|
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LƯƠNG SƠN TỈNH HOÀ BÌNH |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 14/2025/HSST Ngày 18/3/2025
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LƯƠNG SƠN, TỈNH HOÀ BÌNH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Vũ Văn Trung
Các Hội thẩm nhân dân: Bà Hoàng Thị Huyền, Bà Nguyễn Thị Thu Hà
Thư ký phiên tòa: ông Nguyễn Kim Trường Sơn - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Lương Sơn, tỉnh Hoà Bình.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Lương Sơn, tỉnh Hoà Bình tham gia phiên toà: Bà Nguyễn Mai Linh - Kiểm sát viên.
Ngày 18 tháng 3 năm 2025, tại Hội trường xét xử Tòa án nhân dân huyện Lương Sơn, tỉnh Hoà Bình xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 10/2025/TLST-HS ngày 26 tháng 2 năm 2025, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 15/2025/QĐXXST-HS ngày 04 tháng 3 năm 2025 đối với bị cáo:
Quách Công D (tên gọi khác: không), sinh ngày 26/3/1985
HKTT: xóm C, xã C, huyện L, tỉnh Hòa Bình; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hóa (học vấn): 12/12; Dân tộc: Mường; Giới tính: Nam; Tôn giáo: không; Quốc tịch: Việt Nam; con ông Quách Công V, sinh năm 1958 và bà Nguyễn Thị H (đã chết); có vợ Hoàng Thị L, sinh năm 1986, có 02 con lớn nhất sinh năm 2006, nhỏ nhất sinh năm 2011.
Tiền án: năm 2019, bị Toà án nhân dân huyện Lương Sơn, tỉnh Hoà Bình xử phạt 05 năm 06 tháng tù về tội “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản”, theo bản án hình sự sơ thẩm số 17/2019/HSST, ngày 08/5/2019 (bản án hình sự phúc thẩm số 32/2019/HSPT ngày 01/10/2019 của Toà án nhân dân tỉnh Hoà Bình giữ nguyên bản án sơ thẩm). Bị cáo đã chấp hành xong hình phạt tù theo Giấy chứng nhận số 590/GCN, ngày 19/9/2023; đã nộp án phí hình sự sơ thẩm theo biên lai số 01113, ngày 04/6/2021 và án phí dân sự sơ thẩm theo biên lai số 01115, ngày 08/6/2021; đã thực hiện việc bồi thường dân sự theo biên lai số 01114, ngày 04/6/2021.
- Tiền sự: không.
- Nhân thân: năm 2009, bị Toà án nhân dân huyện Lương Sơn, tỉnh Hoà Bình xử phạt 12 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 23 tháng 10 ngày về tội “Đánh bạc” theo bản án số 01/2009/HSST ngày 07/01/2009. Đã chấp hành xong toàn bộ bản án.
Bị tạm giữ từ ngày 13/9/2024, chuyển tạm giam từ ngày 21/9/2024 đến nay bị dẫn giải có mặt tại phiên toà.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Bà Hoàng Thị L, sinh năm 1986; trú tại: xóm C, xã C, huyện L, tỉnh Hòa Bình. Có mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 20 giờ 30 phút, ngày 12/9/2024, Quách Công D, sinh năm 1985 sử dụng số điện thoại 0387.772.xxx gọi đến số 0852.182.928 để hỏi mua ma tuý dạng đá của một người đàn ông không quen biết với giá 500.000đ (năm trăm nghìn đồng). Người đàn ông này đồng ý bán ma tuý cho D và hẹn D đi đến sân bóng ở tiểu khu L, thị trấn L để mua ma tuý. Đến khoảng 21 giờ 30 phút cùng ngày theo lời hẹn, D điều khiển xe mô tô loại xe Wave, biển kiểm soát 29R4-3015 đi đến khu vực sân bóng tiểu khu L, thị trấn L thì gặp một người đàn ông, D không biết tên, tuổi, địa chỉ và đưa cho người này số tiền 500.000đ (năm trăm nghìn đồng), người đàn ông bảo D đi ra cột điện cách đó khoảng 20m để lấy ma tuý. D đi đến vị trí nơi người bán ma tuý chỉ, nhặt lên 01 (một) túi nilon bên trong có một túi nilon màu trắng viền đỏ có chứa ma tuý dạng đá. Sau khi mở túi nilon ra xem, khi D đang cầm số ma tuý vừa mua được thì bị Công an huyện L phát hiện bắt quả tang; thu giữ tại tay phải của D đang cầm 01 (một) túi nilon màu trắng có viền màu đỏ bên trong có chứa chất tinh thể màu trắng, D khai nhận chất tinh thể màu trắng bị thu giữ là ma tuý tổng hợp dạng đá; thu giữ 01 điện thoại di động loại OPPO A55 màu đen và 01 (một) xe mô tô kiểu dáng Wave màu xanh, biển kiểm soát 29R4-3015.
* Kết quả giám định:
- Kết luận giám định số 477/KL-KTHS, ngày 19/9/2024 của Phòng K - Công an tỉnh H, kết luận: “chất màu trắng trong túi nilon màu trắng viền đỏ thu giữ của Quách Công D có tổng khối lượng là 0,27g (không phẩy hai bảy gam), là ma tuý loại Methamphetamine.
Cáo trạng số 14/CT-VKSLS, ngày 25 tháng 02 năm 2025 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Lương Sơn, tỉnh Hoà Bình truy tố bị cáo Quách Công D về tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý” theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự.
Tại phiên toà, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Lương Sơn giữ nguyên quan điểm truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Quách Công D phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”.
* Về hình phạt chính: đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52; Điều 38 Bộ luật hình sự xử phạt bị cáo Quách Công D từ 02 (Hai) năm tù đến 03 (ba) năm tù.
Về hình phạt bổ sung: không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
Về vật chứng: đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự tuyên:
Trả chị Hoàng Thị L 01 (một) mô tô kiểu dáng Wave màu xanh, biển kiểm soát 29R4-3015 đã qua xử dụng.
Tịch thu phát mại xung công quỹ Nhà nước: 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu OPPO A55 màu đen đã qua sử dụng.
Tịch thu tiêu huỷ: 01 (một) phong bì một mặt có ghi “Mẫu vật còn lại sau giám định. Vụ Quách Công D, sinh năm 1985. Xảy ra ngày 12/9/2024. Tại: TT L, huyện L, tỉnh Hòa Bình”. Tại các mép dán có dấu hình niêm phong của Phòng K Công an tỉnh H và chữ ký của các thành viên có tên.
Về án phí: buộc bị cáo phải nộp án phí theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1]. Về tố tụng: về hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Cơ quan điều tra Công an huyện L; Kiểm sát viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Lương Sơn trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hay khiếu nại gì về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện là hợp pháp.
[2]. Về hành vi phạm tội của bị cáo:
Khoảng 21 giờ 30 phút, ngày 12/9/2024 tại tiểu khu L, huyện L, tỉnh Hòa Bình; Quách Công D đang có hành vi tàng trữ 0,27g (không phẩy hai bảy gam) ma tuý loại Methamphetamine trong lòng bàn tay phải thì bị tổ công tác công an huyện L phát hiện bắt quả tang. Việc bị cáo tàng trữ trái phép chất ma tuý nhằm mục đích để sử dụng cho bản thân ngoài ra không có mục đích nào khác.
Bị cáo D là người có năng lực trách nhiệm đầy đủ, hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, được thực hiện với lỗi cố ý, đã trực tiếp xâm phạm đến chính sách độc quyền của Nhà nước về quản lý các chất ma tuý, gây mất trật tự trị an địa phương; hành vi tàng trữ, sử dụng trái phép chất ma tuý của bị cáo còn là nguyên nhân dẫn đến các hành vi vi phạm pháp luật và tội phạm khác.
Vì vậy, Viện kiểm sát nhân dân huyện Lương Sơn truy tố bị cáo Quách Công D về tội tàng trữ trái phép chất ma tuý theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
[3]. Về tính chất hành vi phạm tội, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của bị cáo:
- Hành vi phạm tội của bị cáo là nghiêm trọng, tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự.
- Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: bị cáo là người đang có 01 tiền án về tội “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản”, theo bản án hình sự sơ thẩm số 17/2019/HSST, ngày 08/5/2019 (bản án hình sự phúc thẩm số 32/2019/HSPT ngày 01/10/2019 của Toà án nhân dân tỉnh Hoà Bình giữ nguyên bản án sơ thẩm). Do vậy lần phạm tội này của bị cáo thuộc trường hợp “tái phạm” là tình tiết tăng nặng theo quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự.
- Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: quá trình điều tra cũng như tại phiên toà bị cáo thành khẩn khai báo, tỏ ra ăn năn hối cải là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự.
Về nhân thân: năm 2009, bị Toà án nhân dân huyện Lương Sơn, tỉnh Hoà Bình xử phạt 12 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 23 tháng 10 ngày về tội “Đánh bạc” theo bản án số 01/2009/HSST ngày 07/01/2009. Đã chấp hành xong toàn bộ bản án, thuộc trường hợp đã được xoá án tích.
[4]. Về mức hình phạt:
Căn cứ vào tính chất, mức độ hành vi phạm tội, nhân thân và tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, xét thấy bị cáo là người đang có 01 tiền án lại tiếp tục thực hiện hành vi phạm tội có tính chất nghiêm trọng do vậy cần áp dụng Điều 38 Bộ luật hình sự cách lý bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian để cải tạo, giáo dục bị cáo.
[5]. Về hình phạt bổ sung: bị cáo là người lao động tự do, thu nhập không ổn định nên không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
[6]. Về vật chứng của vụ án: cần áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự để xử lý, cụ thể như sau:
Đối với 01 (một) xe mô tô kiểu dáng Wave màu xanh, biển kiểm soát 29R4-3015 đã qua xử dụng, kết quả điều tra đã xác định xe mô tô trên là do chị Hoàng Thị L (vợ bị cáo) mua và giao cho bị cáo làm phương tiện đi làm. Việc bị cáo sử dụng xe mô tô để đi mua và tàng trữ ma tuý chị L không biết. Xét thấy đây là tài sản thiết yếu phục vụ việc việc đi lại trong gia đình bị cáo, do vậy cần trả lại cho chị Hoàng Thị L xe mô tô kiểu dáng Wave màu xanh, biển kiểm soát 29R4-3015.
Đối với 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu OPPO A55 màu đen đã qua sử dụng là tài sản cá nhân và là phương tiện liên lạc của bị cáo trong thực hiện hành phạm tội cần tịch thu pháp mại xung công quỹ Nhà nước.
Đối với 01 (một) phong bì một mặt có ghi “Mẫu vật còn lại sau giám định. Vụ Quách Công D, sinh năm 1985. Xảy ra ngày 12/9/2024. Tại: TT L, huyện L, tỉnh Hòa Bình”. Tại các mép dán có dấu hình niêm phong của Phòng K Công an tỉnh H và chữ ký của các thành viên có tên. Là vật chứng cấm lưu hành cần được tịch thu tiêu huỷ.
[7]. Về án phí: bị cáo Quách Công D phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
[8]. Đối với người đàn ông bán ma tuý cho D ngày 12/9/2024 tại khu vực sân bóng tiểu khu L, thị trấn L. Duyên biết người bán ma tuý do được giới thiệu và đây là lần đầu D mua ma tuý của người này. Khi mua ma tuý do trời tối, người bán ma tuý cho D đội mũ đeo khẩu trang nên D không nhớ đặc điểm. Xác minh số điện thoại 0852.182.xxx mà D khai là của người bán ma tuý, xác định được người đứng tên đăng ký là anh Bùi Văn H1, sinh năm 1982; HKTT tại: xóm Q, xã C, huyện L, tỉnh Hòa Bình. Anh H1 đăng ký sim điện thoại trên vào tháng 3/2024 sau đó bị mất điện thoại nên hiện nay anh không sử dụng số điện thoại 0852.182.xxx và cũng không biết ai đang sử dụng; anh H1 cũng không quen biết với Quách Công D. Cơ quan điều tra tiến hành tách và tiếp tục xác minh người bán ma tuý cho D, khi nào làm rõ sẽ xử lý theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52; Điều 38; Điều 47 Bộ luật hình sự; Điều 106; khoản 2 Điều 135; khoản 2 Điều 136; Điều 331 và Điều 333 Bộ luật tố tụng hình sự; Khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
1. Tuyên bố bị cáo Quách Công D phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”.
Xử phạt bị cáo Quách Công D 02 (Hai) năm, 06 (sáu) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ (ngày 13/9/2024).
2. Về vật chứng:
- Trả lại chị Hoàng Thị L 01 (một) xe mô tô kiểu dáng Wave màu xanh, biển kiểm soát 29R4-3015 đã qua xử dụng.
- Tịch thu phát mại xung công quỹ Nhà nước: 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu OPPO A55 màu đen đã qua sử dụng.
- Tịch thu tiêu huỷ: 01 (một) phong bì một mặt có ghi “Mẫu vật còn lại sau giám định. Vụ Quách Công D, sinh năm 1985. Xảy ra ngày 12/9/2024. Tại: TT L, huyện L, tỉnh Hòa Bình”. Tại các mép dán có dấu hình niêm phong của Phòng K Công an tỉnh H và chữ ký của các thành viên có tên.
Đặc điểm vật chứng như biên bản bàn giao ngày 04/03/2025 giữa Chi cục Thi hành án dân sự huyện Lương Sơn với Cơ quan Điều tra Công an huyện L.
3. Về án phí:
Bị cáo Quách Công D phải chịu 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
4. Về quyền kháng cáo:
Bị cáo, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
|
Nơi nhận:
|
T/M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Vũ Văn Trung |
|
CÁC HỘI THẨM NHÂN DÂN
|
THẨM PHÁN – CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ Vũ Văn Trung |
Bản án số 14/2025/HSST ngày 18/03/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LƯƠNG SƠN, TỈNH HOÀ BÌNH về tàng trữ trái phép chất ma tuý
- Số bản án: 14/2025/HSST
- Quan hệ pháp luật: Tàng trữ trái phép chất ma tuý
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 18/03/2025
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LƯƠNG SƠN, TỈNH HOÀ BÌNH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Quách Công D phạm tội tàng trữ trái phép chất ma tuý theo điểm c khoản 1 Điều 249 BLHS
