

Cáo trạng số: 15/CT-VKSKĐ ngày 04/3/2025 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Ân Thi đã truy tố bị cáo Phạm Như Nam cùng đồng phạm về tội “Trộm cắp tài sản" theo khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự.

* Tại phiên toà hôm nay:

- Các bị cáo thành khẩn khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình. Tài sản mà các bị cáo trộm cắp đã được thu hồi trả lại cho chủ sở hữu, bị hại đã nhận lại tài sản và không có đề nghị gì về trách nhiệm dân sự và hình sự đối với các bị cáo. Các bị cáo đều là thanh niên mới lớn, nhận thức pháp luật còn hạn chế, bản thân các bị cáo hiện đang là học sinh phổ thông. Hoàn cảnh gia đình của các bị cáo hiện nay rất khó khăn. Các bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử xem xét cho các bị cáo được hưởng mức án thấp nhất và được cải tạo tại địa phương để các bị cáo có điều kiện tiếp tục tham gia học tập và có cơ hội sửa chữa lỗi lầm của mình.

- Những người đại diện theo pháp luật cho bị cáo K và bị cáo T6: Ông Nguyễn Công N2 và anh Nguyễn Văn N4 đều xác định lời khai của các bị cáo tại phiên tòa hôm nay hoàn toàn chính xác và phù hợp với diễn biến vụ việc. Ông N2 và anh N4 đề nghị Hội đồng xét xử xem xét cho các bị cáo được hưởng mức án thấp nhất và được cải tạo tại địa phương để các bị cáo có điều kiện tiếp tục tham gia học tập và có cơ hội sửa chữa lỗi lầm của mình.

- Người bị hại là cháu Nguyễn Duy T4, người đại diện theo pháp luật cho cháu T4 đồng thời là người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là chị Nghiêm Thị C thống nhất trình bày: Lời khai của các bị cáo tại phiên tòa hôm nay hoàn toàn chính xác và phù hợp với diễn biến vụ việc đã xảy ra. Về trách nhiệm dân sự người bị hại đã được nhận lại tài sản bị trộm cắp, cháu T4 và chị C không có đề nghị gì về trách nhiệm dân sự đối với các bị cáo. Về trách nhiệm hình sự cháu T4 và chị C đề nghị HĐXX xem xét cho các bị cáo được hưởng mức án thấp nhất và được cải tạo tại địa phương để các bị cáo có điều kiện tiếp tục tham gia học tập và có cơ hội sử chữa lỗi lầm của mình.

*Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố luận tội và tranh luận:

Tại cơ quan điều tra cũng như tại phiên tòa hôm nay các bị cáo thành khẩn khai nhận về hành vi phạm tội của mình. Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm tới quyền sở hữu tài sản của người khác được pháp luật bảo vệ. Các bị cáo nhận thức được việc chiếm đoạt tài sản thuộc sở hữu hợp pháp của người khác là trái pháp luật nhưng các bị cáo vẫn thực hiện. Hành vi phạm tội của các bị cáo có đủ yếu tố cấu thành tội "Trộm cắp tài sản". Do đó Viện kiểm sát giữ nguyên quyết định truy tố đối với các bị cáo Phạm Như N, Đinh Văn L, Nguyễn Công K và Nguyễn Quang T2 về tội "Trộm cắp tài sản" và đề nghị Hội đồng xét xử:

  • * Căn cứ khoản 1 Điều 173, điểm i, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51, Điều 17 và Điều 58; khoản 1, 2 và 5 Điều 65 Bộ luật hình sự; Khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Điều 92 Luật thi hành án hình sự. Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án đối với các bị cáo Phạm Như N, Đinh Văn L, Nguyễn Công K và Nguyễn Quang T2. Áp dụng thêm điểm o khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự đối với bị cáo Phạm Như N; Áp dụng thêm khoản 6 Điều 91, Điều 90, 98 và khoản 1 Điều 101 Bộ luật hình sự, khoản 1 Điều 119 và khoản 2 Điều 179 Luật tư pháp người chưa thành niên ngày 30/11/2024 của Quốc hội đối với các bị cáo Đinh Văn L, Nguyễn Công K và Nguyễn Quang T2.
  • * Tuyên bố các bị cáo: Phạm Như N, Đinh Văn L, Nguyễn Công K và Nguyễn Quang T2 phạm tội "Trộm cắp tài sản".
  • * Xử phạt các bị cáo:
    • - Phạm Như N từ 01 năm 03 tháng đến 01 năm 06 tháng tù, nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách từ 02 năm 06 tháng đến 03 năm, thời hạn kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.
    • - Đinh Văn L từ 07 tháng đến 08 tháng tù, nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách từ 01 năm 02 tháng đến 01 năm 04 tháng, thời hạn kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.
    • - Nguyễn Công K từ 07 tháng đến 08 tháng tù, nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách từ 01 năm 02 tháng đến 01 năm 04 tháng, thời hạn kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.
    • - Nguyễn Quang T2 từ 06 tháng đến 07 tháng tù, nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách từ 01 năm đến 01 năm 02 tháng, thời hạn kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.
    • + Giao các bị cáo Phạm Như N và Nguyễn Công K cho UBND xã H, huyện Â, tỉnh Hưng Yên quản lý, giám sát và giáo dục trong thời gian thử thách. Trong trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại Điều 92 Luật thi hành án hình sự.
    • + Giao bị cáo Đinh Văn L cho UBND xã C, huyện Â, tỉnh Hưng Yên quản lý, giám sát và giáo dục trong thời gian thử thách. Trong trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại Điều 92 Luật thi hành án hình sự.
    • + Giao bị cáo Nguyễn Quang T2 cho UBND xã H, huyện Â, tỉnh Hưng Yên quản lý, giám sát và giáo dục trong thời gian thử thách. Trong trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại Điều 92 Luật thi hành án hình sự.

    Trong thời gian thử thách, nếu những người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật thi hành án hình sự 02 lần trở lên, thì Tòa án có thể quyết định buộc những người đó phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.

  • * Trách nhiệm dân sự: Không đặt ra giải quyết.
  • * Hình phạt bổ sung: Do bị cáo Phạm Như N không có tài sản riêng, đang là học sinh phổ thông, không có thu nhập nên đề nghị xét miễn hình phạt bổ sung là hình phạt tiền đối với bị cáo. Đối với các bị cáo Đinh Văn L, Nguyễn công K và Nguyễn Quang T2 khi phạm tội các bị cáo đang ở độ tuổi chưa thành niên nên không áp dụng hình phạt bổ sung là hình phạt tiền đối với các bị cáo.
  • * Về án phí: Các bị cáo phải chịu án phí sơ thẩm hình sự theo quy định của pháp luật.
  • * Trợ giúp viên pháp lý Đỗ Thị K1 bào chữa cho các bị cáo Nguyễn công K và Nguyễn Quang T2 phát biểu quan điểm: Bà nhất trí với nội dung bản luận tội của đại diện Viện kiểm sát. Bà đề nghị áp dụng điểm s, i khoản 1 và khoản 2 Điều 51; Điều 65; khoản 6 Điều 91 Bộ luật hình sự, khoản 2 Điều 179 và khoản 1 Điều 119 Luật tư pháp người chưa thành niên ngày 30/11/2024 của Quốc hội và đề nghị Hội đồng xét xử khi xem xét quyết định hình phạt cho các bị cáo được hưởng án treo.
  • * Đại diện Viện kiểm sát không có ý kiến đối đáp gì, vẫn giữ nguyên quan điểm như bản luận tội đối với bị cáo.

Lời nói sau cùng của các bị cáo: Các bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử xem xét cho các bị cáo được hưởng mức án thấp nhất và được cải tạo tại địa phương để các bị cáo có điều kiện tiếp tục tham gia học tập và có cơ hội sửa chữa lỗi lầm của mình.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Â1, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Â, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa trợ giúp viên pháp lý bào chữa cho bị cáo K và bị cáo T2 xuất trình các tài liệu, chứng cứ phù hợp với quy định của pháp luật; Trợ giúp viên pháp lý, các bị cáo, người đại diện theo pháp luật cho bị cáo K, bị cáo T2 và người bị hại cháu T4 không có người nào có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Lời nhận tội của các bị cáo tại phiên toà hôm nay hoàn toàn phù hợp với lời khai của các bị cáo tại Cơ quan điều tra, người bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, những người làm chứng và các tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án. Như vậy có đủ cơ sở kết luận: Khoảng 01 giờ ngày 08/10/2024, tại gia đình của chị Phạm Thị T7 ở thôn G, xã H, huyện Â, tỉnh Hưng Yên Phạm Như N, Đinh Văn L, Nguyễn Công K và Nguyễn Quang T2 đã có hành vi trộm cắp 01 chiếc xe mô tô, nhãn hiệu Honda Wave, màu trắng, đen bạc, BKS: 89L1 - 401.99 trị giá tài sản là 10.000.000 đồng của chị Nghiêm Thị C, được cháu T4 gửi tại nhà chị T7. Hành vi nêu trên của các bị cáo đã phạm tội "Trộm cắp tài sản" theo khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự. Cáo trạng của Viện kiểm sát đã truy tố các bị cáo theo tội danh và Điều luật viện dẫn trên là có căn cứ và đúng pháp luật.

[3] Xét về tính chất mức độ hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm tới quyền sở hữu tài sản của người khác, gây mất trật tự an ninh địa phương, gây tâm lý hoang mang lo sợ trong quần chúng nhân dân. Các bị cáo lợi dụng sơ hở mất cảnh giác của chủ sở hữu, thể hiện các bị cáo rất liều lĩnh, coi thường pháp luật, coi thường quyền sở hữu tài sản của người khác được pháp luật bảo vệ. Do vậy để cải tạo, giáo dục các bị cáo trở thành công dân tốt và có ích cho gia đình và xã hội cần phải tuyên phạt các bị cáo một hình phạt nhất định tương xứng với hành vi phạm tội mà các bị cáo đã gây ra.

Trong vụ án có đồng phạm tham gia. Các bị cáo tham gia thực hiện hành vi đồng phạm giản đơn, các bị cáo cùng rủ rê, lôi kéo nhau để đi trộm cắp tài sản. Các bị cáo đều đang là học sinh phổ thông do không có tiền tiêu sài cá nhân nên các bị cáo cùng rủ nhau đi trộm cắp chiếc xe máy của cháu T4 để bán lấy tiền chia nhau, hành vi phạm tội của các bị cáo có tính bột phát, không có động cơ, mục đích và không có sự phân công nhiệm vụ cụ thể. Do vậy khi xem xét hình phạt đối với các bị cáo, hội đồng xét xử cũng cân nhắc đến đặc điểm nhân thân, vị trí, vai trò, mức độ nghiêm trọng của từng bị cáo trong vụ án để ra một bản án có tính răn đe, giáo dục đối với từng bị cáo và có tính phòng ngừa chung.

[4] Khi quyết định hình phạt, Hội đồng xét xử cũng xem xét đến nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo:

  • + Về nhân thân: Các bị cáo chưa có tiền án, tiền sự.
  • + Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo N phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự là xúi giục người dưới 18 tuổi phạm tội quy định tại điểm o khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự. Các bị cáo L, K và T2 không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
  • + Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Tại cơ quan điều tra cũng như tại phiên toà hôm nay các bị cáo thành khẩn khai nhận về hành vi phạm tội mà mình đã gây ra. Các bị cáo phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng. Đây là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự mà các bị cáo được hưởng quy định tại điểm i, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự. Tại phiên toà người bị hại là cháu T4 và người đại diện theo pháp luật cháu T4 là chị C đề nghị HĐXX xem xét cho các bị cáo được hưởng mức án thấp nhất và được cải tạo tại địa phương để các bị cáo có cơ hội được tiếp tục học tập. Bị cáo N có bố đẻ là ông Phạm Như Â đã có thành tích trong cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước và được Nhà nước tặng thưởng Huy chương kháng chiến hạng nhì. Bị cáo K có ông nội là Nguyễn Công S đã có thành tích trong cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước và được Nhà nước tặng thưởng Huy chương kháng chiến hạng nhất. Bị cáo T2 có ông nội là Nguyễn Văn N5 đã có thành tích trong cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước và được Nhà nước tặng thưởng Huy chương kháng chiến hạng nhì. Hoàn cảnh gia đình của các bị cáo hiện nay rất khó khăn, các bị cáo có đơn đề nghị các cơ quan pháp luật xem xét hoàn cảnh gia đình của các bị cáo hiện nay cho các bị cáo được hưởng mức án thấp nhất và được cải tạo tại địa phương có xác nhận và đề nghị của chính quyền địa phương. Đây là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự khác mà các bị cáo được hưởng thêm qui định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự.

Căn cứ vào nhân thân, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự mà các bị cáo được hưởng, mức độ nghiêm trọng do hành vi phạm tội mà các bị cáo đã gây ra. Hội đồng xét xử nhận thấy để giáo dục các bị cáo trở thành công dân tốt, có ích cho gia đình và xã hội cần tuyên phạt các bị cáo một hình phạt nhất định tương xứng với hành vi phạm tội mà các bị cáo đã gây ra. Các bị cáo đều có nhân thân tốt, chưa có tiền án, tiền sự gì. Hoàn cảnh kinh tế gia đình hiện nay của các bị cáo rất khó khăn, khi thực hiện hành vi phạm tội các bị cáo đều là thanh niên mới lớn, suy nghĩ còn nông nổi, nhận thức pháp luật còn hạn chế, bản thân các bị cáo vẫn đang là học sinh phổ thông, các bị cáo L, K và T2 khi thực hiện hành vi phạm tội đang ở độ tuổi chưa thành niên, các bị cáo đều có nơi cư trú rõ ràng, quá trình sinh sống tại địa phương bản thân các bị cáo và gia đình chấp hành tốt các chủ trương, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước cũng như các quy định do địa phương đề ra. Nên không cần thiết phải cách ly các bị cáo ra khỏi đời sống xã hội mà cho các bị cáo được cải tạo, giáo dục tại địa phương để các bị cáo có điều kiện tiếp tục được học tập và cũng đủ răn đe giáo dục các bị cáo trở thành công dân tốt có ích cho gia đình và xã hội.

[5] Trách nhiệm dân sự: Người bị hại đã nhận lại tài sản và tự nguyện không có yêu cầu gì về trách nhiệm dân sự đối với các bị cáo nên không đặt ra giải quyết.

[6] Hình phạt bổ sung: Do bị cáo Phạm Như N không có tài sản riêng, đang là học sinh phổ thông, không có thu nhập nên xét miễn hình phạt bổ sung là hình phạt tiền đối với bị cáo là phù hợp. Đối với các bị cáo Đinh Văn L, Nguyễn Công K và Nguyễn Quang T2 khi phạm tội các bị cáo đang ở độ tuổi chưa thành niên nên không áp dụng hình phạt bổ sung là hình phạt tiền đối với các bị cáo.

[7] Án phí: Các bị cáo phải chịu án phí sơ thẩm hình sự theo Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Vì các lẽ trên:

QUYẾT ĐỊNH:

  • * Căn cứ khoản 1 Điều 173, điểm i, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51, Điều 17 và Điều 58, khoản 1 và khoản 2 Điều 65; Bộ luật hình sự; Khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự, Điều 92 Luật thi hành án hình sự. Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án đối với các bị cáo Phạm Như N, Đinh Văn L, Nguyễn Công K và Nguyễn Quang T2. Áp dụng thêm điểm o khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự đối với bị cáo Phạm Như N; Áp dụng thêm khoản 6 Điều 91, khoản 1 Điều 101 Bộ luật hình sự, khoản 1 Điều 119 và khoản 2 Điều 179 Luật tư pháp người chưa thành niên ngày 30/11/2024 của Quốc hội đối với các bị cáo Đinh Văn L, Nguyễn Công K và Nguyễn Quang T2.
  • * Tuyên bố các bị cáo: Phạm Như N, Đinh Văn L, Nguyễn Công K và Nguyễn Quang T2 phạm tội "Trộm cắp tài sản".
  • * Xử phạt các bị cáo:
    • - Phạm Như N 01 năm 03 tháng tù, nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 02 năm 06 tháng, thời hạn kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.
    • - Đinh Văn L 08 tháng tù, nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 01 năm 04 tháng thời hạn kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.
    • - Nguyễn Công K 08 tháng tù, nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 01 năm 04 tháng, thời hạn kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.
    • - Nguyễn Quang T2 06 tháng tù, nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 01 năm, thời hạn kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.
    • + Giao các bị cáo Phạm Như N và Nguyễn Công K cho UBND xã H, huyện Â, tỉnh Hưng Yên quản lý, giám sát và giáo dục trong thời gian thử thách. Trong trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại Điều 92 Luật thi hành án hình sự.
    • + Giao bị cáo Đinh Văn L cho UBND xã C, huyện Â, tỉnh Hưng Yên quản lý, giám sát và giáo dục trong thời gian thử thách. Trong trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại Điều 92 Luật thi hành án hình sự.
    • + Giao bị cáo Nguyễn Quang T2 cho UBND xã H, huyện Â, tỉnh Hưng Yên quản lý, giám sát và giáo dục trong thời gian thử thách. Trong trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại Điều 92 Luật thi hành án hình sự.

    Trong thời gian thử thách, nếu những người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật thi hành án hình sự 02 lần trở lên, thì Tòa án có thể quyết định buộc những người đó phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.

  • * Trách nhiệm dân sự: Không đặt ra giải quyết.
  • - Về án phí: Các bị cáo mỗi bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí sơ thẩm hình sự. (bố đẻ bị cáo K là ông Nguyễn Công N2 và anh trai ruột bị cáo T2 là anh Nguyễn Văn N4 có trách nhiệm nộp thay cho các bị cáo)
  • - Quyền kháng cáo: Các bị cáo, người bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan và những người đại diện theo pháp luật cho bị cáo K, bị cáo T2, người bị hại cháu T4 có mặt tại phiên toà có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.

Nơi nhận

  • - Phòng KTNV và THA -Tòa án tỉnh;
  • - VKSND tỉnh;
  • - CA tỉnh;
  • - VKSND huyện;
  • - Chi cục THADS huyện;
  • - Người tham gia tố tụng;
  • - Lưu hồ sơ vụ án.

T/M. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN-CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Tiến Lũng

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 14/2025/HSST ngày 26/03/2025 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ÂN THI - TỈNH HƯNG YÊN về trộm cắp tài sản

  • Số bản án: 14/2025/HSST
  • Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 26/03/2025
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ÂN THI - TỈNH HƯNG YÊN
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: tcts
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger