|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ PHƯỚC LONG TỈNH BÌNH PHƯỚC Bản án số: 14/2025/HS-ST Ngày 20 – 03 - 2025 |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ PHƯỚC LONG, TỈNH BÌNH PHƯỚC
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Hoàng Ngọc Bân
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Tạ Đình Thành
Ông Lê Thành Dân
- Thư ký phiên tòa: Bà Đặng Thị Vui – Thư ký Tòa án nhân dân thị xã Phước Long, tỉnh Bình Phước
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Phước Long, tỉnh Bình Phước tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Phúc Vinh - Kiểm sát viên.
Ngày 20 tháng 3 năm 2025 tại Tòa án nhân dân thị xã Phước Long, tỉnh Bình Phước xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 05/2025/TLST-HS ngày 23 tháng 01 năm 2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 15/2025/QĐXXST-HS ngày 07 tháng 3 năm 2025, đối với các bị cáo:
1. Võ Quốc C, sinh năm: 1995; tại tỉnh Hà Tĩnh;
Nơi thường trú: Xóm L, xã T, huyện C, tỉnh Hà Tĩnh, nơi ở hiện tại: Khu phố P, phường P, thị xã P, tỉnh Bình Phước; Nghề nghiệp: Buôn bán; Trình độ học vấn: 07/12; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Giới tính: Nam; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Võ Quốc D và bà Nguyễn Thị T; Bị cáo chưa có vợ tên Nguyễn Thị N, sinh năm 1994; Tiền án, tiền sự: Không; Nhân thân: Không; Bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 15/10/2024 cho đến nay; có mặt tại phiên tòa.
2. Nguyễn Hữu H, sinh năm: 1985; tại tỉnh Bình Phước;
Nơi thường trú: Thôn P, xã B, huyện P, tỉnh Bình Phước, nơi ở hiện tại: Khu phố P, phường P, thị xã P, tỉnh Bình Phước; Nghề nghiệp: Không; Trình độ học vấn: 03/12; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Giới tính: Nam; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Nguyễn Hữu N1 và bà Nguyễn Thị Đ; Bị cáo chưa có vợ và con; Tiền án: Ngày 07/6/2022, bị Tòa án nhân dân thị xã Phước Long xử phạt 24 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” (chấp hành xong vào ngày 18/10/2023, chưa được xóa án tích); tiền sự: Không; Nhân thân: Ngày 12/3/2016, Công an huyện P xử phạt hành chính với số tiền 2.500.000 đồng tại Quyết định số 23/QĐ-XLHC; Bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 15/10/2024 cho đến nay; có mặt tại phiên tòa.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
Bà Nguyễn Thị N, sinh năm 1994; nơi cư trú: Khu phố P, phường P, thị xã P, tỉnh Bình Phước. Có mặt
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 18 giờ, ngày 13/10/2024, Võ Quốc C sử dụng điện thoại liên lạc với 01 người đàn ông tên B (không rõ nhân thân lai lịch) để mua 3.000.000 đồng tiền ma túy tổng hợp (ma túy đá) nhằm mục đích về bán lại kiếm lời thì B đồng ý. Đến khoảng 18 giờ 30 phút cùng ngày có 01 người thanh niên (không rõ nhân thân lai lịch) gọi điện thoại cho C ra đường trước tiệm phế liệu của C để giao ma túy, C nhận ma túy và trả tiền cho người thanh niên. Sau khi mua được ma túy Chất cất giấu ma túy ở phía dưới sọt đựng điều ở phía trước, bên phải tiệm phế liệu của C theo hướng từ trong tiệm nhìn ra. Đến khoảng 05 giờ 30 phút sáng ngày 14/10/2024, Nguyễn Hữu H điện thoại hỏi mua của C 1.500.000 đồng tiền ma túy tổng hợp dạng đá về để phân nhỏ ra để bán cho các con nghiện nhằm mục đích kiếm lời thì C đồng ý. Sau đó, H chuyển khoản cho C số tiền 2.000.000 đồng, trong đó 1.500.000 đồng là tiền mua ma túy và 500.000 đồng là tiền mà H trả nợ cho C. Một lúc sau, C mang ma túy đến giao cho H tại nhà H thuộc khu phố P, phường P, thị xã P, tỉnh Bình Phước. Sau khi nhận được ma túy, H đem số ma túy trên lấy ra một ít sử dụng, số ma túy còn lại H chia vào 06 đoạn ống hút nhựa hàn kín và cất vào túi quần rồi đi công việc. Đến khoảng 19 giờ 00 phút, ngày 14/10/2024, H vừa về nhà thì bị Công an phường P, thị xã P kiểm tra bắt quả tang, khám xét nhà H thu giữ: 06 đoạn ống nhựa loại ống hút màu trắng, đỏ, tím bên trong chứa ma túy được hàn kín hai đầu, H khai đây là ma túy H mua của Võ Quốc C với mục đích về phân nhỏ ra để bán cho các đối tượng nghiện ma túy nhằm kiếm lời. Kiểm tra phía dưới gầm bàn trong phòng ngủ nhà H phát hiện và thu giữ 01 gói nilon dạng khóa miết kích thước (04cm x7,5cm) bên trong chứa ma túy, H mua của một người phụ nữ (không rõ nhân thân lai lịch) tại đập Đ thuộc khu phố P, phường P, thị xã P vào ngày 12/10/2024 về phân nhỏ bán cho các đối tượng nhằm kiếm lời, nhưng số ma túy này bị khét không bán được. Sau khi bắt quả tang Cơ quan điều tra đã tiến hành khám xét khẩn cấp chỗ ở của Nguyễn Hữu H phát hiện và thu giữ: 01 bộ dụng cụ (H dùng để sử dụng ma túy) gồm: chai thủy tinh có nắp màu đỏ gắn ống hút nhựa màu xanh trắng và 01 nỏ thủy tinh; 01 cái kéo bằng innox dài khoảng 10cm, phần lưỡi kéo được bọc bằng ống nhựa màu xanh trắng; 32 đoạn ống thủy tinh dài khoảng 20cm, xunh quanh được bọc bằng giấy nhám màu vàng.
Căn cứ vào các tài liệu chứng chứ thu thập được, cùng ngày Cơ quan điều tra Công an thị xã P ra lệnh giữ người trong trường hợp khẩn cấp đối với Võ Quốc C để điều tra. Quá trình giữ Chất Cơ quan điều tra thu giữ trên người Chất 01 gói nylon dạng khóa miết kích thước (04 x7,5cm), bên trong chứa tinh thể màu trắng (C khai là ma túy tổng hợp dạng đá) và tạm giữ 01 xe mô tô biển số 93B1-241.17, số máy: 03D4E-606941, số khung: RLCUG06UHY581818. Ngày 15/10/2024, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thị xã P ra Lệnh khám xét khẩn cấp chỗ ở của Võ Quốc C tại khu phố P, phường P thu giữ: 01 gói nylon dạng khóa miết bên trong chứa ma túy; 01 cân tiểu ly; 01 súng Ru lô, 02 viên đạn có đầu đạn bằng cao su, 01 viên kim loại có đặc điểm giống đạn thể thao màu vàng và 01 viên kim loại có đặc điểm giống tút (vỏ đạn).
Quá trình điều tra H và C đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình.
Vật chứng thu giữ gồm: 01 gói nylon dạng khóa miết kích thước (04cm x7,5cm) bên trong chứa chất tinh thể màu trắng được bỏ trong phong bì niêm phong dán kín (được ký hiệu B); 01 gói nylon màu trắng dạng khóa miết kích thước (08cm x 13,5cm) bên trong chứa chất tinh thể màu trắng, được bỏ trong phong bì niêm phong dán kín (ký hiệu A1); 06 đoạn ống nhựa màu đỏ, trắng, tím bên trong chứa tinh thể màu trắng được hàn kín hai đầu, được bỏ trong phong bì niêm phong dán kín (ký hiệu M1); 01 gói nylon màu trắng dạng khóa miết kích thước (04cm x7,5cm), bên trong có chứa tinh thể màu trắng, được bỏ trong phong bì niêm phong dán kín (Ký hiệu M2); 01 bộ dụng cụ dùng để sử dụng ma túy; 01 cái kéo bằng innox; 01 cân tiểu ly và 01 xe mô tô biển số 93 B1-241.17.
Tại Bản kết luận giám định số 1123/KL-KTHS ngày 23/10/2024 của Phòng K Công an tỉnh B kết luận; tinh thể màu trắng (ký hiệu A1, B, M1, M2) được niêm phong gửi giám định là ma túy, loại Methamphetamine, có khối lượng lần lượt là: A1 = 2,3329 gam; B = 0,2479 gam; M1 = 1,2673 gam và M2 = 2,0544 gam.
Tại bản kết luận giám định số 1160/KL-KTHS, ngày 11/11/2024 của Phòng K Công an tỉnh B kết luận: 01 khẩu súng (ký hiệu A1) là súng chế tạo thủ công nòng nhẵn, súng sử dụng để bắn với loại đạn cỡ (9x22) mm. Hiện tại súng đầy đủ bộ phận và bắn được đạn nổ. Khẩu súng trên có tính năng tác dụng tương tự công cụ hỗ trợ và thuộc công cụ hỗ trợ, không phải vũ khí quân dụng; 02 viên đạn gửi giám định (ký hiệu A2) là loại đạn cao su cỡ (9x22) cm thuộc công cụ hỗ trợ, không phải vũ khí quân dụng. Loại đạn này được sử dụng để bắn cho một số loại súng công cụ hỗ trợ cỡ 9mm và khẩu súng gửi giám định nêu trên.
Ngày 22/10/2024, các bị cáo bị khởi tố bị can để điều tra.
Tại bản cáo trạng số 10/CT-VKS ngày 23/01/2025, Viện kiểm sát nhân dân thị xã Phước Long đã truy tố Võ Quốc C, Nguyễn Hữu H về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 và tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” theo khoản 1 Điều 251 của Bộ luật hình sự.
Tại phiên tòa:
Đại diện Viện kiểm sát thực hiện quyền công tố tại phiên tòa giữ nguyên quan điểm truy tố; Bị cáo Võ Quốc C không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự và có các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự “người phạm tội thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải” “Phạm tội lần đầu, có nhân thân tốt”, theo quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự; bị cáo Nguyễn Hữu H có 01 tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự là “tái phạm” theo điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự và có 01 tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự là “người phạm tội thành khẩn khai báo” theo quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự.
Đề nghị Hội đồng xét xử:
Áp dụng khoản 1 Điều 251; Điều 38; 50; 58; điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự, xử phạt bị cáo 02 (hai) năm đến 02 (hai) năm 06 (sáu) tháng tù. Phạt bổ sung: 20.000.000 đồng đến 30.000.000 đồng.
Áp dụng khoản 1 Điều 255; Điều 38; 50; 58; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52 của Bộ luật hình sự, xử phạt bị cáo H từ 03 (ba) năm đến 03 (ba) năm 06 (sáu) tháng tù.
Vật chứng: Đề nghị tịch thu tiêu hủy số ma túy còn lại sau giám định là 3,19237 gam, 01 chai thủy tinh có nắp màu đỏ gắn ống hút nhựa màu xanh trắng và 01 nỏ thủy tinh; 01 cái kéo bằng innox dài khoảng 10cm, 32 đoạn ống thủy tinh dài khoảng 20cm, xunh quanh được bọc bằng giấy nhám màu vàng. 01 bộ dụng cụ dùng để sử dụng ma túy; 01 cái kéo bằng innox và 01 cân tiểu ly.
- - Các Bị cáo tự bào chữa: Thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như cáo trạng đã truy tố và không có ý kiến tranh luận.
- - Các Bị cáo nói lời sau cùng: Bị cáo đã nhận thức được hành vi của mình là sai trái, rất hối hận nên mong Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo để bị cáo sớm trở về lo cho gia đình.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thị xã P, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thị xã Phước Long, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Xét lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo trong quá trình điều tra, truy tố; phù hợp với lời khai của người làm chứng, người chứng kiến, biên bản bắt người phạm tội quả tang, vật chứng thu giữ được và kết luận giám định trong quá trình điều tra, cũng như các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Do đó, có đủ cơ sở kết luận: Nhằm mục đích mua bán trái phép chất ma túy để ham lợi bất chính nên vào ngày 13/10/2024, bị cáo H liên hệ với người đàn ông tên B để mua 3.000.000 đồng tiền ma túy. Đến 14/10/2024 tại khu phố P, phường P, thị xã P, tỉnh Bình Phước Võ Quốc C đã bán ma túy cho Nguyễn Hữu H 01 lần với số tiền 1.500.000 đồng. Căn cứ vào kết luật giám định, số ma túy thu giữ trong quá trình khám xét của các bị cáo là ma túy, tổng số ma túy Chất tàng trữ để nhằm mục đích mua bán là 2,5808 gam Methamphetamine; tổng số ma túy tàng trữ của bị cáo H để nhằm mục đích mua bán trái phép là 3,3217 gam Methamphetamine.
Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến chính sách quản lý độc quyền của Nhà nước về các chất ma túy, là nguyên nhân phát sinh các tệ nạn xã hội. Bản thân bị cáo là người có đủ năng lực trách nhiệm hình sự và nhận thức rõ hành vi vi phạm của mình nhưng vẫn cố ý thực hiện. Do đó, hành vi của bị cáo đủ yếu tố cấu thành tội “Mua trái phép chất ma túy”, Viện kiểm sát truy tố và luận tội bị cáo theo quy định tại khoản 1 Điều 251 của Bộ luật hình sự là có căn cứ, đúng pháp luật.
[3] Đây là vụ án đồng phạm giản đơn, các bị cáo đều là người thực hành nên có vai trò ngang nhau. Tuy nhiên, bị cáo H có số ma túy tàng trữ nhằm mua bán cao hơn bị cáo C, đã từng bị kết án về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy, chưa được xóa án mà cố tình thực hiện hành vi phạm tội, chứng tỏ bị cáo xem thường pháp luật nên cần xử phạt mức án cáo hơn bị cáo C mới đủ sức răn đe đối với bị cáo.
[4] Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự
Bị cáo C không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự; bị cáo Nguyễn Hữu H có 01 tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự là “Tái phạm” theo điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự. Bị cáo C có các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự “Người phạm tội thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải”, “Phạm tội lần đầu, có nhân thân tốt” quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự; bị cáo H có 01 tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự là “Người phạm tội thành khẩn khai báo” theo quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự và được xem xét khi quyết định mức hình phạt cho các bị cáo.
[5] Về hình phạt bổ sung: Xét bị cáo H không có nghề nghiệp và thu nhập ổn định nên Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo. Đối với bị cáo C có nguồn thu ổn định nên cần áp dụng thêm hình phạt bổ sung là phạt tiền mới đủ sức răn đe, giáo dục đối với bị cáo và phòng ngừa chung.
[6] Về vật chứng vụ án:
- - Tịch thu tiêu hủy số ma túy còn lại sau giám định là 3,19237 gam, 01 chai thủy tinh có nắp màu đỏ gắn ống hút nhựa màu xanh trắng và 01 nỏ thủy tinh; 01 cái kéo bằng innox dài khoảng 10cm, 32 đoạn ống thủy tinh dài khoảng 20cm, xunh quanh được bọc bằng giấy nhám màu vàng. 01 bộ dụng cụ dùng để sử dụng ma túy; 01 cái kéo bằng innox và 01 cân tiểu ly.
- - Đối với xe mô tô Yamaha, biển số: 93B1-241.17 quá trình điều tra xác định đây là xe hợp pháp của chị Nguyễn Thị N. Ngày 27/12/2024, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thị xã P đã ra Quyết định xử lý vật chứng trả lại cho chị N là đúng quy định nên Hội đồng xét xử không xử lý.
- - Đối với 01 khẩu súng và 04 viên đạn thu giữ tại nhà Võ Quốc C qua giám định không phải vũ khí quân dụng. Ngày 07/01/2025, Cơ quan CSĐT Công an thị xã P, tỉnh Bình Phước chuyển Đội quản lý hành chính Công an thị xã P, Bình Phước xử lý theo thẩm quyền là đúng quy định nên Hội đồng xét xử không xử lý.
- - Đối với chiếc điện thoại mà Võ Quốc C sử dụng để giao dịch mua bán ma túy đã bị hư hỏng trước khi bị bắt nên C đã vứt đi. Cơ quan điều tra không thu giữ được nên không đề cập xử lý.
[7] Đối với đối tượng tên B và người thanh niên giao ma túy cho C cùng với người phụ nữ bán ma túy cho H tại đập Đ thuộc khu phố P, phường P, thị xã P, Bình Phước. Quá trình điều tra đến nay không xác định được nhân thân lai lịch của các đối tượng. Vì vậy, đề nghị Cơ quan CSĐT Công an có thẩm quyền tiếp tục xác minh xử lý sau. Đối với bà N không biết, không tham gia vào việc mua bán ma tuý của các bị cáo nên không có căn cứ xử lý.
[8] Quan điểm của Viện kiểm sát về tội danh, hình phạt đối với bị cáo là có căn cứ, phù hợp với quy định pháp luật, phù hợp với quan điểm của Hội đồng xét xử nên được ghi nhận.
[9] Về án phí: Bị cáo phải chịu theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Về tội danh: Tuyên bố các bị cáo Võ Quốc C, Nguyễn Hữu H phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.
2. Về hình phạt:
- - Căn cứ khoản 1 Điều 251; các Điều 38, Điều 17, 50; 58; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự.
- Xử phạt bị cáo Võ Quốc C 02 (hai) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày 15/10/2024.
- Hình Phạt bổ sung: Bị cáo Võ Quốc C nộp ngân sách nhà nước số tiền 30.000.000 đồng (Ba mươi triệu đồng).
- - Căn cứ khoản 1 Điều 251; các Điều 38, Điều 17, 50; 58; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự.
- Xử phạt bị cáo Nguyễn Hữu H 03 (ba) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày 15/10/2024.
- Tiếp tục tạm giam các bị cáo C, H để đảm bảo cho việc thi hành án.
2. Về vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự và Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự;
- - Tịch thu tiêu hủy: 01 (Một) phòng bì sau giám định (A1, B, M1, M2) được phòng PC09 Công an tỉnh B niêm phong số 1123 ngày 18/10/2024 có chữ ký của người chứng kiến Võ Quốc C, Nguyễn Hữu H, cán bộ điều tra Trương Quang M, giám định viên Lê Xuân H1 (bên trong chứa số ma túy còn lại sau giám định là 3,19237 gam).
- - Tịch thu tiêu hủy: 01 Chai thủy tinh có nắp màu đỏ gắn ống hút nhựa màu xanh trắng và 01 nỏ thủy tinh; 01 cái kéo bằng innox dài khoảng 10cm, 32 đoạn ống thủy tinh dài khoảng 20cm, xunh quanh được bọc bằng giấy nhám màu vàng; 01 bộ dụng cụ dùng để sử dụng ma túy; 01 cái kéo bằng innox và 01 cân tiểu ly.
- (Theo biên bản về việc giao nhận vật chứng, tài sản giữa Công an thị xã P với Chi cục thi hành án dân sự thị xã Phước Long số 0003902 ngày 11/02/2025).
3. Về án phí: Áp dụng Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;
Mỗi Bị cáo phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
4. Về quyền kháng cáo: Áp dụng Điều 331, Điều 333 Bộ luật tố tụng hình sự;
Bị cáo, Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo bản án này trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Hoàng Ngọc Bân |
Bản án số 14/2025/HS-ST ngày 20/03/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ PHƯỚC LONG, TỈNH BÌNH PHƯỚC về mua bán trái phép chất ma túy
- Số bản án: 14/2025/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Mua bán trái phép chất ma túy
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 20/03/2025
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ PHƯỚC LONG, TỈNH BÌNH PHƯỚC
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Võ Quốc Chất cùng đồng phạm phạm tội Mua bán trái phép chất ma tuý
