|
TÒA ÁN ND HUYỆN NGA SƠN TỈNH THANH HÓA |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 14/2025/HSST Ngày: 21-3-2025 |
---------------- |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NGA SƠN, TỈNH THANH HÓA
----------------
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Trịnh Thị Thủy.
Các Hội thẩm nhân dân: Bà Vũ Thị Hà; ông Phạm Bá Luyến.
Thư ký phiên tòa: Ông Hoàng Văn Trung – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Nga Sơn, tỉnh Thanh Hóa.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Nga Sơn, tỉnh Thanh Hóa tham gia phiên tòa:
- 1/ Ông Mai Văn Chinh - Kiểm sát viên Trung cấp;
- 2/ Bà Mai Thị D - Kiểm sát viên Sơ cấp.
Ngày 21/3/2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Nga Sơn, mở phiên tòa để xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 12/2025/TLST-HS ngày 20/02/2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 11/2025/QĐXXST-HS ngày 07/3/2025 đối với các bị cáo:
1. Trần Văn G - Sinh năm 1980, tại xã N, huyện N, tỉnh Thanh Hóa; CCCD số: [...]; KHTT: Thôn A, xã N, huyện N, tỉnh Thanh Hóa; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: 02/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Thiên chúa giáo; quốc tịch: Việt Nam; con ông Trần Văn Đ (đã chết) và bà Nguyễn Thị C; có vợ là Nguyễn Thị H và có 01 con; tiền sự: Không; tiền án:
- - Năm 2007, bị Tòa án nhân dân quận Thanh Xuân, TP Hà Nội xử phạt 07 năm 6 tháng tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”, chấp hành xong hình phạt tù ngày 05/9/2012 nhưng chưa chấp hành xong Bản án.
- - Năm 2014, bị Tòa án nhân dân huyện Nga Sơn xử phạt 30 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, chấp hành xong hình phạt tù từ ngày 10/12/2016 và đã chấp hành xong Bản án (nộp án phí ngày 18/6/2015).
- - Năm 2018, bị Tòa án nhân dân thành phố Thanh Hóa xử phạt 07 năm tù về tội Mua bán trái phép chất ma túy, chấp hành xong ngày 19/7/2024 trở về địa phương nhưng chưa chấp hành xong Bản án.
Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 23/10/2024 đến ngày 01/11/2024, sau đó chuyển tạm giam cho đến nay, hiện đang bị tạm giam tại Phân trại tạm giam N, Công an tỉnh T - Có mặt.
2. Phạm Văn C1 - Sinh năm 2001, tại xã N, huyện N, tỉnh Thanh Hóa; CCCD số: [...]; KHTT: Thôn A, xã N, huyện N, tỉnh Thanh Hóa; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: 6/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Thiên chúa giáo; quốc tịch: Việt Nam; con ông Phạm Văn C2 và bà Nguyễn Thị Y; chưa có vợ con; tiền án, tiền sự: Không; Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 23/10/2024 đến ngày 01/11/2024, sau đó chuyển tạm giam cho đến nay, hiện đang bị tạm giam tại Phân trại tạm giam N, Công an tỉnh T - Có mặt.
- - Người bào chữa cho bị cáo Trần Văn G: Bà Nguyễn Thị Nữ H1 - Trợ giúp viên pháp lý thuộc Trung tâm trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh T - Địa chỉ: Số C, đại lộ L, phường Đ, TP., tỉnh Thanh Hóa - Có mặt.
- - Người tham gia tố tụng khác: Người làm chứng:
- 1/ Anh Mai Văn K - Sinh năm 1993 - Địa chỉ: Thôn D, xã N (xã N cũ), huyện N, tỉnh Thanh Hóa - Vắng mặt.
- 2/ Anh Trương Ngọc S - Sinh năm 1996 - Địa chỉ: Tiểu khu B, thị trấn N, huyện N, tỉnh Thanh Hóa - Vắng mặt.
- 3/ Chị Trần Thị T - Sinh năm 1973 - Địa chỉ: Phố Đ, phường B, thành phố N, tỉnh Ninh Bình - Vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 21 giờ ngày 21/10/2024, tại Quốc lộ A (thuộc địa phận tiểu khu C thị trấn N) tổ tuần tra Công an huyện N phát hiện Mai Văn K (sinh năm 1993, trú tại thôn D, xã N - nay là xã N) và Trương Ngọc S (sinh năm 1996, trú tại tiểu khu B, thị trấn N) điều khiển phương tiện xe mô tô có biểu hiện nghi vấn nên tiến hành kiểm tra. Mai Văn K tự nguyện lấy trong túi quần ra một đoạn ống nhựa (loại ống hút bịt kín hai đầu) và trình bày đây là số ma túy đá mà bản thân vừa mua của Phạm Văn C1 (sinh năm 2001, trú tại thôn A, xã N) với số tiền 500.000 đồng, mục đích để sử dụng cho nhu cầu bản thân, nhưng chưa kịp sử dụng thì bị tổ công tác phát hiện, thu giữ.
Căn cứ lời khai của K, cơ quan điều tra đã triệu tập Phạm Văn C1 đến làm việc. Cảnh thừa nhận đã lấy số ma túy nêu trên của Trần Văn G (ở thôn B, xã N) sau đó bán lại cho K với số tiền 500.000đ. Nhận thức được hành vi sai phạm của bản thân, Phạm Văn C1 xin đầu thú.
Trên cơ sở lời khai của Phạm Văn C1, Cơ quan CSĐT Công an huyện N đã triệu tập làm việc với Trần Văn G. G đã thừa nhận việc đưa ma túy cho Phạm Văn C1 bán ngày 21/10/2024. Nhận thức được hành vi sai phạm của bản thân, Trần Văn G xin đầu thú với cơ quan Công an, giao nộp số ma túy đã mua tối ngày 21/10/2024.
* Tang vật, tài sản thu giữ gồm:
Thu giữ của Mai Văn K: 01(một) đoạn ống nhựa màu trắng, dài 2,5cm, rộng 1cm, 02 đầu dán kín, bên trong chứa chất tinh thể màu trắng, được niêm phong trong phong bì viền xanh đỏ; 01(một) điện thoại Itel 4G, màu đen, model: it8010 có số IMEI 355231570828220, số IME2 355231570828238, bên trong có gắn 01 sim số 0904.756.819, điện thoại đã qua sử dụng.
Thu giữ của Phạm Văn C1: 01(một) điện thoại di động nhãn hiệu APPLE, loại Iphone XS, màu đen, số IME 357239095488436, số IME2 357239095406461, bên trong điện thoại gắn 01 sim số 0329.396.730, điện thoại đã qua sử dụng.
- Thu giữ của Trần Văn G: 01 (một) túi nilon bên trong có một cuộn giấy loại giấy ăn màu trắng. Mở cuộn giấy ăn bên trong có 01 gói nilon dạng túi zip có kích thước 10cm x 06cm bên trong có chứa 50 (năm mươi) viên nén màu tím và một gói nilon dạng túi zip có kích thước 10cm x 06cm, bên trong có chứa các hạt tinh thể màu trắng có kích thước khác nhau, được niêm phong trong phong bì ký hiệu M2; 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu REDMI 10c, màu đen, có số IMEI: 861575067356922, IME2: 86157067356930, gắn sim số 0986.769.533, diện thoại đã qua sử dụng; 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu MXMID, màu vàng, gắn sim số 0842837372, có số IME1: 877257090020534, IME2: 877257090020542, điện thoại đã qua sử dụng.
Ngày 22/10/2024, Cơ quan CSĐT Công an huyện N khám xét khẩn cấp nơi ở của Phạm Văn C1 ở thôn A, xã N, huyện N, kết quả khám xét không thu giữ được đồ vật gì liên quan đến ma túy.
Cùng ngày 22/10/2024, Cơ quan CSĐT Công an huyện N thực hiện việc khám xét khẩn cấp nơi ở của Trần Văn G ở thôn B, xã N, huyện N thu giữ và niêm phong một số tang vật liên quan đến ma túy gồm:
- - 01(một) túi nilon màu đỏ, được quấn bởi sợi dây chun màu vàng, bên trong có một mảnh nilon trong suốt, bên trong mảnh nilon trong suốt có một túi nilon trong suốt (dạng túi zip) kích thước (11x7)cm. Bên trong túi zip có 04 đoạn ống nhựa (dạng ống hút) màu sắc khác nhau các đầu ống nhựa được bịt kín, bên trọng đều chứa các chất tinh thể màu trắng, gói giấy màu trắng có chứa chất màu trắng dạng cục vụn, được niêm phong trong phong bì ký hiệu K1.
- - 01(một) bọc nilon bên trong có một túi nilon trong suốt, có một túi rút, trong túi rút có một cóng thủy tinh đầu cóng hình bầu dục, đường kính 2cm, bám dính chất màu nâu, được niêm phong trong phong bì ký hiệu K2.
- - 03 (ba) bật lửa; 01(một) đoạn ống hút màu xanh kích thước (10x0,5)cm có một đầu nhọn; 01(một) bình thủy tinh hình trụ tròn trên đầu có 02 lỗ dài (13x4)cm; 01(một) sợi (đoạn) dây nhựa màu trắng, một đầu màu xanh kích thước (45x0,5)cm.
Ngày 23/10/2024, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện N ban hành quyết định trưng cầu giám định chất ma tuý đối với các mẫu vật giám định trong các phong bì ký hiệu K1, K2, M2.
Tại bản kết luận giám định số 4077/KL-KTHS ngày 29/10/2024 của Phòng K1 Công an tỉnh T kết luận:
- - Các chất màu trắng dạng tinh thể trong một đoạn ống nhựa màu trắng dài 2,5 cm, rộng 1cm hai đầu dán kín thu giữ của Mai Văn K, được niêm phong trong phong bì màu trắng có viền xanh đỏ là ma túy có tổng khối lượng 0,046g, loại: Methamphetamine.
- - Các chất màu trắng dạng tinh thể trong 04 đoạn ống nhựa, màu sắc khác nhau để trong một túi zip kích thước (11x7) cm thu giữ tại nhà của Trần Văn G niêm phong trong phong bì có ký hiệu là K1 gửi đi giám định là ma túy có tổng khối lượng 0,535g, loại: Methaphetamine.
- - Các chất màu trắng dạng cục vụn trong một gói giấy màu trắng để trong một gói nilon màu đỏ thu giữ tại nhà Trần Văn G niêm phong trong phong bì có ký hiệu là K1 gửi đi giám định là ma túy có tổng khối lượng 0,064g, loại: Heroine.
- - Chất màu nâu bám dính trên 01 cóng thủy tinh, đầu cóng hình bầu dục, đường kính 02 cm thu giữ tại nhà Trần Văn G niêm phong trong phong bì có ký hiệu K2 gửi đi giám định là ma túy loại, M. Không xác định được khối lượng chất ma túy bám dính.
- - 50 mươi viên nén màu tím trong một gói nilon dạng túi zip kích thước (10x06)cm do G giao nộp niêm phong trong phong bì có ký hiệu M2 gửi đi giám định là ma túy có tổng khối lượng 18,226g, loại: MDMA.
- - Các hạt màu trắng dạng tinh thể có kích thước khác nhau trong một gói nilon dạng túi zip có kích thước (10x06)cm do G giao nộp được niêm phong trong phong bì có ký hiệu M2 gửi đi giám định là ma túy có tổng khối lượng 24,840g, loại: Ketamine.
Quá trình điều tra đã xác định, Trần Văn G và Phạm Văn C1 có mối quan hệ thông gia và là người cùng xã nên C1 thường đến nhà G chơi uống nước, G nói có ma tuý để bán nếu có khách mua thì báo cho G để bán cho khách. Do C1 là người sử dụng ma tuý nhưng không có tiền nên nếu có ai hỏi C1 mua ma tuý, C1 sẽ gọi cho G để lấy ma tuý bán cho người mua. Cảnh được hưởng lợi một phần từ số ma túy bán cho khách để bản thân sử dụng. Khoảng 18h50p ngày 21/10/2024, do có nhu cầu sử dụng ma túy nên Mai Văn K đã sử dụng số điện thoại 0904.756.xxx gọi vào số điện thoại di động của Phạm Văn C1 là số 0329.396.730 với nội dung hỏi có ma túy đá không bán cho mình 500.000đ. Sau đó C1 đã sử dụng Z gọi cho G và báo nội dung có người hỏi mua 500.000₫ ma túy đá, G trả lời chờ một lát. Khoảng 10 phút sau, không thấy G gọi lại nên C1 đã gọi cho G thì G thông báo còn ma túy. Nhưng do C1 không có xe nên đã nói G đến nhà đón mình, nghe xong G đồng ý. G điều khiển xe mô tô đến đón C1, trên đường đi Giáp đưa cho C1 một bao thuốc lá Thăng Long bên trong có gói ma túy đá, rồi vòng quay lại nhà mình. Sau khi nhận được bao thuốc lá từ G, C1 liên lạc với Mai Văn K và yêu cầu K chuyển tiền mua ma túy trước cho mình vào số tài khoản 1030018412 thuộc Ngân hàng V mang tên Phạm Văn C1. Sau khi nhận được số tiền 500.000đ trong tài khoản của mình, C1 điều khiển xe mô tô của G đi từ hướng Ủy ban nhân dân xã N đến gầm cầu Đ, đặt bao thuốc lá Thăng Long chứa ma túy xuống bệ bê tông bên trái gầm cầu. Trên đường về nhà, C1 liên lạc với K để báo vị trí mình vừa để ma túy là ở dưới gầm cầu rồi nói K tự tìm, C1 điều khiển xe mô tô đi về nhà G. Tại đây, C1 sử dụng tài khoản Ngân hàng V của mình chuyển số tiền 900.000đ đến tài khoản Ngân hàng M2 số tài khoản 0986.769.533 của Trần Văn G (trong đó có 500.000đ tiền vừa bán ma túy và 400.000đ tiền Cảnh vay của G trước đó).
Tài liệu điều tra thể hiện: ngoài lần bán ma túy cho Mai Văn K vào tối ngày 21/10/2024, thì trước đó vào khoảng 20h 30 phút ngày 10/10/2024 Phạm Văn C1 còn lấy 01 gói ma tuý của G bán cho Mai Văn K với giá 500.000đ tại nhà thờ T2 thuộc thôn G, xã N, huyện N.
Về nguồn gốc ma tuý G đưa cho C1 bán vào các ngày 10/10 và 21/10/2024, cũng như số ma tuý G mang theo người sau đó giao nộp cho Cơ quan CSĐT và số ma tuý Cơ quan điều tra khám xét nơi ở thu giữ được là G mua của một người nam giới không biết tên tuổi, cụ thể ở đâu ngay sau Siêu thị B (Trung tâm thương mại G1 mới), thành phố H, tỉnh Ninh Bình. Đặc điểm của người đàn ông này khoảng 40 tuổi, dạng người trung bình, cao khoảng 1m67, mặc áo phông màu nâu, quần sóc màu nâu, đội mũ phớt, đeo khẩu trang. Căn cứ lời khai của G, Cơ quan CSĐT tiến hành xác minh tại phường N, thành phố H, tỉnh Ninh Bình, nhưng không xác định được người có đặc điểm như G đã trình bày. Cơ quan CSĐT Công an huyện N cũng phối hợp với Công an phường N tiến hành rà soát camera tại trục đường phía sau Trung tâm thương mại G1, tuy nhiên khu vực trên không có hệ thống Camera. Mặt khác, việc mua bán ma tuý giữa G và người đàn ông không có ai thấy, ai biết, việc thanh toán tiền mua ma tuý là G trả tiền mặt (tiền VNĐ). Do đó, cơ quan CSĐT đang tiếp tục truy tìm người bán ma tuý cho G để xử lý theo quy định.
Đối với Mai Văn K mua ma tuý nhằm mục đích sử dụng cho nhu cầu bản thân. Do gói ma tuý K mua của C1 có khối lượng 0,046g (không phẩy không bốn sáu gam) loại: Methaphetamine, dưới định lượng Olgam theo quy định tại điểm g, khoản 1 Điều 249 BLHS. Trong khi về nhân thân K chưa có tiền án, tiền sự liên quan đến ma tuý nên hành vi của K không cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý” theo quy định tại Điều 249 BLHS. Cơ quan CSĐT đã chuyển hồ sơ cho Công an huyện N ra quyết định xử lý vi phạm hành chính là có căn cứ.
Đối với Trương Ngọc S, cả hai lần vào các ngày 10/10 và 21/10/2024 S đều đi cùng K nhưng S không góp tiền mua ma túy, không hứa hẹn sử dụng ma túy cùng K nên Cơ quan CSĐT không xử lý đối với Trương Ngọc S là đúng quy định.
* Thu giữ và xử lý vật chứng
- 01 (một) điện thoại Itel 4G, màu đen, model: it8010 có số IME1 355231570828220, số IME2 355231570828238, bên trong có gắn 01 sim Mobiphone số 0904.756.xxx, điện thoại đã qua sử dụng của Mai Văn K dùng để liên lạc với Phạm Văn C1 để mua ma tuý. Hành vi của K là vi phạm hành chính, nên chiếc điện thoại này không phải phương tiện phạm tội, do đó Cơ quan CSĐT trả lại cho Mai Văn K là đúng theo quy định của pháp luật.
- Toàn bộ số vật chứng, đồ vật, tài sản sau đây được chuyển sang Chi cục THADS huyện N để bảo quản, chờ xử lý theo quy định của pháp luật, bao gồm:
- + Toàn bộ vỏ bao gói mở niêm phong của 04 phong bì và các mẫu vật còn lại sau giám định gồm: 0,033g ma túy, loại: Methamphetamine, 0,052g ma túy, loại: heroine, 0,479g ma túy, loại: Methamphetamine của phong bì ký hiệu K1; 22,599g ma túy, loại: Ketamine và 45 (bốn lăm) viên nén màu hồng có tổng khối lượng là 16,370g ma túy, loại MDMA của phong bì ký hiệu M2; 01 cóng thuỷ tinh đầu cóng bẩu dục của phong bì ký hiệu K2. Tất cả được đựng trong một phong bì niêm phong mẫu vật do phòng K1 công an tỉnh T phát hành, được dán kín, niêm phong bởi các chữ ký ghi họ tên Nguyễn Trần Đ1, Trần Thị Thúy H2, Nguyễn Đức C3 và các hình dấu của phòng K1 công an tỉnh T;
- + 03 bật lửa;
- + 01 đoạn dây màu trắng, một đầu xanh, kích thước (45x0,5)cm;
- + 01 bình thuỷ tinh hình trụ tròn trên đầu có 02 lỗ dài (13x4)cm;
- + 01 điện thoại di động nhãn hiệu Redmi 10c, màu đen, có số IMEI: 861575067356922, IME2: 86157067356930, gắn sim số 0986.769.533, điện thoại đã qua sử dụng, được niêm phong trong phong bì thư của Công an huyện N, mép phong bì được dán kín, mép phía sau phong bì có chữ ký, họ tên của những người tham gia niêm phong và các hình dấu tròn màu đỏ, trên hình có dòng chữ Cơ quan CSĐT Công an huyện N, tỉnh Thanh Hoá. Mặt trước phong thư được đánh số I;
- + 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu MXMID, màu vàng, gắn sim số 0842837572, có số IME1: 877257090020534, IME2: 877257090020542, đã qua sử dụng, được niêm phong trong phong bì thư của Công an huyện N, mép phong bì được dán kín, mép phía sau phong bì có chữ ký, họ tên của những người tham gia niêm phong và các hình dấu tròn màu đỏ, trên hình có dòng chữ Cơ quan CSĐT Công an huyện N, tỉnh Thanh Hoá. Mặt trước phong thư được đánh số II.
- + 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Apple, loại Iphone XS, màu đen, số IME 357239095488436, số IME2 357239095406461, bên trong điện thoại gắn 01 sim số 0329.396.730, điện thoại đã qua sử dụng, được niêm phong trong phong bì thư của Công an huyện N, mép phong bì được dán kín, mép phía sau phong bì có chữ ký, họ tên của những người tham gia niêm phong và các hình dấu của Cơ quan CSĐT Công an huyện N. Mặt trước phong bì ký hiệu “Điện thoại của Phạm Văn C1";
Đối với số tiền 1.000.000₫ Trần Văn G, Phạm Văn C1 bán ma tuý, G đã tiêu xài cá nhân hết, nên Cơ quan CSĐT công an huyện N không thu giữ được.
Đối với chiếc xe mô tô nhãn hiệu YAMAHA Exciter màu đen bạc, BKS 36G1-469.61, Phạm Văn C1 dùng làm phương tiện đi bán ma tuý cho K vào tối ngày 10/10/2024. Quá trình điều tra đã xác định xe mô tô trên là của chị Nguyễn Thị H3 (chị dâu của C1), việc C1 mượn chiếc xe trên sau đó sử dụng làm phương tiện đi bán ma tuý chị Nguyễn Thị H3 không biết nên Cơ quan CSĐT không thu giữ chiếc xe trên là đúng quy định.
Đối với chiếc xe mô tô nhãn hiệu HONDA Airblade, màu đen, BKS 36R3-5237, G đưa cho C1 dùng làm phương tiện đi bán ma tuý vào ngày 21/10/2024, là xe của anh Trần Văn Đ2 (anh trai ruột của G). Giáp mượn xe của anh Đ2 sau đó sử dụng làm phương tiện đi bán ma tuý anh Đ2 không biết nên Cơ quan CSĐT không thu giữ là đúng quy định.
Từ những hành vi trên, Cáo trạng số 12/CT-VKSNS ngày 18/02/2025 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Nga Sơn, tỉnh Thanh Hóa đã truy tố Trần Văn G phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo điểm b, p, q khoản 2 Điều 251 Bộ luật hình sự; Phạm Văn C1 phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo điểm b khoản 2 Điều 251 Bộ luật hình sự.
Tại phiên toà, đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên quyết định truy tố, đồng thời đề nghị HĐXX áp dụng:
- - Điểm b, p, q khoản 2 Điều 251; điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; Điều 17; Điều 58; Điều 38 của Bộ luật hình sự; xử phạt bị cáo Trần Văn G từ 08 năm đến 08 năm 06 tháng tù; thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ, tạm giam 23/10/2024. Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
- - Điểm b khoản 2 Điều 251; điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; Điều 17; Điều 58; Điều 38 của Bộ luật hình sự; xử phạt bị cáo Phạm Văn C1 từ 10 năm đến 11 năm tù; thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ, tạm giam 23/10/2024. Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
Xử lý vật chứng: Căn cứ điểm a, b, c khoản 1 Điều 47 BLHS; điểm a, b, c khoản 2 Điều 106 BLTTHS:
- - Tịch thu tiêu hủy: Toàn bộ vỏ bao gói mở niêm phong của 04 phong bì và các mẫu vật còn lại sau giám định gồm: 0,033g ma túy, loại: Methamphetamine, 0,052g ma túy, loại: heroine, 0,479g ma túy, loại: Methamphetamine của phong bì ký hiệu K1; 22,599g ma túy, loại: Ketamine và 45 (bốn lăm) viên nén màu hồng có tổng khối lượng là 16,370g ma túy, loại MDMA của phong bì ký hiệu M2; 01 cóng thuỷ tinh đầu cóng bẩu dục của phong bì ký hiệu K2. Tất cả được đựng trong một phong bì niêm phong mẫu vật do phòng K1 công an tỉnh T phát hành, được dán kín, niêm phong bởi các chữ ký ghi họ tên Nguyễn Trần Đ1, Trần Thị Thúy H2, Nguyễn Đức C3 và các hình dấu của phòng K1 công an tỉnh T; 03 bật lửa; 01 đoạn dây màu trắng, một đầu xanh, kích thước (45x0,5)cm; 01 bình thuỷ tinh hình trụ tròn trên đầu có 02 lỗ dài (13x4)cm;
- - Tịch thu nộp Ngân sách Nhà nước: 01 điện thoại di động nhãn hiệu Redmi 10c, màu đen, có số IMEI: 861575067356922, IME2: 86157067356930, gắn sim số 0986.769.533 của bị cáo G; 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Apple, loại Iphone XS, màu đen, số IME 357239095488436, số IME2 357239095406461, bên trong điện thoại gắn 01 sim số 0329.396.730, điện thoại đã qua sử dụng của bị cáo C1;
- - Trả lại cho bị cáo G: 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu MXMID, màu vàng, gắn sim số 0842837572, có số IME1: 877257090020534, IME2: 877257090020542, đã qua sử dụng, điện thoại đã qua sử dụng;
- - Truy thu nộp Ngân sách Nhà nước số tiền 1.000.000đ (một triệu đồng) của bị cáo Trần Văn G do bán ma túy cho anh Mai Văn K 02 lần mà có.
Các bị cáo không có ý kiến tranh luận gì đề nghị HĐXX giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
Trợ giúp viên pháp lý bà Nguyễn Thị Nữ H1 - Người bào chữa cho bị cáo Trần Văn G, đồng ý với bản luận tội của đại diện viện kiểm sát đã đề nghị về hành vi phạm tội, các tình tiết giảm nhẹ TNHS đối với bị cáo G nhưng đề nghị HĐXX xem xét xử phạt bị cáo với mức án thấp nhất theo đề nghị của đại diện Viện kiểm sát, không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo và đề nghị miễn án phí HSST cho bị cáo vì gia đình bị cáo thuộc hộ cận nghèo.
Căn cứ vào các chứng cứ và tài liệu đã được thẩm tra tại phiên tòa; căn cứ vào kết quả tranh luận, trên cơ sở xem xét đầy đủ toàn diện chứng cứ, ý kiến của KSV, của bị cáo và những người tham gia tố tụng.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về thủ tục tố tụng: Các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thu thập đúng trình tự quy định của pháp luật tố tụng hình sự. Cơ quan Cảnh sát điều tra, Viện Kiểm sát nhân dân huyện Nga Sơn, Điều tra viên cũng như Kiểm sát viên đã thực hiện đúng chức năng, nhiệm vụ mà pháp luật quy định. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại gì. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của các cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng trong giai đoạn điều tra, truy tố là hợp pháp được chấp nhận để làm cơ sở giải quyết vụ án.
[2] Về tội danh:
Khoảng 20h 30 phút ngày 10/10/2024, Trần Văn G đưa một gói ma túy, loại Methamphetamine cho Phạm Văn C1 đem đến T2 thuộc thôn G, xã N, huyện N bán cho Mai Văn K với giá 500.000đ.
Khoảng 19h ngày 21/10/2024, Trần Văn G đưa một gói ma túy, loại Methamphetamine có khối lượng 0,046g cho Phạm Văn C1 đem đến cầu Đ, xã N, huyện N bán cho Mai Văn K với giá 500.000đ.
Ngoài ra, Trần Văn G khi đến làm việc với Cơ quan Cảnh sát điều tra còn tự nguyện giao nộp và bị Cơ quan CSĐT khám xét thu giữ tổng khối lượng gồm: 18,22g ma tuý, loại MDMA; 24,840g ma tuý, loại: Ketamine; 0.064g ma tuý, loại: Heroin; 0,535g ma túy, loại: Methaphetamine nhằm mục đích để bán kiếm lời.
Hành vi bán ma tuý vào ngày 10/10/2024 và 21/10/2024.của Trần Văn G cho Mai Văn K và hành vi tàng trữ trái phép 04 chất ma tuý gồm MDMA, Ketamine, H4, M1 để bán. Tổng tỷ lệ phần trăm về khối lượng của các chất ma túy nêu trên so với mức tối thiểu đối với từng chất đó theo quy định tại khoản 3 Điều 251 BLHS là 87,7% (dưới 100% theo quy định tại khoản 3) nhằm mục đích để bán của G và bản thân Trần Văn G còn 03 lần bị Toà án xét xử chưa được xoá án tích, nên lần phạm tội này của G phải chịu 03 tình tiết định khung đó là: “Phạm tội 2 lần trở lên”, “Có 02 chất ma túy trở lên mà tổng khối lượng hoặc thể tích của các chất đó tương đương với khối lượng hoặc thể tích chất ma túy quy định tại một trong các điểm từ điểm h đến điểm o khoản này” và “Tái phạm nguy hiểm”.
Hành vi tàng trữ tổng khối lượng ma túy nêu trên của Trần Văn G để bán thì Phạm Văn C1 không biết. Tuy nhiên, hành vi bán ma túy vào ngày 10/10/2024 và ngày 21/10/2024 của Phạm Văn C1 phải chịu tình tiết định khung “Phạm tội 02 lần trở lên”.
Do đó, Trần Văn G phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo điểm b, p, q khoản 2 Điều 251 Bộ luật hình sự; Phạm Văn C1 phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo điểm b khoản 2 Điều 251 Bộ luật hình sự như nội dung cáo trạng Viện kiểm sát nhân dân huyện Nga Sơn, tỉnh Thanh Hóa đã truy tố là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
[3] Về tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo:
Trong vụ án này, các bị cáo phạm tội với vai trò đồng phạm giản đơn, trong đó Trần Văn G giữ vai trò thứ nhất, là chủ mưu, khởi xướng, trực tiếp mua ma tuý về bán, còn Phạm Văn C1 có vai trò giúp sức, thực hành, trung gian giới thiệu khách mua ma tuý và giao ma tuý cho khách nên có vai trò thấp hơn.
Hành vi phạm tội của các bị cáo là nghiêm trọng và nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm trật tự an toàn xã hội, đến chế độ độc quyền quản lý của Nhà nước về các chất ma túy; đây còn là mối hiểm họa làm suy đồi đạo đức, lối sống, gây nguy hại cho thể chất lẫn tinh thần của con người và còn là nguyên nhân phát sinh nhiều loại tội phạm khác. Do đó, hành vi phạm tội của các bị cáo cần được xử lý nghiêm minh mới có tác dụng răn đe và phòng ngừa chung.
[4] Về nhân thân, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự (TNHS):
- - Về nhân thân: Các bị cáo đều là người có nhân thân xấu.
- - Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ TNHS: Các bị cáo không có tình tiết tăng nặng TNHS. Các bị cáo được hưởng các tình tiết giảm nhẹ TNHS như sau: Quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của bản thân; đầu thú; riêng bị cáo Trần Văn C4 có ông nội là Phạm Minh T1 được tặng thưởng huân, huy chương kháng chiến; đây là các tình tiết giảm nhẹ THNS được quy định tại điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 của BLHS.
[5] Về hình phạt:
Từ những nhận xét trên HĐXX nghĩ cần lên cho các bị cáo mức án nghiêm khắc. Bị cáo Trần Văn G là người chủ mưu, khởi xướng và có nhiều tiền án về tội phạm ma túy nên cần lên mức hình phạt cao hơn bị cáo Phạm Văn C1. Các bị cáo là người có nhân thân xấu, do đó, HĐXX xét thấy cần xử hình phạt tù cách ly các bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian mới có đủ điều kiện cải tạo, giáo dục các bị cáo trở thành công dân tốt cho xã hội. Tuy nhiên, cần cân nhắc đến tình tiết giảm nhẹ nêu trên để quyết định mức hình phạt phù hợp cho các bị cáo.
Các bị cáo nghề nghiệp tự do, mức thu nhập không ổn định nên HĐXX không áp dụng hình phạt bổ sung đối với các bị cáo.
[6] Về xử lý vật chứng và biện pháp tư pháp:
[6.1] Về xử lý vật chứng:
- - Toàn bộ vỏ bao gói mở niêm phong của 04 phong bì và các mẫu vật còn lại sau giám định gồm: 0,033g ma túy, loại: Methamphetamine, 0,052g ma túy, loại: heroine, 0,479g ma túy, loại: Methamphetamine của phong bì ký hiệu K1; 22,599g ma túy, loại: Ketamine và 45 (bốn lăm) viên nén màu hồng có tổng khối lượng là 16,370g ma túy, loại MDMA của phong bì ký hiệu M2; 01 cóng thuỷ tinh đầu cóng bẩu dục của phong bì ký hiệu K2; 03 bật lửa; 01 đoạn dây màu trắng, một đầu xanh, kích thước (45x0,5)cm; 01 bình thuỷ tinh hình trụ tròn trên đầu có 02 lỗ dài (13x4)cm - Là vật chứng của vụ án; cần tịch thu tiêu hủy.
- - 01 điện thoại di động nhãn hiệu Redmi 10c, màu đen, có số IMEI: 861575067356922, IME2: 86157067356930, gắn sim số 0986.769.533, điện thoại đã qua sử dụng của bị cáo G; 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Apple, loại Iphone XS, màu đen, số IME 357239095488436, số IME2 357239095406461, bên trong điện thoại gắn 01 sim số 0329.396.730, điện thoại đã qua sử dụng, của bị cáo C1; có liên quan đến tội phạm, cần tịch thu nộp Ngân sách Nhà nước.
- - 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu MXMID, màu vàng, gắn sim số 0842837572, có số IME1: 877257090020534, IME2: 877257090020542, đã qua sử dụng, cần trả lại cho bị cáo G do không liên quan đến tội phạm.
[6.2] Về biện pháp tư pháp: Số tiền 1.00.000đ (một triệu đồng) do bị cáo Phạm Văn C1 bán ma túy cho anh Mai Văn K nhưng bị cáo Trần Văn G đã tiêu sài cá nhân hết, cần truy thu của bị cáo G nộp Ngân sách Nhà nước.
[7] Các tình tiết khác có liên quan đến vụ án:
Về nguồn gốc ma tuý G đưa cho C1 bán vào các ngày 10/10 và 21/10/2024, cũng như số ma tuý G mang theo người sau đó giao nộp cho Cơ quan CSĐT và số ma tuý Cơ quan điều tra khám xét nơi ở thu giữ được là G mua của một người nam giới không biết tên tuổi, cụ thể ở đâu ngay sau Siêu thị B (Trung tâm thương mại G1 mới), thành phố H, tỉnh Ninh Bình. Đặc điểm của người đàn ông này khoảng 40 tuổi, dạng người trung bình, cao khoảng 1m67, mặc áo phông màu nâu, quần sóc màu nâu, đội mũ phớt, đeo khẩu trang. Căn cứ lời khai của G, Cơ quan CSĐT tiến hành xác minh tại phường N, thành phố H, tỉnh Ninh Bình, nhưng không xác định được người có đặc điểm như G đã trình bày. Cơ quan CSĐT Công an huyện N cũng phối hợp với Công an phường N tiến hành rà soát camera tại trục đường phía sau Trung tâm thương mại G1, tuy nhiên khu vực trên không có hệ thống Camera. Mặt khác, việc mua bán ma tuý giữa G và người đàn ông không có ai thấy, ai biết, việc thanh toán tiền mua ma tuý là G trả tiền mặt (tiền VNĐ). Do đó, cơ quan CSĐT đang tiếp tục truy tìm người bán ma tuý cho G để xử lý theo quy định.
Đối với Mai Văn K mua ma tuý nhằm mục đích sử dụng cho nhu cầu bản thân. Do gói ma tuý K mua của C1 có khối lượng 0,046g (không phẩy không bốn sáu gam) loại: Methaphetamine, dưới định lượng Olgam theo quy định tại điểm g, khoản 1 Điều 249 BLHS. Trong khi về nhân thân K chưa có tiền án, tiền sự liên quan đến ma tuý nên hành vi của K không cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý” theo quy định tại Điều 249 BLHS. Cơ quan CSĐT đã chuyển hồ sơ cho Công an huyện N ra quyết định xử lý vi phạm hành chính là có căn cứ.
Đối với Trương Ngọc S, cả hai lần vào các ngày 10/10 và 21/10/2024 S đều đi cùng K nhưng S không góp tiền mua ma túy, không hứa hẹn sử dụng ma túy cùng K nên Cơ quan CSĐT không xử lý đối với Trương Ngọc S là đúng quy định.
Đối với chiếc xe mô tô nhãn hiệu YAMAHA Exciter màu đen bạc, BKS 36G1-469.61, Phạm Văn C1 dùng làm phương tiện đi bán ma tuý cho K vào tối ngày 10/10/2024. Quá trình điều tra đã xác định xe mô tô trên là của chị Nguyễn Thị H3 (chị dâu của C1), việc C1 mượn chiếc xe trên sau đó sử dụng làm phương tiện đi bán ma tuý chị Nguyễn Thị H3 không biết nên Cơ quan CSĐT không thu giữ chiếc xe trên là đúng quy định.
Đối với chiếc xe mô tô nhãn hiệu HONDA Airblade, màu đen, BKS 36R3-5237, G đưa cho C1 dùng làm phương tiện đi bán ma tuý vào ngày 21/10/2024, là xe của anh Trần Văn Đ2 (anh trai ruột của G). Giáp mượn xe của anh Đ2 sau đó sử dụng làm phương tiện đi bán ma tuý anh Đ2 không biết nên Cơ quan CSĐT không thu giữ là đúng quy định.
[8] Về án phí: Bị cáo Trần Văn G thuộc hộ cận nghèo và có đơn đề nghị nên được miễn nộp tiền án phí HSST; Bị cáo Phạm Văn C1 phải chịu án phí HSST theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào:
- - Điểm b, p, q khoản 2 Điều 251; điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; Điều 38; Điều 17; Điều 58 của Bộ luật hình sự đối với bị cáo Trần Văn G.
- - Điểm b khoản 2 Điều 251; điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; Điều 38; Điều 17; Điều 58 của Bộ luật hình sự đối với bị cáo Phạm Văn C1
- Tuyên bố: Các bị cáo Trần Văn G và Phạm Văn C1 phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.
- Xử phạt:
- - Bị cáo Trần Văn G 10 (mười) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ là ngày 23/10/2024.
- - Bị cáo Phạm Văn C1 08 (tám) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ là ngày 23/10/2024.
- Xử lý vật chứng và biện pháp tư pháp: Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 46; khoản 1 Điều 47 BLHS; khoản 2, điểm a khoản 3 Điều 106 BLTTHS:
- - Tịch thu tiêu hủy: Toàn bộ vỏ bao gói mở niêm phong của 04 phong bì và các mẫu vật còn lại sau giám định gồm: 0,033g ma túy, loại: Methamphetamine, 0,052g ma túy, loại: heroine, 0,479g ma túy, loại: Methamphetamine của phong bì ký hiệu K1; 22,599g ma túy, loại: Ketamine và 45 (bốn lăm) viên nén màu hồng có tổng khối lượng là 16,370g ma túy, loại MDMA của phong bì ký hiệu M2; 01 cóng thuỷ tinh đầu cóng bẩu dục của phong bì ký hiệu K2. Tất cả được đựng trong một phong bì niêm phong mẫu vật do phòng K1 công an tỉnh T phát hành, được dán kín, niêm phong bởi các chữ ký ghi họ tên Nguyễn Trần Đ1, Trần Thị Thúy H2, Nguyễn Đức C3 và các hình dấu của phòng K1 công an tỉnh T; 03 bật lửa; 01 đoạn dây màu trắng, một đầu xanh, kích thước (45x0,5)cm; 01 bình thuỷ tinh hình trụ tròn trên đầu có 02 lỗ dài (13x4)cm;
- - Tịch thu nộp Ngân sách Nhà nước: 01 điện thoại di động nhãn hiệu Redmi 10c, màu đen, có số IMEI: 861575067356922, IME2: 86157067356930, gắn sim số 0986.769.533, điện thoại đã qua sử dụng, của bị cáo G; 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Apple, loại Iphone XS, màu đen, số IME 357239095488436, số IME2 357239095406461, bên trong điện thoại gắn 01 sim số 0329.396.730, điện thoại đã qua sử dụng, của bị cáo C1;
- - Trả lại cho bị cáo Trần Văn G: 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu MXMID, màu vàng, gắn sim số 0842837572, có số IME1: 877257090020534, IME2: 877257090020542, đã qua sử dụng.
- (Theo biên bản giao, nhận đồ vật, tài liệu, vật chứng ngày 20/02/2025 giữa Cơ quan CSĐT Công an huyện N và Chi cục Thi hành án dân sự huyện Nga Sơn).
- - Truy thu nộp Ngân sách Nhà nước số tiền 1.000.000đ (một triệu đồng) của bị cáo Trần Văn G.
- Về án phí: Căn cứ vào khoản 2 Điều 136 BLTTHS; điểm đ khoản 1 Điều 12; khoản 1 Điều 21; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án: Bị cáo Trần Văn G được miễn nộp tiền án phí HSST; bị cáo Phạm Văn C1 phải nộp 200.000đ (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
- Về quyền kháng cáo: Căn cứ vào Điều 331; Điều 333 BLTTHS: Các bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Trịnh Thị Thủy |
Bản án số 14/2025/HSST ngày 21/03/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NGA SƠN, TỈNH THANH HÓA về mua bán trái phép chất ma túy
- Số bản án: 14/2025/HSST
- Quan hệ pháp luật: Mua bán trái phép chất ma túy
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 21/03/2025
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NGA SƠN, TỈNH THANH HÓA
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Trần Văn G bị xử phạt 10 năm 06 tháng tù về tội "Mua bán trái phép chất ma túy" theo điểm b, p, q khoản 2 Điều 251 BLHS; Phạm Văn C bị xử phạt 08 năm tù về tội "Mua bán trái phép chất ma túy" theo điểm b khoản 2 Điều 251 BLHS
