Hệ thống pháp luật
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐỒNG HỶ
TỈNH THÁI NGUYÊN
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do- Hạnh phúc


Bản án số:14/2025/HS-ST

Ngày: 18-3-2025

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐỒNG HỶ, TỈNH THÁI NGUYÊN

Thành phần Hội đồng xét xử gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Châm Thị Vân Khánh

Các hội thẩm nhân dân:

  • 1. Bà Nguyễn Thị Nguyệt
  • 2. Bà Dương Thị Thu Hằng

Thư ký phiên toà: Ông Nguyễn Nam Thái, Thư ký Toà án nhân dân huyện Đồng Hỷ.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đồng Hỷ tham gia phiên toà: Ông Ngô Lê Phương, Kiểm sát viên.

Ngày 18 tháng 3 năm 2025, tại Hội trường Tòa án nhân dân huyện Đồng Hỷ, tỉnh Thái Nguyên xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 04/2025/TLST-HS ngày 15/01/2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 07/2025/QĐXXST-HS ngày 06/02/2025 đối với bị cáo:

Họ và tên: Nguyễn Thị Đ; giới tính: Nữ; sinh ngày 13/8/1982; nơi ĐKHKTT: xóm V, xã V, huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên; nghề nghiệp: Làm ruộng; trình độ học vấn: 02/12; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: không; con ông Nguyễn Quốc T và bà Nguyễn Thị V; Chồng: Cao Xuân C, con: có 02 con (con lớn sinh năm 2002 bị khuyết tật nặng (bại não), con nhỏ sinh năm 2004 (bị tim bẩm sinh)); Tiền án, tiền sự: không;

Bị cáo không bị tạm giữ, tạm giam, bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú, hiện đang tại ngoại tại địa phương, có mặt tại phiên tòa.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

  1. Ông Cao Xuân C, sinh năm 1982 –Vắng mặt
    Trú tại: Xóm V, xã V, huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên.
  2. Bà Tạ Thị H, sinh năm 1963 – Vắng mặt
    Trú tại: Xóm V, xã V, huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên.
  3. Chị Hà Thị Y, sinh năm 1996 – Vắng mặt
    Trú tại: Xóm V, xã V, huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên.
  4. Chị Lê Thị L, sinh năm 1984 – Vắng mặt
    Trú tại: Xóm P, xã V, huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên.
  5. Chị Nguyễn Thị T1, sinh năm 1973 – Vắng mặt
    Trú tại: Xóm V, xã V, huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng năm 2003, Nguyễn Thị Đ được bố đẻ là ông Nguyễn Quốc T cho đất để ở tại xóm V, xã V, huyện Đ, nguồn gốc đất do ông T khai hoang và chưa làm thủ tục sang nhượng quyền sử dụng đất do đất này chưa được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất (GCNQSDĐ). Sau khi được cho đất, Đ và chồng là Cao Xuân C (SN 1982, trú tại xóm V, xã V, huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên) làm nhà sinh sống cho đến nay. Năm 2014, do có nhu cầu làm GCNQSDĐ chuyển đổi mục đích sang đất thổ cư tại mảnh đất của gia đình, Đ có đi tìm hiểu thì được biết là chưa làm được. Đến khoảng tháng 09 năm 2023, khi Đài ở nhà tại xóm V, xã V, huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên, có xem trên mạng xã hội Facebook (Đài không nhớ tên tài khoản) thấy có bài đăng về làm giấy tờ nhà đất, Đấn xem, sau đó nhắn tin để hỏi thì người sử dụng trang Facebook đăng bài nhắn tin, kết bạn Zalo qua số điện thoại: 0329.048.xxx, người này có giới thiệu tên là H1, Đ đã lưu trong danh bạ điện thoại là: “Hùng Nhà Đ1”. Đài hỏi người này về nội dung cấp GCNQSDĐ cho thửa đất nhà Đài đang ở đã được đo đạc năm 2011, nhưng chưa được cấp giấy, H1 trả lời: “Thế từ năm 2011 đã có tên ở trên địa chính UBND xã chưa”, Đài nhắn tin trả lời: “Có rồi”, sau đó Đ thỏa thuận đặt làm giấy GCNQSDĐ với giá “12.000.000đ” rồi cung cấp cho H1 ảnh mặt trước mặt sau 02 căn cước công dân của hai vợ chồng, sổ hộ khẩu, 02 chữ ký vợ chồng Đ. Đài nói chuyện với chồng về việc làm GCNQSDĐ nhưng anh C không tin tưởng, Đ lấy quyển sổ ghi chép công gỗ có chữ ký của Cao Xuân C và chụp ảnh lại chữ ký của C (chữ C không có ghi họ tên) gửi qua zalo cho H1 cùng với những giấy tờ H1 đã yêu cầu từ trước. Cuối tháng 10 năm 2023, H1 nhắn tin cho Đài qua zalo: “Đài Nguyên” và gửi hình ảnh thông tin GCNQSDĐ cho Đ để kiểm tra sau khi Đài kiểm tra đúng thông tin thửa đất và họ tên của vợ chồng Đ trên bìa. H1 yêu cầu đặt cọc số tiền 1.000.000đ, Đ đồng ý và chuyển khoản cho H1 số tiền 1.000.000₫ đến tài khoản ngân hàng số: “589767899999” tên chủ tài khoản: “DO TAN MINH PHUC” đăng ký tại ngân hàng Q1 (MB). Ngày 09/11/2023, Đ nhận 01 Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất mang tên Cao Xuân C và Nguyễn Thị Đ, số: BL 693369, thửa đất số: 106, tờ bản đồ số 66, diện tích 426,8m², hình thức sử dụng: đất ở tại nông thôn, thời hạn sử dụng lâu dài, giấy chứng nhận quyền sử dụng đất được UBND huyện Đ cấp ngày 15/10/2023, có chữ ký của ông Nguyễn Thế H2 – Phó chủ tịch UBND huyện Đ và đóng dấu xác nhận do nhân viên giao hàng (Đài không nhớ được công ty giao hàng) gửi đến. Đài sử dụng tài khoản ngân hàng số: “8506366665666”, tên chủ tài khoản: “NGUYEN THI DAI” đăng ký tại ngân hàng A chuyển 11.000.000₫ (Mười một triệu đồng) đến số tài khoản: “031306868” mang tên: “PHAM HOANG GIANG” đăng ký tại ngân hàng V1 cho H1 (H1 cung cấp số tài khoản cho Đ). Ngày 09/11/2023, Đ và C

đến ngân hàng A làm thủ tục ký hợp đồng tín dụng số 8056-LAV0202303060 để vay vốn 200.000.000₫ (Hai trăm tiệu đồng) của ngân hàng với hình thức bảo đảm tiền vay: Cho vay không có bảo đảm tài sản, tài sản giữ hộ là giấy chứng nhận quyền sử dụng đất quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số BL693369, Đ và C đã nhận tiền. Ngày 19/02/2024 Đ và anh C đã thanh toán tiền lãi khoản vay theo thoả thuận định kỳ 3 tháng, số tiền lãi 6.223.562đ. Đến đầu tháng 03 năm 2024, quá trình kiểm tra thủ tục vay vốn, nhận thấy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của Đ có vấn đề, Ngân hàng A chi nhánh Đ2 đã yêu cầu Đ phải làm thủ tục trả tiền. Đến ngày 8/3/2024, Đ đã trả 200.000.000đ cho Ngân hàng và ngày 21/3/2024 đã tự nguyện giao nộp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất trên cho Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Đ (Được niêm phong trong bì ký hiệu A5 theo quy định).

Ngoài ra, Đ còn 03 lần đặt làm 04 giấy chứng nhận quyền sử dụng đất giúp bà Tạ Thị H, SN 1963, trú tại xóm V, xã V, huyện Đ, chị Lê Thị L, SN 1984, trú tại xóm P, xã V, huyện Đ, bà Nguyễn Thị T1, sinh năm: 1973, trú tại: xóm V, xã V, huyện Đ, cụ thể:

Từ ngày 10/11/2023 đến ngày 12/12/2023, Tạ Thị H biết được việc Nguyễn Thị Đ được làm GCNQSDĐ nên gặp và nhờ Đ làm giúp. Đài liên hệ và thỏa thuận với H1 làm GCNQSDĐ với giá 12.000.000đ, ngoài ra H1 yêu cầu Đài chuyển 68.800.000đ tiền thuế. Sau đó Đ gọi điện trao đổi lại thì bà H đồng ý và đưa tiền cho Đ. Ngày 12/12/2023, Đ nhận được 01 GCNQSDĐ mang tên Nguyễn Văn T2 và Tạ Thị H rồi chuyển khoản tiền làm sổ cho H1, giữ lại số tiền 68.800.000₫ do H1 nói chưa cần chuyển ngay.

Khoảng tháng 11 năm 2023 đến giữa tháng 12 năm 2023, chị Lê Thị L biết được việc Nguyễn Thị Đ được làm GCNQSDĐ nên gặp và nhờ Đ làm giúp. Đài hỏi H1 thì H1 nói tổng số tiền làm giấy là 72.000.000₫ trong đó 12.000.000₫ là tiền làm bìa và 60.000.000đ tiền thuế. Đài nói lại với L thì L đồng ý làm với giá như trên và đưa tiền cho Đ. Khoảng ngày 22/12/2023, Đ nhận được 01 GCNQSDĐ mang tên Nguyễn Hữu N và Lê Thị L, Đ chuyển H1 số tiền 12.000.000đ và giữ lại số tiền 62.000.000đ do H1 nói chưa cần chuyển.

Khoảng tháng 11 năm 2023, bà Nguyễn Thị T1 biết được việc Nguyễn Thị Đ được làm GCNQSDĐ nên gặp và nhờ Đ làm giúp cho vợ chồng bà T1 và vợ chồng chị Hà Thị Y (Là con gái của bà T1). Đài thỏa thuận với H1 thì H1 nhận làm và yêu cầu thanh toán giá làm 02 giấy là 24.000.000đ. Đài trao đổi lại với bà T1 thì bà T1 đồng ý vả chuyển tiền cho Đ. Đến khoảng ngày 31/12/2023, Đ nhận được 02 GCNQSDĐ, Đ chuyển khoản tiền công làm cho H1 sau đó giao lại giấy tờ cho bà T1 và Y.

Sau khi phát hiện sự việc Đài sử dụng giấy chứng nhận quyền sử dụng đất giả để vay tiền tại Ngân hàng, Cơ quan điều tra đã tiến hành triệu tập những người trên để làm việc và thu giữ 04 giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, niêm phong theo quy định và tiến hành trưng cầu giám định đối với 05 giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đã thu giữ, được niêm phong trong các phòng bì ký hiệu từ A1 đến A5.

Tại Bản kết luận giám định số: 477/KL-KTHS ngày 31 tháng 3 năm 2024 của Phòng K Công an tỉnh T, kết luận: Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất ký hiệu từ A1 đến A5 là giả

Tại Cơ quan điều tra, Nguyễn Thị Đ khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như nêu trên.

Vật chứng của vụ án:

  • Số tiền 128.800.000đ (Một trăm hai mươi tám triệu, tám trăm nghìn đồng) tiền Ngân hàng N1, đã trả lại chủ sở hữu quản lý, sử dụng;
  • 05 Giấy CNQSDĐ giả đựng trong phong bì niêm phong (Được chuyển theo hồ sơ vụ án);
  • 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu OPPO A15S, vỏ mầu xanh, lắp số thuê bao 0384.587.706, máy đã cũ qua sử dụng.

Hiện được bảo quản theo quy định, chờ xử lý.

Tại bản Cáo trạng số 08/CT-VKSĐH, ngày 13/01/2025, Viện kiểm sát nhân dân huyện Đồng Hỷ truy tố Nguyễn Thị Đ về tội “Sử dụng tài liệu giả của cơ quan tổ chức” theo khoản 1 Điều 341 Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa, bị cáo Nguyễn Thị Đ khai nhận rõ hành vi phạm tội như lời khai tại cơ quan điều tra và bản cáo trạng mô tả. Bị cáo thừa nhận việc truy tố, xét xử là đúng người, đúng tội, không oan.

Tại phiên tòa, trong phần luận tội Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đồng Hỷ giữ nguyên bản Cáo trạng số 08/CT-VKSĐH, ngày 13/01/2025, đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Nguyễn Thị Đ phạm tội “Sử dụng tài liệu giả của cơ quan tổ chức”:

  • Đề nghị áp dụng khoản 1 Điều 341; điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 65 Bộ luật hình sự, xử phạt bị cáo Nguyễn Thị Đ từ 9 đến 12 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, ấn định thời gian thử thách theo quy định của pháp luật. Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo; Về vật chứng: 05 giấy chứng nhận quyền sử dụng đất giả được lưu theo hồ sơ, 01 điện thoại tịch thu nộp ngân sách Nhà nước, bị cáo phải chịu án phí theo quy định.

Bị cáo không có ý kiến tranh luận với đại diện Viện kiểm sát.

Trong lời nói sau cùng trước khi Hội đồng xét xử nghị án, bị cáo nhận thấy hành vi của mình là sai và xin Hội đồng xét xử xem xét cho bị cáo được hưởng mức án nhẹ nhất, xin được cải tạo tại địa phương.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về tính hợp pháp của các hành vi, quyết định tố tụng: Hành vi, Quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Đồng Hỷ, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Tại phiên tòa Hội đồng xét xử, Thư ký, Kiểm sát viên tiến hành tố tụng chấp hành đúng quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Về hành vi phạm tội của bị cáo: Lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa là khách quan, phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra về thời gian, địa điểm, quá trình thực hiện hành vi phạm tội, phù hợp với lời khai của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án, người làm chứng, phù hợp với các chứng cứ, tài liệu khác được thu thập hợp lệ có trong hồ sơ vụ án. Như vậy, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở khẳng định: Do có nhu cầu cần vốn để làm ăn nên khoảng tháng 9 đến tháng 11 năm 2023, Nguyễn Thị Đ đã thông qua mạng xã hội Facebook, cung cấp thông tin để thuê làm giả giấy chứng nhận quyền sử dụng đất với giá 12.000.000₫ (Mười hai triệu đồng). Sau khi có giấy chứng nhận quyền sử dụng đất giả, ngày 09/11/2023, Đ đã làm thủ tục vay vốn 200.000.000đ tại Ngân hàng N2 chi nhánh huyện Đ2 với hình thức bảo đảm tiền vay: Cho vay không có bảo đảm tài sản và sử dụng giấy chứng nhận quyền sử dụng đất quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số BL693369 (Là GCNQSDĐ mà Đài đặt làm qua mạng là tài sản giữ hộ. Ngày 19/02/2024 Đ đã thanh toán tiền lãi khoản vay theo thoả thuận định kỳ 3 tháng, số tiền lãi 6.223.562₫.

Do vậy, hành vi của bị cáo đủ yếu tố cấu thành tội “Sử dụng tài liệu giả của cơ quan tổ chức”, theo quy định tại khoản 1 Điều 341 Bộ luật hình sự.

Nội dung điều luật quy định như sau:

“1. Người nào sử dụng tài liệu... của cơ quan, tổ chức... sử dụng... tài liệu... giả thực hiện hành vi trái pháp luật, thì bị phạt tiền từ 30.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng, phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 02 năm.

...”

Bản Cáo trạng số 08/CT-VKSĐH, ngày 13/01/2025 và bản luận tội của Viện kiểm sát nhân dân huyện Đồng Hỷ truy tố Nguyễn Thị Đ theo tội danh và điều luật nêu trên là có căn cứ.

[3] Về tính chất, mức độ của hành vi phạm tội, các tình tiết tăng nặng, giảmnhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo: Bị cáo phạm tội thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, hành vi của bị cáo đã xâm phạm đến hoạt động bình thường của cơ quan Nhà nước trong hoạt động quản lý hành chính, gây ảnh hưởng xấu đến tình hình an ninh, trật tự tại địa phương. Bị cáo phải chịu trách nhiệm về hành vi phạm tội của mình.

Xét nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đốivới bị cáo, Hội đồng xét xử thấy: Bị cáo xuất thân từ người dân lao động, có trình độ học vấn thấp, có nhân thân tốt, không có tiền án, tiền sự, nhất thời phạm tội, bị cáo phạm tội lần đầu thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, trong quá trình điều tra, truy tố và tại phiên toà hôm nay khai báo thành khẩn, tỏ ra ăn năn hối cải. Bị cáo có bố đẻ là ông Nguyễn Quốc T là người có công với cách mạng, được tặng thưởng huy chương kháng chiến hạng nhất, thuộc đối tượng bị nhiễm chất độc hoá học. Vì vậy bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự. Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nào quy định tại Điều 52 Bộ luật hình sự.

[4] Về hình phạt: Xét về nhân thân bị cáo thấy bị cáo có nhân thân tốt, có nơi cư trú ổn định, phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, có nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, sau khi phạm tội đã thực sự thành khẩn khai báo và tỏ ra ăn năn hối cải, bị cáo có 02 con nhưng một con của bị cáo bị khuyết tật trí tuệ nặng (Bại não), 01 con bị cáo bị tim bẩm sinh, thường xuyên ốm đau, đi viện. Do vậy, xét không cần cách ly bị cáo khỏi xã hội mà cho bị cáo cải tạo tại địa phương cũng đủ tác dụng giáo dục đối với bị cáo và răn đe phòng ngừa chung.

Về hình phạt bổ sung: Hành vi phạm tội của bị cáo không nhằm mục đích lợi nhuận hoặc thu lời bất chính nên không cần thiết áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo theo quy định tại khoản 4 Điều 341 Bộ luật hình sự.

Xét đề nghị của Kiểm sát viên tại phiên tòa thấy phù hợp, cần chấp nhận.

[5] Về vật chứng: 05 giấy CNQSD đất giả là căn cứ chứng minh hành vi phạm tội của bị cáo, cần tiếp tục lưu trong hồ sơ vụ án. 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu OPPO A15S, vỏ mầu xanh, lắp số thuê bao 0384.587.706, máy đã cũ qua sử dụng bị cáo sử dụng vào việc phạm tội cần tịch thu nộp ngân sách nhà nước.

[6] Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định.

[7] Về quyền kháng cáo: Bị cáo, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án được quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

[8] Các vấn đề khác: Trong vụ án này đối với việc Đ sử dụng GCNQSDĐ giả vay vốn Ngân hàng và việc H, L và T1 (Là họ hàng và người quen của Đ) nhờ Đ làm giúp GCNQSDĐ. Quá trình điều tra xác định Đ không có mục đích chiếm đoạt tài sản nên không cấu thành tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”

Đối với ông Cao Xuân C (Chồng của bị cáo Nguyễn Thị Đ) là người cùng bị cáo Đ mang Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất là giả đến ngân hàng để vay tiền; Tuy nhiên, ông C hoàn toàn không biết đấy là giấy tờ giả, do đó, hành vi của ông C không cấu thành tội phạm nên Cơ quan điều tra không xử lý là phù hợp.

Đối với Tạ Thị H, Lê Thị L, Hà Thị Y, do tin tưởng Đ có người quen làm được GCNQSDĐ nên đã chuyển tiền cho Đ, nhờ làm giấy GCNQSDĐ. H, L và Y không biết giấy tờ trên là giả nên hành vi không cấu thành tội phạm.

Về nguồn gốc giấy chứng nhận quyền sử dụng đất giả, Đ khai nhận đặt làm mua của một người đàn ông không quen biết, nên không đủ cơ sở để điều tra làm rõ, hành vi của Đ không trực tiếp làm giấy tờ giả nên không đủ yếu tố cấu thành tội Làm giả tài liệu của cơ quan tổ chức

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1.Về hình phạt chính: Căn cứ vào khoản 1 Điều 341; điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 65 Bộ luật hình sự.

Xử phạt Nguyễn Thị Đ 09 ( Chín ) tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 18 (Mười tám) tháng kể từ ngày tuyên án 18/03/2025 về tội “Sử dụng tài liệu giả của cơ quan tổ chức".

Giao bị cáo Nguyễn Thị Đ cho Ủy ban nhân dân xã V, huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách.

Trong trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì được thực hiện theo quy định tại khoản 3 Điều 92 Luật Thi hành án hình sự năm 2019. Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.

2. Về vật chứng: Căn cứ Điều 47 Bộ luật hình sự, Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự:

- Lưu hồ sơ vụ án 01 phong bì niêm phong bên trong có 05 Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất giả gồm:

  • + 01 giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, mang tên Nguyễn Ngọc Q, SN 1994; CCCD số: [...] H, SN 1996; CCCD số [...]. Địa chỉ thường trú: Xóm V, xã V, huyện Đ, Thái Nguyên. Số bìa BL693887, số vào sổ cấp GCN: CS19937, thửa đất số 254, tờ bản đồ số 02, diện tích 24482,7m2.
  • + 01 giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, mang tên Hà Văn P, SN 1972; CCCD số: [...]; Nguyễn Thị T1, SN 1973, CCCD số: [...] Địa chỉ thường trú: Xóm V, xã V, huyện Đ, Thái Nguyên, thửa đất số 244, tờ bản đồ số 02, diện tích 50634,2m2, số cấp GCN: CS 18583.
  • + 01 giấy chứng nhận quyền sử dụng đất mang tên Nguyễn Hữu N, SN 1981, CCCD số: [...]; Lê Thị L; SN 1984, CCCD số [...], Địa chỉ thường trú: Xóm P xã V, huyện Đ, Thái Nguyên. DE961171, thửa đất số 203, tờ bản đồ số 105.
  • + 01 giấy chứng nhận quyền sử dụng đất mang tên Nguyễn Văn T2, SN 1961, CCCD số [...]; Tạ Thị H, SN 1963, CCCD số [...], Địa chỉ thường trú xóm V, xã V, huyện Đ; BL 693757, thửa đất số 168m2, tờ bản đồ số 61.
  • + 01 giấy chứng nhận quyền sử dụng đất mang tên Cao Xuân C, SN 1982, CCCD số 0190822006566; Nguyễn Thị Đ, SN 1982, CCCD số [...], Địa chỉ thường trú xóm V, xã V, huyện Đ; BL 693369, thửa đất số 106, tờ bản đồ số 66, diện tích 426,8m2.

Tịch thu nộp ngân sách Nhà nước: 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu OPPO A15S, vỏ mầu xanh, loại 64BG, IMEL 1: 862562055664292, IMEL 2: 862562055664284, lắp số thuê bao 0384.587.706, máy đã cũ qua sử dụng.

3. Về án phí: Căn cứ Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự, Nghị quyết 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 về án phí, lệ phí; buộc bị cáo Nguyễn Thị Đ phải nộp 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

4. Về quyền kháng cáo: Căn cứ Điều 331, Điều 333 Bộ luật tố tụng hình sự.

Bị cáo có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt, có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tống đạt bản án hoặc ngày bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.

Nơi nhận:

  • - VKSND tỉnh Thái Nguyên;
  • - TAND tỉnh Thái Nguyên;
  • - Sở tư pháp tỉnh Thái Nguyên;
  • - VKSND huyện Đồng Hỷ;
  • - Cơ quan THAHS CA tỉnh TN;
  • - THADS huyện Đồng Hỷ;
  • - THA phạt tù;
  • - Bị cáo, NLQ;
  • - Lưu hồ sơ.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Châm Thị Vân Khánh

THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬTHẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
Châm Thị Vân Khánh

Bị hại là chị H3 và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án vắng mặt có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tống đạt bản án hoặc ngày bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 14/2025/HS-ST ngày 18/03/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐỒNG HỶ, TỈNH THÁI NGUYÊN về sử dụng tài liệu giả của cơ quan tổ chức

  • Số bản án: 14/2025/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Sử dụng tài liệu giả của cơ quan tổ chức
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 18/03/2025
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐỒNG HỶ, TỈNH THÁI NGUYÊN
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Đ sử dụng tài liệu giả
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger