Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN TAM ĐẢO

TỈNH VĨNH PHÚC

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 14/2025/HS-ST

Ngày 18 - 3 - 2025

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TAM ĐẢO, TỈNH VĨNH PHÚC

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Trần Văn Thái

Các Hội thẩm nhân dân:

Bà Trần Thị Bích Hằng

Ông Nguyễn Thành Đô

- Thư ký phiên tòa: Bà Hoàng Thu Hằng - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Tam Đảo, tỉnh Vĩnh Phúc.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tam Đảo, tỉnh Vĩnh Phúc tham gia phiên toà: Bà Đàm Thị Minh Phương - Kiểm sát viên.

Ngày 18 tháng 3 năm 2025, tại Hội trường Ủy ban nhân dân thị trấn H, huyện T, tỉnh Vĩnh Phúc, Tòa án nhân dân huyện Tam Đảo, tỉnh Vĩnh Phúc xét xử lưu động sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 03/2025/TLST-HS ngày 21 tháng 01 năm 2025, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 13/2025/QĐXXST - HS ngày 04 tháng 3 năm 2025 đối với các bị cáo:

1. Nông Văn T, sinh ngày 26/02/2003 tại xã M, huyện B, tỉnh Cao Bằng; nơi cư trú: Xóm B, xã M, huyện B, tỉnh Cao Bằng; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: 11/12; dân tộc: Nùng; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nông Văn L và bà Đặng Thị S; vợ, con: Chưa có; tiền án; tiền sự: Không.

Nhân thân: Tại Bản án số 12/HSST ngày 01/4/2021 Tòa án nhân dân huyện Bảo Lâm, tỉnh Cao Bằng xử phạt Nông Văn T 06 tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách 12 tháng về tội: “Trộm cắp tài sản”, đã nộp án phí ngày 19/5/2021. Thời điểm phạm tội T 17 tuổi 9 tháng 27 ngày, nên được coi là không có án tích.

Bị cáo bị bắt, tạm giữ, tạm giam từ ngày 01/10/2024 đến nay tại Trại tạm giam Công an tỉnh V (Có mặt).

2. Bùi Văn C, sinh ngày 08/3/1997 tại xã C, thành phố P, tỉnh Vĩnh Phúc; nơi cư trú: Thôn C, xã C, thành phố P, tỉnh Vĩnh Phúc; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: 11/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Bùi Văn T1 và bà Nguyễn Thị H (Đã chết); có vợ Nguyễn Thị L1 và 02 con; tiền án; tiền sự: Không.

Nhân thân: Tại Bản án số 68/HSST ngày 25/9/2015 Tòa án nhân dân thị xã Phúc Yên, tỉnh Vĩnh Phúc xử phạt Bùi Văn C 03 năm 03 tháng tù về tội: “Cố ý gây thương tích”. Đã nộp án phí ngày 01/12/2015. Chấp hành xong hình phạt tù ngày 15/11/2017, đã xóa án tích ngày 15/11/2018.

Bị cáo bị bắt, tạm giữ, tạm giam từ ngày 01/10/2024 đến nay tại Trại tạm giam Công an tỉnh V (Có mặt).

Người bào chữa cho bị cáo Nông Văn T: Ông Lê Văn D - Trợ giúp viên pháp lý thuộc Trung tâm trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh V (Có mặt).

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Anh Bùi Văn C1, sinh năm 1994; nơi cư trú: Thôn C, xã C, thành phố P, tỉnh Vĩnh Phúc (Có mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 18h ngày 01/10/2024, tại khu vực đường liên thôn thuộc tổ dân phố B, thị trấn H, huyện T, Công an tỉnh V bắt quả tang Bùi Văn C sinh năm 1997, ở xã C, thành phố P, tỉnh Vĩnh Phúc có hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy, thu giữ vật chứng gồm:

  • 01 túi nilon chứa tinh thể màu trắng và 02 túi nilon mỗi túi chứa 01 viên nén màu xanh được niêm phong ký hiệu A1; 01 điện thoại di động (ĐTDĐ) nhãn hiệu Vsmart màu xanh tím đã qua sử dụng, gắn 01 thẻ sim; 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave vỏ màu đỏ gắn BKS 52X2 – 5419.

* Quá trình làm việc, Bùi Văn Công K nhận số ma túy nêu trên (A1) C mua của Nông Văn T tại thị trấn K, huyện T, tỉnh Vĩnh Phúc để sử dụng.

Cơ quan cảnh sát điều tra Công an tỉnh V đã triệu tập làm việc đối với Nông Văn T sinh năm 2003, hiện nay tạm trú tại thị trấn K, huyện T, tỉnh Vĩnh Phúc theo quy định. Tại trụ sở Công an thị trấn H, huyện T, T giao nộp:

  • 01 túi nilon màu trắng, viền màu đỏ, có chứa 05 túi nilon chứa tinh thể dạng đá màu trắng; 02 túi nilon mỗi túi đều chứa 02 viên nén màu xanh; 04 túi nilon mỗi túi chứa 01 viên nén màu xanh, niêm phong ký hiệu B1; 01 ĐTDĐ nhãn hiệu Iphone 7 Plus có gắn thẻ sim 0398332788, đã qua sử dụng.

* Ngày 02/10/2024 Cơ quan cảnh sát điều tra Công an tỉnh V tổ chức khám xét khẩn cấp nơi ở, đồ vật của Nông Văn T tại quán K1 thuộc tổ dân phố Đ, thị trấn K, huyện T, tỉnh Vĩnh Phúc, kết quả: Không phát hiện, không thu giữ gì.

* Tại Cơ quan điều tra, Bùi Văn C và Nông Văn T khai nhận:

Khoảng 18h ngày 01/10/2024, do có nhu cầu sử dụng ma túy nên C đã sử dụng 01 ĐTDĐ nhãn hiệu Vsmart, lắp sim số 0964096772 gọi vào số ĐTDĐ 0398.332.xxx của Nông Văn T, nơi ĐKHKTT ở xã M, huyện B, tỉnh Cao Bằng tạm trú tại thị trấn K, huyện T, tỉnh Vĩnh Phúc, hỏi mua 01 chỉ ma túy ke và 02 viên ma túy kẹo, T đồng ý. Hai bên hẹn gặp nhau ở khu vực quán K1, ở thị trấn K, huyện T, tỉnh Vĩnh Phúc để mua bán ma túy.

Khi C điều khiển xe mô tô gắn BKS 52X2 – 5419 đến điểm hẹn, thì T bán cho C 01 chỉ ma túy ke và 02 viên ma túy kẹo với giá 2.200.000 đồng. C đúc túi ma túy vào bên trong vỏ bao thuốc lá T, đúc vào túi quần, rồi điều khiển xe mô tô nêu trên đi về nhà để sử dụng ma túy. Khi C đi về đến đoạn đường liên thôn thuộc tổ dân phố B, thị trấn H, huyện T thì bị Công an tỉnh V bắt quả tang.

* Về nguồn gốc ma túy, T khai nhận: Ngày 30/9/2024, tại khu vực đường quốc lộ thuộc địa phận huyện T (không nhớ địa chỉ cụ thể) T được 01 người đàn ông tên là Q (không biết rõ nhân thân, lai lịch) đưa cho 01 túi nilon bên trong có chứa 06 túi nilon chứa ma túy ketamine, 08 túi nilon bên trong có chứa 10 viên nén màu xanh là ma túy kẹo để bán với thỏa thuận là khi nào bán hết số ma túy trên thì Q sẽ trả tiền công cho T = 200.000 đồng.

Ngày 01/10/2024, sau khi T bán ma túy cho C, Q đã đến nơi ở gặp T lấy 2.200.000 đồng (Q chưa trả cho T 200.000 đồng).

* Về kết luận giám định ma tuý

- Ngày 05/10/2024, Phòng K2 Công an tỉnh V, kết luận:

  1. Tinh thể màu trắng có trong mẫu ký hiệu A1 gửi giám định là ma túy, có tổng khối lượng 0,8267g, loại Ketamine.
  2. 02 viên nén màu xanh có trong mẫu ký hiệu A1 gửi giám định là ma túy, có tổng khối lượng 0,7786g loại MDMA.
  3. Tinh thể màu trắng có trong mẫu ký hiệu B1 gửi giám định là ma túy, có tổng khối lượng 4,5088g, loại Ketamine.
  4. 08 viên nén màu xanh có trong mẫu ký hiệu B1 gửi giám định là ma túy, có tổng khối lượng 3,0205g, loại MDMA.

Hoàn trả A1 tinh thể = 0,6137g, A1 viên nén = 0,3015g, B1 tinh thể = 2,7469g, B1 viên nén = 1,4675g mẫu và toàn bộ bao gói.

* Đối với vụ án Nông Văn T có hành vi bán ma túy (A1) cho Bùi Văn C xảy ra tại thị trấn K, huyện T, tỉnh Vĩnh Phúc nêu trên: Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện T đã có văn bản đồng ý để CQĐT tiến hành tố tụng.

* Đối với người đàn ông tên Q có hành vi đưa ma túy cho T tại địa bàn huyện T, tỉnh Vĩnh Phúc để mang đi bán và số tiền 2.200.000 đồng đến nay không xác định được nhân thân, lai lịch, tiếp tục làm rõ xử lý sau (không truy thu 2.200.000 đồng đối với T).

Tại cơ quan điều tra, Bùi Văn C và Nông Văn T đã thành khẩn khai nhận hành vi phạm tội như trên.

Tại bản Cáo trạng số: 09/CT-VKSTĐ ngày 20 tháng 01 năm 2025, Viện kiểm sát nhân dân huyện Tam Đảo truy tố bị cáo Nông Văn T về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo điểm p khoản 2 Điều 251 Bộ luật hình sự và Bùi Văn C về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm i khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự.

Tại phiên toà, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tam Đảo luận tội đối với các bị cáo, giữ nguyên quyết định truy tố như Cáo trạng. Sau khi đánh giá tính chất mức độ hành vi phạm tội cũng như xem xét đến nhân thân, tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Nông Văn T phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”; bị cáo Bùi Văn C phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

Áp dụng điểm p khoản 2 Điều 251; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự. Xử phạt bị cáo Nông Văn T từ 07 năm 09 tháng tù đến 08 năm tù, thời hạn tù tính từ ngày bị bắt tạm giữ, tạm giam 01/10/2024.

Áp dụng điểm i khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự. Xử phạt bị cáo Bùi Văn C từ 02 năm 07 tháng tù đến 02 năm 08 tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày 01/10/2024.

Về hình phạt bổ sung: Do các bị cáo không có thu nhập ổn định nên không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.

Về xử lý vật chứng: Áp dụng khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.

  • + Tịch thu tiêu hủy số ma túy có ký hiệu A1 tinh thể = 0,6137g, A1 viên nén = 0,3015g, B1 tinh thể = 2,7469g, B1 viên nén = 1,4675g và toàn bộ bao gói được niêm phong.
  • + Tịch thu bán sung quỹ Nhà nước 01 ĐTDĐ nhãn hiệu Vsmart, gắn thẻ sim số 0964096772, là tài sản của Bùi Văn C sử dụng để phạm tội, 01 ĐTDĐ nhãn hiệu Iphone 7 Plus, gắn thẻ sim số 0398332788, là tài sản của Nông Văn T sử dụng để phạm tội, tịch thu tiêu hủy 02 thẻ sim.
  • + Đối với 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave, màu đỏ, số khung RLHHC09085Y524566, số máy HC09E5039285 (gắn BKS 52X2 – 5419), được cấp BKS hợp pháp là 22H8 – 8524, đăng ký mang tên Nguyễn Viết C2 sinh năm 1982 ở xã H, huyện S, tỉnh Tuyên Quang là tài sản của anh Bùi Văn C1 sinh năm 1994 ở xã C, thành phố P, tỉnh Vĩnh Phúc (A C1 là anh trai C), mua lại của anh C2 nhưng chưa làm thủ tục sang tên. Anh C1 cho Công mượn để đi làm, không biết C sử dụng xe để đi mua ma túy, đề nghị trả lại xe cho anh C1.
  • + Đối với 01 BKS 52X2-5419 (Anh Bùi Văn C1 khai nhận nhặt được ở trên đường rồi lắp vào xe do BKS 22H8 – 8524 đã bị rơi mất), là biển số xe mô tô của chị Nguyễn Kim T2 sinh năm 1972 ở phường L, thành phố T, TP ., bị rơi mất trong quá trình đi lại, chị T2 đã làm lại BKS, không nhận lại, đề nghị tịch thu tiêu hủy.

Các bị cáo không tranh luận gì và đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt.

Người bào chữa cho bị cáo Nông Văn T đề nghị Hội đồng xét xử xem xét đến hoàn cảnh gia đình bị cáo là hộ cận nghèo nên miễn án phí cho bị cáo và xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan anh Bùi Văn C1 đề nghị Hội đồng xét xử xem xét tuyên trả lại anh chiếc xe máy mà anh cho bị cáo Công mượn.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện T, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Tam Đảo, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng Hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Tại cơ quan điều tra cũng như tại phiên toà các bị cáo Nông Văn T và Bùi Văn C thừa nhận hành vi phạm tội của mình như nội dung Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Tam Đảo truy tố: Xét lời khai nhận tội của các bị cáo tại Cơ quan điều tra và tại phiên tòa phù hợp với nhau, phù hợp với biên bản bắt người phạm tội quả tang, phù hợp với các tài liệu, chứng cứ khác đã thu thập được có trong hồ sơ và kết quả tranh tụng thẩm tra chứng cứ tại phiên toà, nên có đủ căn cứ để chứng minh và kết luận:

Ngày 01/10/2024, tại thị trấn K, huyện T, tỉnh Vĩnh Phúc, Nông Văn T có hành vi bán trái phép cho Bùi Văn C 0,8267g ma túy Ketamine và 0,7786g ma túy MDMA để sử dụng thì bị bắt quả tang. Cùng ngày Cơ quan điều tra thu giữ của T số ma túy Ketamine = 5,3355g, 10 viên nén ma túy MDMA = 3,7991g. Xác định tỷ lệ % số ma túy 3,7991g (MDMA) so với 5g = 75,98% + 5,3355g (Ketamine) so với 20g = 26,68%. Tổng tỷ lệ phần trăm của hai chất ma túy nêu trên = 102,66%.

Xác định tỷ lệ % số ma túy C mua của T 0,7786g (MDMA) so với 5g = 15,572% + 0,8267g (Ketaminne) so với 20g = 4,1335%. Tổng tỷ lệ phần trăm của hai chất ma túy nêu trên = 19,7055%, dưới 100%.

[3] Hành vi nêu trên của bị cáo Nông Văn T đã phạm vào tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm p khoản 2 Điều 251 Bộ luật hình sự. Tội phạm và hình phạt được quy định như sau:

“2. Phạm tội trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 07 năm đến 15 năm...

p) Có 02 chất ma túy trở lên mà tổng khối lượng hoặc thể tích của các chất đó tương đương với khối lượng hoặc thể chất ma túy quy định tại một trong các điểm từ điểm h đến điểm o khoản này.”

Hành vi nêu trên của bị cáo Bùi Văn C đã phạm vào tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm i khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự. Tội phạm và hình phạt được quy định như sau:

“1. Người nào tàng trữ trái phép chất ma túy mà không nhằm mục đích mua bán, vận chuyển, sản xuất trái phép chất ma túy thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 01 năm đến 05 năm...

i) Có 02 chất ma túy trở lên mà tổng khối lượng hoặc thể tích của các chất đó tương đương với khối lượng hoặc thể tích chất ma túy quy định tại một trong các điểm từ điểm b đến điểm h khoản này.”

[4] Xét tính chất vụ án là rất nghiêm trọng, hành vi phạm tội của các bị cáo Nông Văn T và Bùi Văn C là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến chính sách về quyền quản lý của Nhà nước đối với chất ma tuý, chất gây nghiện. Từ việc bán ma túy để người khác sử dụng, tàng trữ ma túy để sử dụng không những ảnh hưởng tới sức khỏe của bị cáo mà còn gây ra nhiều tệ nạn cho xã hội. Trước tình hình các tội phạm về ma túy mặc dù đã được đấu tranh, xử lý nghiêm khắc nhưng vẫn không giảm mà có chiều hướng tăng lên, gây ra nhiều hậu quả xấu cho xã hội. Do vậy, cần phải cách ly các bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian mới có tác dụng giáo dục riêng và phòng ngừa chung.

[5] Khi quyết định hình phạt, Hội đồng xét xử có xem xét đến nhân thân và tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho các bị cáo, về nhân thân: Tại Bản án số 12/HSST ngày 01/4/2021 Tòa án nhân dân huyện Bảo Lâm, tỉnh Cao Bằng xử phạt Nông Văn T 06 tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách 12 tháng về tội “Trộm cắp tài sản”. Tại Bản án số 68/HSST ngày 25/9/2015 Tòa án nhân dân thị xã Phúc Yên, tỉnh Vĩnh Phúc xử phạt Bùi Văn C 03 năm 03 tháng tù về tội “Cố ý gây thương tích” nhưng các bị cáo không chịu tu dưỡng rèn luyện bản thân mà lại còn tiếp tục phạm tội nên cần phải xử lý nghiêm.

Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Tại cơ quan điều tra cũng như tại phiên tòa, các bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải nên được áp dụng điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự. Do vậy, xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo.

[6] Về hình phạt bổ sung: Do các bị cáo là người lao động tự do không có thu nhập ổn định nên không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.

[7] Đối với người đàn ông tên Q có hành vi đưa ma túy cho T để mang đi bán, đến nay không xác định được nhân thân, lai lịch, Cơ quan điều tra tiếp tục điều tra khi nào làm rõ xử lý sau là phù hợp.

[8] Về xử lý vật chứng: Áp dụng khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.

Tịch thu tiêu hủy số ma túy có ký hiệu A1 tinh thể = 0,6137g, A1 viên nén = 0,3015g, B1 tinh thể = 2,7469g, B1 viên nén = 1,4675g và toàn bộ bao gói được niêm phong.

Tịch thu bán sung quỹ Nhà nước 01 ĐTDĐ nhãn hiệu Vsmart, gắn thẻ sim số 0964096772 là tài sản của Bùi Văn C sử dụng vào việc phạm tội, 01 ĐTDĐ nhãn hiệu Iphone 7 Plus, gắn thẻ sim số 0398332788 là tài sản của Nông Văn T sử dụng vào việc phạm tội. Đối với hai thẻ sim cần tịch thu tiêu hủy.

Đối với 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave, màu đỏ, số khung RLHHC09085Y524566, số máy HC09E5039285 (gắn BKS 52X2 – 5419), được cấp BKS hợp pháp là 22H8 – 8524, đăng ký mang tên Nguyễn Viết C2 sinh năm 1982 ở xã H, huyện S, tỉnh Tuyên Quang là tài sản của anh Bùi Văn C1 sinh năm 1994 ở xã C, thành phố P, tỉnh Vĩnh Phúc (A C1 là anh trai C), mua lại của anh C2 nhưng chưa làm thủ tục sang tên. Anh C1 cho Công mượn để đi làm, không biết C sử dụng xe để đi mua ma túy nên trả lại cho anh C1.

Đối với 01 BKS 52X2-5419 (Anh Bùi Văn C1 khai nhận nhặt được ở trên đường rồi lắp vào xe do BKS 22H8 – 8524 đã bị rơi mất), là biển số xe mô tô của chị Nguyễn Kim T2 sinh năm 1972 ở phường L, thành phố T, TP . bị rơi mất trong quá trình đi lại, chị T2 đã làm lại BKS, không nhận lại nên cần tịch thu tiêu hủy.

[9] Về án phí hình sự sơ thẩm: Bị cáo Bùi Văn C phải chịu theo quy định của pháp luật. Bị cáo Nông Văn T thuộc hộ cận nghèo nên không phải chịu án phí theo quy định tại điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/NQ-UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về án phí và lệ phí Tòa án.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH

Tuyên bố: Bị cáo Nông Văn T phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”. Bị cáo Bùi Văn C phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

Căn cứ: Điểm p khoản 2 Điều 251; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự.

Xử phạt: Nông Văn T 08 (T3) năm tù, thời hạn tù tính từ ngày bắt tạm giữ, tạm giam 01/10/2024.

Căn cứ: Điểm i khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự.

Xử phạt: Bùi Văn C 02 (Hai) năm 08 (T3) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bắt tạm giữ, tạm giam 01/10/2024.

Căn cứ Điều 47 Bộ luật hình sự; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự.

Tịch thu tiêu hủy số ma túy có ký hiệu A1 tinh thể = 0,6137g, A1 viên nén = 0,3015g, B1 tinh thể = 2,7469g, B1 viên nén = 1,4675g và toàn bộ bao gói được niêm phong. Tịch thu tiêu hủy 01 BKS 52X2-5419.

Tịch thu bán phát mại sung ngân sách Nhà nước 01 ĐTDĐ nhãn hiệu Vsmart, gắn thẻ sim số 0964096772 của Bùi Văn C; 01 ĐTDĐ nhãn hiệu Iphone 7 Plus, gắn thẻ sim số 0398332788 của Nông Văn T.

Tịch thu tiêu hủy 02 thẻ sim có số 0964096772; 0398332788.

Trả lại cho anh Bùi Văn C1 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave, màu đỏ, số khung RLHHC09085Y524566, số máy HC09E5039285. (Vật chứng trên theo biên bản giao, nhận vật chứng ngày 20 tháng 02 năm 2025 giữa Công an huyện T với Chi cục Thi hành án dân sự huyện Tam Đảo).

Về án phí: Căn cứ Nghị quyết số 326/NQ-UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về án phí và lệ phí Tòa án.

Bị cáo Bùi Văn C phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm. Bị cáo Nông Văn T không phải chịu án phí hình sự sơ thẩm.

Trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, các bị cáo, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo lên Toà án nhân dân cấp trên để yêu cầu xét xử phúc thẩm.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Vĩnh Phúc;
  • - VKSND tỉnh Vĩnh Phúc;
  • - VKSND huyện Tam Đảo;
  • - Công an tỉnh Vĩnh Phúc;
  • - Trại tạm giam CA tỉnh Vĩnh Phúc;
  • - Chi cục THA dân sự huyện Tam Đảo;
  • - Các bị cáo;
  • - Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan;
  • - Lưu hồ sơ + Văn phòng.

T/M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Trần Văn Thái

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 14/2025/HS-ST ngày 18/03/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TAM ĐẢO, TỈNH VĨNH PHÚC về hình sự sơ thẩm

  • Số bản án: 14/2025/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự sơ thẩm
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 18/03/2025
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TAM ĐẢO, TỈNH VĨNH PHÚC
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Bùi Văn C, Nông Văn T phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma túy, Mua bán trái phép chất ma túy
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger