Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN VĂN LÃNG

TỈNH LẠNG SƠN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 14/2025/HS-ST

Ngày 18-3-2025

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN VĂN LÃNG, TỈNH LẠNG SƠN

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Nguyễn Thị Hằng.

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Phạm Minh Hải;

Bà Nguyễn Thị Lợi.

- Thư ký phiên toà: Bà Ba Thị Thanh Huyền - Thư ký Toà án nhân dân huyện Văn Lãng, tỉnh Lạng Sơn.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Văn Lãng, tỉnh Lạng Sơn tham gia phiên toà: Ông Phạm Đăng Bằng và ông Hoàng Văn Quyền - Kiểm sát viên.

Ngày 18 tháng 3 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Văn Lãng, tỉnh Lạng Sơn xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 09/2025/TLST-HS ngày 25 tháng 02 năm 2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 13/2025/QĐXXST-HS ngày 03 tháng 3 năm 2025 và Quyết định thay đổi Hội thẩm số 06/2025/QĐ-TA ngày 03/3/2025 đối với bị cáo:

Lường Văn T; sinh ngày 12 tháng 12 năm 2001 tại tỉnh Sơn La. Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú và chỗ ở: Bản Lạnh, xã T, huyện T, tỉnh Sơn La; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: 09/12; dân tộc: Thái; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Lường Văn K (sinh năm 1982) và bà Lò Thị T1 (sinh năm 1982); vợ, con: Chưa có; tiền án, tiền sự: Không có; nhân thân: Chưa bị kết án, chưa bị xử phạt vi phạm hành chính, chưa bị xử lý kỷ luật; bị tạm giữ ngày 15/12/2024, tạm giam từ ngày 18/12/2024 đến nay. Có mặt.

- Bị hại:

  1. Anh Vì Văn K1, sinh năm 1986; địa chỉ: Bản C, xã N, huyện S, tỉnh Sơn La. Vắng mặt.
  2. Anh Dương Văn K2, sinh năm 1991; địa chỉ: Thôn N, xã T, huyện V, tỉnh Lạng Sơn. Vắng mặt.
  3. Anh Lê Quý T2, sinh năm 1980; địa chỉ: Thôn B, xã T, huyện V, tỉnh Lạng Sơn. Vắng mặt.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án: Chị Lò Thị T1; sinh năm 1982; địa chỉ: Bản L, xã T, huyện T, tỉnh Sơn La. Có mặt.

- Người làm chứng: Anh Lò Văn T3, sinh năm 1988. Vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng tháng 8 năm 2024, bị cáo Lường Văn T sử dụng 02 tài khoản facebook có tên “Thành Chípp” và “Thành Công”, đăng ký nơi sinh sống ở Hải Phòng để che giấu nơi ở thật và 01 tài khoản zalo tên “Thành Chípp” đăng ký số điện thoại 0362.988.xxx để tham gia hội nhóm facebook "Cá suối các loại". Lường Văn Thành tải các hình ảnh, video trên hội nhóm này về điện thoại cá nhân rồi đăng lại hình ảnh, video đó lên nhóm. Bị cáo Lường Văn T để lại số điện thoại 0362.988.xxx, rao bán cá bống trên hội nhóm mặc dù thực tế không có cá để bán, mục đích lừa đảo chiếm đoạt tài sản. Khi có khách tìm mua cá, bị cáo đưa ra các thông tin để khách tin tưởng là Lường Văn T có cá bán và yêu cầu khách đặt cọc chuyển khoản tiền mua cá vào tài khoản Ngân hàng Thương mại cổ phần C (V1), số tài khoản 109880696983, chủ tài khoản Lường Văn T. Sau khi nhận được tiền cọc, bị cáo Lường Văn T không gửi cá mà chiếm đoạt tài sản để tiêu sài cá nhân và chặn liên lạc với khách hàng. Với phương thức, thủ đoạn như trên bị cáo Lường Văn T đã lừa đảo chiếm đoạt tài sản của 03 người, cụ thể:

Lần 01: Ngày 28/8/2024, anh V Văn K1 sử dụng tài khoản facebook "Vì K1" kết bạn và nhắn tin với Lường Văn T đặt 35 kilôgam cá bống suối với giá 90.000 đồng/kilôgam qua tài khoản zalo "Thành Chípp". Bị cáo bớt cho anh Vì Văn K1 100.000 đồng, tổng số tiền Vì Văn K1 chuyển khoản cho bị cáo vào tài khoản 109880696983 Ngân hàng V1 của Lường Văn T là 3.050.000 đồng. Bị cáo Lường Văn T đã gửi hình ảnh cá bống suối được đóng trong thùng xốp cho Vì Văn K1 để tạo lòng tin. Thực tế, do không có cá nên Lường Văn T đã mua 05 túi đá lạnh đóng vào thùng xốp, ghi người nhận "A Khởi, số điện thoại 0975.153.xxx, ĐC: BV 500 giường" rồi gửi xe bus T - thành phố S, biển kiểm soát 26F-007.64 do anh Lò Văn T3 điều khiển. Sau khi nhận được 01 thùng xốp, anh Vì Văn K1 mở ra kiểm tra chỉ có 05 túi đá lạnh, không phải cá bống suối nên đã gọi cho Lường Văn T nhiều lần nhưng Lường Văn T không nghe máy và chặn liên lạc.

Lần 02: Ngày 23/11/2024, anh Dương Văn K2 sử dụng tài khoản facebook "Dương K2" nhắn tin với Lường Văn T đặt mua 30 kilôgam cá bống suối với giá 110.000 đồng/kilôgam qua tài khoản facebook "Thành Chípp", tổng số tiền là 3.300.000 đồng. Ban đầu, bị cáo yêu cầu anh Dương Văn K2 đặt cọc số tiền 2.500.000 đồng, anh Dương Văn K2 đồng ý và đã chuyển khoản 2.500.000 đồng đến tài khoản 109880696983 Ngân hàng V1 của Lường Văn T. Đến ngày 24/11/2024, bị cáo lấy lý do "phải chuyển đủ tiền cho chủ cá thì mới có cá", anh Dương Văn K2 đồng ý và chuyển tiếp cho Lường Văn T số tiền 800.000 đồng. Sau khi nhận được số tiền 3.300.000 đồng, Lường Văn T đã chặn liên lạc với anh Dương Văn K2.

Lần 03: Ngày 05/12/2024, thông qua mạng xã hội facebook, anh Lê Quý T2 cung cấp số điện thoại 0977.275.xxx đăng ký tài khoản zalo tên “Ngọc A” của bản thân cho Lường Văn T đặt mua cá bống suối với giá 100.000 đồng/kilôgam. Ngày 06/12/2024, Lê Quý T2 đặt 30 kilôgam cá bống, tương ứng với tổng số tiền là 3.000.000 đồng. Bị cáo yêu cầu Lê Quý T2 đặt cọc, đồng ý và đã chuyển số tiền 2.500.000 đồng đến tài khoản 109880696983 Ngân hàng V1 của Lường Văn T, còn số tiền 500.000 đồng thì sau khi nhận hàng Lê Quý T2 sẽ thanh toán cho Lường Văn T qua nhà xe. Sau khi chuyển tiền, Lê Quý T2 yêu cầu Lường Văn T gửi số điện thoại của nhà xe để Lê Quý T2 liên lạc thì Lường Văn T lấy lý do gửi nhiều hàng nên quên không lấy số điện thoại nhà xe và bảo Lê Quý T2 khi đến nơi nhà xe sẽ gọi cho Lê Quý T2. Đến ngày 07/12/2024, Lê Quý T2 vẫn không thấy ai gọi điện để giao hàng, liên lạc với Lường Văn T thì Lường Văn T yêu cầu Lê Quý T2 chuyển nốt số tiền 500.000 đồng thì mới chuyển hàng, nhưng Lê Quý T2 không đồng ý. Sau đó, Lường Văn T không chuyển cá cho Lê Quý T2 và chặn liên lạc với Lê Quý T2.

Quá trình điều tra, các bị hại anh Vì Văn K1, anh Dương Văn K2, anh Lê Quý T2 khai đã được gia đình bị cáo bồi thường toàn bộ các khoản tiền thiệt hại và có đơn xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo, không có yêu cầu gì thêm.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án chị Lò Thị T1 khai: Chị là mẹ đẻ của Lường Văn T. Sau khi bị bắt, bị cáo đã nhờ gia đình bồi thường, khắc phục trả lại toàn bộ tiền chiếm đoạt cho các bị hại. Chị không yêu cầu Lường Văn T phải trả lại chị số tiền này và không có ý kiến gì khác.

Người làm chứng anh Lò Văn T3 khai: Anh là lái xe khách tuyến T - thành phố S, biển kiểm soát 26F-007.64. Thời gian đã lâu anh không nhớ rõ, anh có được nhận 01 thùng xốp trắng từ một thanh niên không quen biết từ xã T, huyện T, tỉnh Sơn La về cổng chùa cạnh Bệnh viện đa khoa tỉnh S. Khi nhận anh không kiểm tra hàng và không biết trong thùng xốp chứa gì. Sau khi anh Lò Văn T3 giao hàng khoảng 02 tiếng thì có người điện thoại cho anh nói rằng họ bị lừa bán cá bống, không gửi cá bống mà lại gửi đá lạnh đóng túi.

Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo thành khẩn khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như đã nêu trên. Bị cáo đã tác động gia đình bồi thường xong cho các bị hại. Chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 7 Plus, bên trong có lắp 01 sim V2, số thuê bao 0362988260 là của bị cáo sử dụng để liên hệ với các bị hại qua các phần mềm zalo, facebook.

Tại Cáo trạng số 15/CT-VKSVL ngày 24/02/2025 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Văn Lãng, tỉnh Lạng Sơn truy tố bị cáo Lường Văn T về tội Lừa đảo chiếm đoạt tài sản theo quy định tại khoản 1 Điều 174 của Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên quyết định truy tố, đề nghị Hội đồng xét xử: Áp dụng khoản 1 Điều 174; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52; Điều 38, Điều 50 của Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo từ 01 năm đến 01 năm 03 tháng tù về tội Lừa đảo chiếm đoạt tài sản. Không áp dụng hình phạt bổ sung do bị cáo không có thu nhập ổn định, không có tài sản có giá trị. Về vật chứng: Áp dụng điểm a khoản 2 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự, đề nghị tịch thu sung ngân sách Nhà nước 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 7 Plus, màu bạc, kèm 01 sim. Về trách nhiệm dân sự: Xác nhận bị cáo đã thực hiện bồi thường xong cho các bị hại. Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm và có quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

Bị cáo không có ý kiến tranh luận với đại diện Viện kiểm sát. Lời nói sau cùng bị cáo hối hận về hành vi phạm tội của mình và xin được giảm nhẹ hình phạt để sớm trở về với gia đình và xã hội.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

  1. [1] Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử đã thực hiện đúng quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự về thẩm quyền, trình tự, thủ tục. Các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
  2. [2] Tại phiên tòa, các bị hại, người làm chứng vắng mặt không có lý do nhưng đã có đầy đủ lời khai trong quá trình điều tra. Xét thấy, sự vắng mặt của những người này không gây trở ngại đến việc xét xử, giải quyết vụ án nên Hội đồng xét xử vẫn tiến hành xét xử vụ án theo quy định tại khoản 1 Điều 292 và khoản 1 Điều 293 của Bộ luật Tố tụng hình sự.
  3. [3] Lời khai của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, phù hợp với lời khai của người tham gia tố tụng khác và phù hợp với các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa. Do đó, đủ căn cứ kết luận: Từ tháng 8/2024 đến tháng 12/2024, bị cáo Lường Văn T đã sử dụng mạng xã hội facebook và zalo, bằng các thủ đoạn gian dối như đăng tải các hình ảnh quảng cáo, rao bán cá bống suối mà thực tế bị cáo không có cá bống suối để bán, gửi túi đá thay mặt hàng cá bống suối cho các bị hại... Sau khi nhận được tiền của các bị hại gửi mua cá, bị cáo chặn liên lạc với họ nhằm chiếm đoạt tiền của các bị hại. Bị cáo đã 03 lần thực hiện hành vi lừa đảo chiếm đoạt tài sản với 03 người, tổng số tiền chiếm đoạt là 8.850.000 đồng.
  4. [4] Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của người khác, gây mất trật tự, an toàn xã hội, gây hoang mang trong quần chúng nhân dân. Bị cáo là người có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, nhận thức rõ hành vi lừa đảo chiếm đoạt tài sản là vi phạm pháp luật nhưng vẫn cố ý thực hiện.
  5. [5] Từ những phân tích trên có đủ cơ sở kết luận bị cáo Lường Văn T phạm tội Lừa đảo chiếm đoạt tài sản theo quy định tại khoản 1 Điều 174 của Bộ luật Hình sự. Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Văn Lãng, tỉnh Lạng Sơn truy tố bị cáo là có căn cứ.
  6. [6] Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo 03 lần thực hiện hành vi phạm tội, mỗi lần đều đủ yếu tố cấu thành tội phạm nên thuộc trường hợp phạm tội hai lần trở lên. Do đó, bị cáo phải chịu tình tiết tăng nặng theo quy định tại điểm g khoản 1 Điều 52 của Bộ luật Hình sự.
  7. [7] Tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong quá trình điều tra và tại phiên toà bị cáo đã thành khẩn khai báo về hành vi phạm tội; bị cáo đã tác động gia đình bồi thường thiệt hại cho các bị hại; các bị hại có đơn xin giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo; bị cáo phạm tội lần đầu; là người dân tộc thiểu số nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự. Hội đồng xét xử sẽ xem xét giảm nhẹ phần nào hình phạt cho bị cáo để bị cáo được hưởng sự khoan hồng của pháp luật.
  8. [8] Về hình phạt bổ sung: Bị cáo làm nghề lao động tự do, không có thu nhập ổn định, không có tài sản giá trị. Do vậy, không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
  9. [9] Trên cơ sở xem xét tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nhân thân của bị cáo, xét thấy cần phải xử phạt bị cáo mức án nghiêm khắc, cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian mới có tác dụng cải tạo, giáo dục riêng và phòng ngừa chung. Xét đề nghị của đại diện Viện kiểm sát là phù hợp nên được chấp nhận.
  10. [10] Về xử lý vật chứng: Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự; điểm a khoản 2 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự, cần tịch thu sung Ngân sách Nhà nước 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 7 Plus, màu bạc, bên trong có lắp 01 sim Viettel, số thuê bao 0362.988.xxx, đã qua sử dụng của bị cáo Lường Văn T do đây là phương tiện bị cáo sử dụng vào hành vi phạm tội.
  11. [11] Về trách nhiệm dân sự: Do các bị hại đã được bồi thường thiệt hại, không yêu cầu gì thêm nên Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết.
  12. [12] Bị cáo bị kết án nên phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định tại khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự và điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
  13. [13] Bị cáo, các bị hại, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan đến vụ án có quyền kháng cáo bản án theo quy định tại khoản 1 Điều 331, Điều 332 và Điều 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 1 Điều 174; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52; Điều 38; điểm a khoản 1 Điều 47; Điều 50 của Bộ luật Hình sự;

Căn cứ điểm a khoản 2 Điều 106; khoản 2 Điều 136; khoản 1 Điều 292; khoản 1 Điều 293; khoản 1 Điều 331; Điều 332 và Điều 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự;

Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

  1. Về tội danh
  2. Tuyên bố bị cáo Lường Văn T phạm tội Lừa đảo chiếm đoạt tài sản.

  3. Về hình phạt
  4. Xử phạt bị cáo Lường Văn T 01 (một) năm tù, thời hạn tù tính từ ngày bị tạm giữ ngày 15/12/2024.

  5. Xử lý vật chứng
  6. Tịch thu sung vào ngân sách nhà nước: 01 (một) chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 7 Plus, màu bạc, số IMEI: 356693082877285, bên trong có lắp 01 (một) sim Viettel, số thuê bao 0362.988.xxx, đã qua sử dụng.

    (Vật chứng hiện đang lưu giữ tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Văn Lãng, tỉnh Lạng Sơn theo Biên bản giao, nhận vật chứng ngày 24/02/2025 giữa Điều tra viên thuộc Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện V, tỉnh Lạng Sơn và Chi cục Thi hành án dân sự huyện Văn Lãng, tỉnh Lạng Sơn).

  7. Án phí
  8. Bị cáo Lường Văn T phải chịu 200.000 (hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm để nộp ngân sách Nhà nước.

  9. Quyền kháng cáo
  10. Bị cáo, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan đến vụ án có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án (18/3/2025). Các bị hại có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Lạng Sơn;
  • - VKSND tỉnh Lạng Sơn;
  • - Công an tỉnh Lạng Sơn;
  • - VKSND huyện Văn Lãng;
  • - Phân trại tạm giam KV huyện Văn Lãng;
  • - Chi cục THADS huyện Văn Lãng;
  • - Bị cáo;
  • - Các bị hại;
  • - Người có QL, NVLQ;
  • - Lưu: Hồ sơ, HСТР.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Thị Hằng

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 14/2025/HS-ST ngày 18/03/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN VĂN LÃNG, TỈNH LẠNG SƠN về lừa đảo chiếm đoạt tài sản (vụ án hình sự)

  • Số bản án: 14/2025/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Lừa đảo chiếm đoạt tài sản (Vụ án Hình sự)
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 18/03/2025
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN VĂN LÃNG, TỈNH LẠNG SƠN
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: ừ tháng 8/2024 đến tháng 12/2024, bị cáo Lường Văn T đã sử dụng mạng xã hội facebook và zalo, bằng các thủ đoạn gian dối như đăng tải các hình ảnh quảng cáo, rao bán cá bống suối mà thực tế bị cáo không có cá bống suối để bán, gửi túi đá thay mặt hàng cá bống suối cho các bị hại… Sau khi nhận được tiền của các bị hại gửi mua cá, bị cáo chặn liên lạc với họ nhằm chiếm đoạt tiền của các bị hại. Bị cáo đã 03 lần thực hiện hành vi lừa đảo chiếm đoạt tài sản với 03 người, tổng số tiền chiếm đoạt là 8.850.000 đồng.
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger