Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ CHŨ

TỈNH BẮC GIANG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 14/2025/HS-ST

Ngày: 18-3-2025

 

—————

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ CHŨ, TỈNH BẮC GIANG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Ngọc Minh.

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Mạc Vương Long.

Ông Phạm Văn Chữ.

- Thư ký phiên tòa: Ông Phan Văn Nam, Thư ký Tòa án nhân dân thị xã Chũ, tỉnh Bắc Giang.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Chũ, tỉnh Bắc Giang tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Tuyển, Kiểm sát viên.

Ngày 18 tháng 3 năm 2025 tại điểm cầu trung tâm Tòa án nhân dân tỉnh Bắc Giang và điểm cầu thành phần Trại tạm giam Công an tỉnh B, Tòa án nhân dân thị xã Chũ, tỉnh Bắc Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 17/2025/TLST-HS ngày 28 tháng 02 năm 2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử sơ thẩm số: 12/2025/QĐXXST-HS ngày 03 tháng 3 năm 2025, đối với bị cáo:

Họ và tên: Nguyễn Văn P, sinh ngày 27 tháng 9 năm 1997; Tên gọi khác: Không; Quê quán: huyện L, tỉnh Bắc Giang; Nơi thường trú: Thôn X, xã B, huyện L, tỉnh Bắc Giang; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hoá: 8/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Nguyễn Văn V và bà Dương Thị H; Vợ, con: Chưa có.

Tiền án:

  • Tại Bản án số 63/2023/HSST ngày 23/5/2023 của Tòa án nhân dân huyện Lục Ngạn, tỉnh Bắc Giang xử phạt 07 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”. P chấp hành xong hình phạt tù ngày 27/10/2023.

  • Tại Bản án số 07/2024/HSST ngày 17/01/2024 của Tòa án nhân dân huyện Lục Ngạn, tỉnh Bắc Giang xử phạt 01 năm tù về tội “Trộm cắp tài sản”. P chấp hành xong hình phạt tù ngày 28/11/2024.

Tiền sự: Tại quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 136/QĐ-XPHC ngày 07/12/2022 của Chủ tịch UBND xã N, huyện L (nay là thị xã C), tỉnh Bắc Giang xử phạt 2.500.000 đồng về hành vi “Trộm cắp tài sản”. Đến thời điểm phạm tội này, P chưa chấp hành khoản tiền phạt nêu trên.

Bị cáo bị bắt quả tang, bị tạm giữ, tạm giam kể từ ngày 26/12/2024, hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh B (có mặt tại điểm cầu thành phần).

- Bị hại: Anh Vũ Trung H1, sinh năm 1989 (vắng mặt, có đơn xin vắng mặt).

Nơi cư trú: Thôn H, xã N, thị xã C, tỉnh Bắc Giang.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

  1. Phạm Quang A, thị xã C, tỉnh Bắc Giang (vắng mặt, có đơn xin vắng mặt).

  2. Nơi cư trú: Thôn B, xã N, thị xã C, tỉnh Bắc Giang.

  3. Anh Nguyễn Văn H2, sinh năm 1987 (vắng mặt).

  4. Nơi cư trú: Thôn Đ, xã T, huyện S, tỉnh Bắc Giang.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Nguyễn Văn P là đối tượng có tiền án, tiền sự về tội “Trộm cắp tài sản” chưa được xóa án tích. P quen biết từ trước với Phạm Quang A (tên gọi khác là K). Khoảng 11 giờ 30 phút, ngày 26/12/2024, P đang ở khu vực chợ C thị trấn C, huyện L (nay là phường C, thị xã C) thì gặp Phạm Quang A. Sau đó, Quang A điều khiển xe mô tô biển kiểm soát 98N2-4376 chở P đi về phía xã N. Trên đường đi, P nhặt được 01 chiếc bao tơ dứa màu xanh. Khi đi đến khu vực vườn cam, loại cam đường canh của gia đình anh Vũ Trung H1; P nhìn thấy cam trong vườn đã chín, không có người trông coi nên nảy sinh ý định trộm cắp quả cam để bán lấy tiền chi tiêu cá nhân. P bảo Quang A dừng xe ở rìa đường cạnh vườn cam của gia đình anh H1 rồi P đi bộ, cầm theo bao tơ dứa xuống vườn để hái trộm cam, còn Quang A đứng đợi. Khi xuống vườn cam, P dùng tay hái quả cam cho vào bao tơ dứa trong khoảng 15 phút thì không hái nữa và xách bao tơ dứa đi ra chỗ Quang A đứng đợi. Khi P vừa cầm bao tơ dứa đi ra thì bị anh H1 và Công an xã N phát hiện, bắt quả tang, thu giữ 01 bao tơ dứa đựng quả cam, loại cam đường canh, có trọng lượng 27kg; còn Quang A phóng xe bỏ chạy.

Quá trình điều tra, Cơ quan điều tra thu giữ của Phạm Quang A 01 xe mô tô nhãn hiệu Angel, màu xanh xám, biển kiểm soát 98N2-4376 và 01 đăng ký xe mô tô mang tên Nguyễn Văn H2.

Tại bản Kết luận định giá tài sản số 146/KL-HĐĐGTS ngày 30/12/2024 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện L kết luận: 27kg quả cam, loại cam đường canh, đang trong vụ thu hoạch trị giá 1.485.000 đồng.

Đối với Phạm Quang A có hành vi trộm cắp tài sản cùng Nguyễn Văn P, giá trị tài sản trộm cắp là 1.485.000 đồng; Phạm Quang A chưa có tiền án, tiền sự về hành vi chiếm đoạt tài sản nên hành vi của Phạm Quang A chưa đủ yếu tố cấu thành tội phạm. Công an thị xã C đã ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính đối với Phạm Quang A về hành vi “Trộm cắp tài sản” với số tiền 2.500.000 đồng.

Về trách nhiệm dân sự: Anh Vũ Trung H1 đã nhận lại tài sản bị trộm cắp là 27kg quả cam và không yêu cầu P bồi thường gì.

Vật chứng vụ án: Đối với 01 xe mô tô nhãn hiệu ANGEL, biển kiểm soát 98N2-4376; 01 đăng ký xe mô tô biển số đăng ký 98N2-4376 mang tên Nguyễn Văn H2 và 01 bao dứa màu xanh được chuyển đến Chi cục Thi hành án dân sự thị xã Chũ để xử lý theo quy định.

* Từ những nội dung nêu trên, bản Cáo trạng số 19/CT-VKS ngày 28 tháng 02 năm 2025 của Viện kiểm sát nhân dân thị xã Chũ, tỉnh Bắc Giang đã truy tố bị cáo Nguyễn Văn P về tội “Trộm cắp tài sản” quy định tại điểm a, điểm b khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự.

* Tại phiên tòa, bị cáo Nguyễn Văn P đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như bản Cáo trạng đã truy tố. Hội đồng xét xử đã công bố lời khai của những người vắng mặt. Bị cáo không có ý kiến gì về lời khai của những người này.

Tại phần tranh luận, đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Chũ, tỉnh Bắc Giang vẫn giữ nguyên quan điểm như bản Cáo trạng đã truy tố đối với bị cáo Nguyễn Văn P, đề nghị Hội đồng xét xử: Áp dụng điểm a, điểm b khoản 1 Điều 173; điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38 Bộ luật Hình sự. Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn P từ 15 (mười lăm) tháng đến 18 (mười tám) tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo bị tạm giữ, tạm giam (từ ngày 26/12/2024). Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

Về xử lý vật chứng:

  • Trả lại Phạm Quang A (tên gọi khác: K): 01 (một) xe mô tô nhãn hiệu ANGEL, biển kiểm soát 98N2-4376, 01 (một) giấy đăng ký xe mô tô biển số đăng ký 98N2-9376.

  • Tịch thu tiêu hủy: 01 (một) bao dứa màu xanh.

Ngoài ra còn đề nghị về án phí đối với bị cáo.

Bị cáo không tranh luận gì đối với đại diện Viện kiểm sát. Thực hiện lời nói sau cùng, bị cáo xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ cho bị cáo được hưởng mức án nhẹ nhất.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện L (nay là thị xã C), Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Lục Ngạn (nay là thị xã C), Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và bị hại không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Về sự vắng mặt của những người tham gia tố tụng: Tại phiên tòa, bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt. Hội đồng xét xử thấy trong hồ sơ đã có đầy đủ lời khai thể hiện quan điểm của những người này và sự vắng mặt của họ không gây ảnh hưởng đến việc xét xử. Căn cứ vào Điều 292 của Bộ luật Tố tụng hình sự, Hội đồng xét xử quyết định xét xử vắng mặt những người này.

[3] Về hành vi của bị cáo theo nội dung bản Cáo trạng truy tố: Xét lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa là phù hợp với lời khai của bị cáo tại Cơ quan Cảnh sát điều tra, phù hợp với lời khai của bị hại, kết luận định giá tài sản cùng các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Do đó có đủ cơ sở kết luận: Nguyễn Văn P là đối tượng có tiền án, tiền sự về tội “Trộm cắp tài sản” chưa được xóa án tích. Ngày 26/12/2024, P có hành vi trộm cắp 27kg cam đường canh, trị giá 1.485.000 đồng của gia đình anh Vũ Trung H1. Khi P đang vận chuyển số cam trên mang đi tiêu thụ thì anh H1 cùng Công an xã N phát hiện, bắt quả tang. Bị cáo là người có năng lực pháp luật hình sự đầy đủ, đã lợi dụng sơ hở của bị hại để thực hiện hành vi phạm tội. Bị cáo nhận thức được hành vi của mình là vi phạm pháp luật nhưng vẫn thực hiện với lỗi cố ý. Mặc dù trị giá tài sản bị trộm cắp dưới 2.000.000 đồng nhưng bị cáo đã bị xử phạt hành chính và bị kết án về tội “Trộm cắp tài sản”, chưa được xóa án tích mà lại tiếp tục vi phạm. Như vậy, hành vi của bị cáo đủ yếu tố cấu thành tội “Trộm cắp tài sản” quy định tại điểm a, b khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự. Hội đồng xét xử thấy Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thị xã Chũ, tỉnh Bắc Giang truy tố bị cáo về tội “Trộm cắp tài sản” quy định tại điểm a, b khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự là đúng người, đúng tội và đúng quy định pháp luật.

[4] Về tính chất của vụ án: Hành vi phạm tội của bị cáo thuộc trường hợp ít nghiêm trọng nhưng đã xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của người khác được pháp luật bảo vệ, gây mất trật tự trị an tại địa phương. Do vậy cần phải xử lý nghiêm bị cáo bằng pháp luật hình sự mới đảm bảo tính giáo dục riêng và phòng ngừa tội phạm nói chung. Tuy nhiên khi lượng hình, Hội đồng xét xử cũng xem xét nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự để quyết định mức án phù hợp với hành vi phạm tội của bị cáo.

[5] Về nhân thân bị cáo thấy: Bị cáo là người có nhân thân xấu, đã bị xử phạt hành chính và nhiều lần bị xét xử về tội “Trộm cắp tài sản”.

[6] Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự thấy: Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự quy định tại Điều 52 Bộ luật Hình sự.

[7] Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong quá trình điều tra, truy tố và xét xử tại phiên tòa, thấy rằng bị cáo có thái độ khai báo thành khẩn, tỏ ra ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình. Do đó, cần cho bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

[8] Về mức hình phạt đối với bị cáo, Hội đồng xét xử thấy: Để có tiền chi tiêu cá nhân, bị cáo đã lợi dụng sự sơ hở chủ sở hữu để thực hiện hành vi trộm cắp tài sản. Bản thân bị cáo đã nhiều lần bị xét xử về tội “Trộm cắp tài sản”, chưa được xóa án tích nhưng bị cáo không lấy đó làm bài học, tiếp tục phạm tội với lỗi cố ý. Điều đó thể hiện bị cáo là người khó cải tạo và coi thường pháp luật nên cần thiết phải cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian như đề nghị của đại diện Viện kiểm sát để cải tạo bị cáo thành công dân tốt, có ích cho xã hội.

[9] Về hình phạt bổ sung, theo quy định tại khoản 5 Điều 173 Bộ luật Hình sự thì bị cáo có thể bị áp dụng hình phạt bổ sung là hình phạt tiền. Tuy nhiên, theo các tài liệu, chứng cứ và lời khai của bị cáo tại phiên tòa đều cho thấy bị cáo không có công việc ổn định, không có tài sản đáng giá nên Hội đồng xét xử quyết định không áp dụng hình phạt bổ sung bằng tiền đối với bị cáo như đề nghị của đại diện Viện kiểm sát là có căn cứ.

[10] Về trách nhiệm dân sự: Quá trình điều tra, bị hại là anh Vũ trung H1 đã được nhận lại tài sản bị trộm cắp và không yêu cầu bị cáo bồi thường gì thêm. Do vậy, Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét, giải quyết.

[11] Về xử lý vật chứng: Đối với 01 (một) xe mô tô nhãn hiệu ANGEL, biển kiểm soat 98N2-4376, 01 (một) giấy đăng ký xe mô tô biển kiểm soát 98N2-9376, quá trình điều tra xác định là tài sản của Phạm Quang A (tên gọi khác: K), Quang A nên cần trả lại Quang A theo quy định tại khoản 3 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự. Đối với 01 (một) bao dứa màu xanh không có giá trị nên cần tịch thu tiêu hủy theo quy định tại điểm c khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.

[12] Về những vấn đề khác: Đối với Phạm Quang A (tên gọi khác: K) có hành vi trộm cắp tài sản cùng bị cáo Nguyễn Văn P. Tuy nhiên, trị giá tài sản trộm cắp dưới 2.000.000 đồng, Phạm Quang A chưa có tiền án, tiền sự và chưa bị xử phạt hành chính về hành vi chiếm đoạt tài sản. Do vậy, hành vi của Phạm Quant Al chưa đủ yếu tố cấu thành tội “Trộm cắp tài sản”. Trưởng Công an thị xã C đã ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 22 ngày 25/02/2025 đối với Phạm Quang A, phạt tiền 2.500.000 đồng về hành vi “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại điểm a, khoản 1 Điều 15 Nghị định 144/2021/NĐ-CP ngày 31/12/2021 của Chính phủ quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực an ninh, trật tự, an toàn xã hội; phòng, chống tệ nạn xã hội; phòng cháy, chữa cháy; cứu nạn, cứu hộ; phòng, chống bạo lực gia đình là có căn cứ.

[11] Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định tại Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

[12] Nội dung bản Luận tội của đại diện Viện kiểm sát phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên cần chấp nhận.

[13] Về quyền kháng cáo: Bị cáo, bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan được quyền kháng cáo bản án theo quy định tại Điều 331, Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Áp dụng điểm a, điểm b, khoản 1 Điều 173, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38, Điều 47 của Bộ luật Hình sự; Điều 106, Điều 136, Điều 292, Điều 331, Điều 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, tuyên xử:

1. Về trách nhiệm hình sự: Xử phạt Nguyễn Văn P 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”. Thời hạn tù tính từ ngày bị tạm giữ, tạm giam (ngày 26/12/2024). Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

2. Về xử lý vật chứng:

  • Trả lại Phạm Quang A (tên gọi khác: K): 01 (một) xe mô tô nhãn hiệu ANGEL, biển kiểm soát 98N2-4376, 01 (một) giấy đăng ký xe mô tô biển số đăng ký 98N2-9376, số máy: VMVDABH000176, số khung: RLGMC11HH8H000176.

  • Tịch thu tiêu hủy: 01 (một) bao dứa màu xanh.

(Vật chứng được bàn giao theo Biên bản giao nhận vật chứng ngày 27/02/2025 giữa Công an thị xã C, tỉnh Bắc Giang và Chi cục Thi hành án dân sự thị xã Chũ, tỉnh Bắc Giang).

3. Về án phí: Bị cáo Nguyễn Văn P phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

4. Về quyền kháng cáo: Bị cáo có mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm. Bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết công khai.

Nơi nhận:

  • TAND tỉnh Bắc Giang;

  • VKSND tỉnh Bắc Giang;

  • VKSND thị xã Chũ;

  • Cơ quan CSĐT Công an tỉnh Bắc Giang;

  • Chi cục THADS thị xã Chũ;

  • Sở Tư pháp tỉnh Bắc Giang;

  • UBND xã nơi bị cáo cư trú;

  • Bị cáo, bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan;

  • Lưu: Văn phòng, hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

(đã ký)

Nguyễn Ngọc Minh

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 14/2025/HS-ST ngày 18/03/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ CHŨ, TỈNH BẮC GIANG về trộm cắp tài sản

  • Số bản án: 14/2025/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 18/03/2025
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ CHŨ, TỈNH BẮC GIANG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Nguyễn Văn P là đối tượng có tiền án, tiền sự về tội “Trộm cắp tài sản” chưa được xóa án tích. Ngày 26/12/2024, P có hành vi trộm cắp 27kg cam đường canh, trị giá 1.485.000 đồng của gia đình anh Vũ Trung H1. Khi P đang vận chuyển số cam trên mang đi tiêu thụ thì anh H1 cùng Công an xã N phát hiện, bắt quả tang
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger