Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN LONG PHÚ

TỈNH SÓC TRĂNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 14/2025/HS-ST

Ngày 18/3/2025

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LONG PHÚ, TỈNH SÓC TRĂNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Trần Bảo Quốc

Các Hội thẩm nhân dân.

Ông Thạch Hoàng Tha

Ông Nguyễn Kim Phước

- Thư ký phiên tòa: Ông Trần Khánh Huy-Thư ký Tòa án nhân dân huyện Long Phú, tỉnh Sóc Trăng.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Long Phú, tỉnh Sóc Trăng tham gia phiên tòa: Ông Âu Hoàng Mến -Kiểm sát viên.

Ngày 18 tháng 3 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Long Phú, tỉnh Sóc Trăng xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 09/2025/TLST-HS ngày 21 tháng 02 năm 2025, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 10/2025/QĐXXST-HS ngày 04 tháng 3 năm 2025 đối với các bị cáo:

  1. Vỏ Văn L, sinh ngày 01/01/1990; Nơi sinh: tỉnh Sóc Trăng; Nơi cư trú: ấp P, xã P, huyện L, tỉnh Sóc Trăng; Nghề nghiệp: Buôn bán; Trình độ văn hóa (học vấn): 05/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Vỏ Thành L1 và bà Nguyễn Thị Kim N; Có vợ và 02 người con, lớn nhất sinh năm 2013 và nhỏ nhất sinh năm 2014; Tiền án: Không; Tiền sự: 01 lần vào ngày 27/9/2022, bị Trưởng Công an xã C, huyện L, tỉnh Sóc Trăng xử phạt vi phạm hành chính với số tiền là 1.500.000 đồng về hành vi đánh bạc trái phép tại Quyết định số 43/QĐ-XPHC, bị cáo chưa nộp phạt; Về nhân thân: Vào ngày 12/4/2024, bị Trưởng Công an huyện L, tỉnh Sóc Trăng xử phạt vi phạm hành chính với số tiền là 1.500.000 đồng về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy tại Quyết định số 48/QĐ-XPHC, bị cáo chưa nộp phạt; Bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 05 tháng 4 năm 2024 cho đến nay. (có mặt)
  2. Nguyễn Bảo C, sinh ngày 04/4/2001; Nơi sinh: tỉnh Sóc Trăng; Nơi cư trú: ấp S, xã T, huyện L, tỉnh Sóc Trăng; Nghề nghiệp: Không; Trình độ văn hóa (học vấn): 07/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Nguyễn Bảo T và bà Hồ Thị D; Tiền án: Không; Tiền sự: Không; Về nhân thân: Vào ngày 03/4/2024, bị Trưởng Công an thị trấn Đ, huyện L, tỉnh Sóc Trăng xử phạt vi phạm hành chính với số tiền là 1.500.000 đồng về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy tại Quyết định số 11/QĐ-XPHC, bị cáo chưa nộp phạt; Bị cáo bị bắt tạm giam từ ngày 29 tháng 5 năm 2024 cho đến nay. (có mặt)
  3. Nguyễn Nhựt M, sinh ngày 08/9/1998; Nơi sinh: tỉnh Sóc Trăng; Nơi cư trú: ấp N, thị trấn Đ, huyện L, tỉnh Sóc Trăng; Nghề nghiệp: Thợ hàn; Trình độ văn hóa (học vấn): 09/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Nguyễn Văn C1 (chết) và bà Lưu Thị M1; Tiền án: Không; Tiền sự: 01 lần, vào ngày 12/9/2022 bị Tòa án nhân dân thành phố Bạc Liêu, tỉnh Bạc Liêu áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc với thời hạn là 15 tháng tại Quyết định số 42/QĐ-TA đến ngày 23/10/2023 bị cáo chấp hành xong quyết định, đến lần phạm tội này chưa được coi là chưa bị xử lý vi phạm hành chính; Về nhân thân: Ngày 14/5/2024 bị Tòa án nhân dân huyện Long Phú, tỉnh Sóc Trăng áp dụng áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc với thời hạn là 20 tháng tại Quyết định số 20/QĐ-TA và ngày 01/10/2024, bị Trưởng Công an huyện L, tỉnh Sóc Trăng xử phạt vi phạm hành chính với số tiền là 3.500.000 đồng về hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy nhưng không bị truy cứu trách nhiệm hình sự tại Quyết định số 121/QĐ-XPHC, bị cáo chưa nộp phạt; Bị cáo bị bắt tạm giam từ ngày 30 tháng 8 năm 2024 cho đến nay. (có mặt)
  4. Trần Minh T1, sinh ngày 01/01/2001; Nơi sinh: tỉnh Sóc Trăng; Nơi cư trú: ấp T, xã T, huyện L, tỉnh Sóc Trăng; Nghề nghiệp: Không; Trình độ văn hóa (học vấn): Không biết chữ; Dân tộc: Khmer; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Cha mẹ ruột không rõ; Mẹ nuôi là Lý Thị H (chết); Tiền án: Không; Tiền sự: 02 lần, vào ngày 03/02/2021 bị Tòa án nhân dân huyện Trần Đề, tỉnh Sóc Trăng áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc với thời hạn là 24 tháng tại Quyết định số 13/QĐ-TA, khi đang chấp hành thời hạn cai nghiện thì vào ngày 23/8/2022 bị Tòa án nhân dân thành phố Sóc Trăng, tỉnh Sóc Trăng áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở giáo dục bắt buộc với thời hạn 16 tháng về hành vi gây rối trật tự công cộng tại Quyết định số 136/QĐ-TA, đến lần phạm tội này chưa được coi là chưa bị xử lý vi phạm hành chính; Về nhân thân: Vào ngày 26/6/2024, bị Tòa án nhân dân huyện huyện Long Phú, tỉnh Sóc Trăng áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc với thời hạn là 22 tháng tại Quyết định số 24/2024/QĐ-TA; Bị cáo bị bắt tạm giam từ ngày 30 tháng 8 năm 2024 cho đến nay. (có mặt)

- Người làm chứng:

  1. Ông Nguyễn Văn P, sinh năm 2004; Nơi cư trú: ấp P, xã H, huyện L, tỉnh Sóc Trăng. (vắng mặt)
  2. Ông Trần Minh N1, sinh năm 2002; Nơi cư trú: ấp T, xã T, huyện L, tỉnh Sóc Trăng. (có mặt)
  3. Bà Lê Ngọc T2, sinh năm 1994; Nơi cư trú: ấp N, thị trấn Đ, L, tỉnh Sóc Trăng. (vắng mặt)
  4. Ông Nguyễn Hồng Đ, sinh năm 1995; Nơi cư trú: ấp L, xã L, huyện L, tỉnh Sóc Trăng. (có mặt)
  5. Ông Cao Văn L2, sinh năm 1990; Nơi cư trú: ấp P, xã S, huyện L, tỉnh Sóc Trăng. (vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào khoảng 01 giờ 10 phút ngày 29/3/2024, khi Tổ công tác 123 Công an tỉnh S kết hợp với Công an huyện L, tuần tra trên Quốc lộ F đoạn thuộc ấp N, thị trấn Đ, huyện L, tỉnh Sóc Trăng thì phát hiện Nguyễn Bảo C điều khiển xe mô tô biển kiểm soát 83C1-339.57 chở Vỏ Văn L, Nguyễn Nhựt M điều khiển xe mô tô biển kiểm soát 60B6-205.48 và Trần Minh T1 điều khiển xe mô tô biển kiểm soát 83L1-1947 lưu thông trên tuyến Quốc lộ F có nhiều biểu hiện nghi vấn nên lực lượng Công an yêu cầu dừng phương tiện để kiểm tra. Thấy vậy, Vỏ Văn L bỏ chạy thoát, còn lại C, M và T1 bị khống chế giữ lại, tiến hành kiểm tra phát hiện thu giữ: 04 đoạn ống nhựa trong được hàn kín, 01 đoạn ống nhựa màu xanh lá được hàn kín, 01 đoạn ống nhựa màu xanh dương được hàn kín; 01 vỏ bao thuốc lá nhãn hiệu JET để trên baga xe mô tô biển kiểm soát 83C1-339.57, bên trong vỏ thuốc lá có 01 túi nylon trong được hàn kín hai đầu, bên trong có chứa tinh thể rắn màu trắng; 01 đoạn ống nhựa được hàn kín hai đầu, bên trong có chứa tinh thể rắn màu trắng; 01 túi nylon trong được hàn kín, bên trong có chứa tinh thể rắn màu trắng; 02 ống thủy tinh được uốn cong có một đầu hình cầu, bên trong đầu hình cầu của mỗi ống thủy tinh đều có dính chất rắn màu trắng, được phát hiện bên trong cái hộp màu đen đựng trong cái túi màu xanh.

Đến ngày 05/4/2024, Vỏ Văn L đến Công an huyện L để đầu thú về hành vi phạm tội của mình. Quá trình làm việc, Luật thừa nhận: các tinh thể rắn màu trắng là ma túy mà lực lượng Công an phát hiện thu giữ khi bị bắt vào ngày 29/3/2024 là ma túy do L mua tại thành phố S, tỉnh Sóc Trăng với mục đích bán lại cho người khác để thu lợi bất chính. Cụ thể, vào ngày 28/3/2024, Luật mang ma túy đến ấp P, xã S, huyện L, tỉnh Sóc Trăng để bán cho người mua đã hẹn trước (không rõ họ tên, địa chỉ) và để sử dụng trái phép chất ma túy. Luật có kêu C đi giao ma túy cho Luật thì C đồng ý. Sau khi giao ma túy xong, C quay lại và cùng Luật, M, T1 tiếp tục sử dụng ma túy. Sau khi sử dụng ma túy xong, đến khoảng 00 giờ ngày 29/3/2024, Luật mang theo ma túy rồi cùng với C, M, T1 đi về. Khi đi đến ấp N, thị trấn Đ, huyện L, tỉnh Sóc Trăng thì bị lực lượng Công an dừng phương tiện để kiểm tra và bắt quả tang.

Quá trình điều tra các bị can khai nhận: Vào khoảng năm 2019, Luật bắt đầu sử dụng trái phép chất ma túy nhưng không thường xuyên. Thông qua quan hệ ngoài xã hội, Luật biết Lê Hoàng C2 có bán ma túy nên Luật đến gặp C2 để hỏi mua ma túy về sử dụng. Đến khoảng cuối năm 2023, Luật bắt đầu giúpsức bán ma túy cho C2, cụ thể là khi có người mua ma túy, C2 sẽ kêu Luật đi giao. Trong thời gian giúp sức bán ma túy cho C2 thì Luật biết được Phạm Duy K và Nguyễn Bảo C cũng giúp sức giao ma túy cho C2. Sau một thời gian giúp sức cho C2 thì giữa Luật và C2 nảy sinh mâu thuẫn nên Luật không tiếp tục giúp sức cho C2 nữa.

Sau đó, L tự tìm nơi khác để mua ma túy rồi bán lại với giá cao hơn để lấy tiền tiêu xài và phục vụ nhu cầu sử dụng ma túy của mình. Thông qua các mối quan hệ ngoài xã hội cũng như trong thời gian giúp sức bán ma túy cho C2 thì Luật biết được tại khu vực nghĩa địa thuộc Phường E, thành phố S, tỉnh Sóc Trăng có người bán ma túy với giá thấp hơn những nơi khác nên L đã đến đây để mua ma túy. Đồng thời, Luật còn rủ C về giúp sức bán ma túy cho Luật thì C đồng ý. Sau đó, Luật cũng làm quen Nguyễn Nhựt M và Trần Minh T1 thông qua C.

Khoảng 17 giờ ngày 28/3/2024, Luật một mình điều khiển xe mô tô biển kiểm soát 83C1-339.57 đi đến khu vực nghĩa địa thuộc Phường E, thành phố S gặp một người đàn ông (không rõ họ tên, địa chỉ, đặc điểm) mua ma túy với số tiền 2.000.000 đồng. Sau khi mua được ma túy thì L điều khiển xe về nhà tại ấp P, xã P, huyện L. Cùng lúc này, T1 đi đến nhà của Luật tại ấp P, xã P, huyện L, tỉnh Sóc Trăng để tìm Luật mục đích sử dụng trái phép chất ma túy. Khi đi, T1 mang theo một ống thủy tinh được uốn một đầu hình cầu (nỏ) để trong một hộp giấy màu đen.

Còn M đi đến ấp P, xã S, huyện L, tỉnh Sóc Trăng để tổ chức uống rượu cùng với Nguyễn Văn P, Tăng Văn K1, Trương Thị Ngọc T3, Lâm Thị Kiều N2 và một số người khác (không rõ họ tên, địa chỉ). Khi đi, M cũng có mang theo một ống thủy tinh được uốn cong, có một đầu hình cầu (nỏ) dùng để sử dụng trái phép chất ma túy. Sau khi nhậu xong thì K1, P, T3 và N2 nảy sinh ý định sử dụng ma túy. Biết M thường sử dụng trái phép chất ma túy nên K1, P, T3 và N2 hỏi M “có ma túy không” thì M trả lời là “không có” nên K1, P, T3 và N2 nhờ M tìm ma túy để cả nhóm sử dụng thì M đồng ý. Do muốn khao (đãi) cả nhóm sử dụng ma túy nên M nảy sinh ý định dùng tiền của mình để mua. Sau đó, M gọi điện thoại và rủ Luật đến thị trấn Đ, huyện L để uống cà phê (mục đích là tìm Luật để mua ma túy) thì Luật đồng ý. Sau đó, M một mình điều khiển xe mô tô biển kiểm soát 60B6-205.48 đi đến một quán cà phê (không rõ tên, địa chỉ) thuộc thị trấn Đ để chờ Luật. Khi Luật đến, M hỏi Luật về việc mua ma túy cho nhóm của K1, P, T3 và N2 để sử dụng trái phép thì Luật đồng ý bán. Tuy nhiên, do Luật vừa mua ma túy từ thành phố S về chưa chia nhỏ số ma túy ra nên L nói vào đến chỗ rồi đưa luôn thì M đồng ý. Sau đó, M và L gọi điện thoại rủ T1 và C đến thị trấn Đ để uống cà phê thì T1 và C đồng ý.

Trước khi đi, C có mang theo một túi rút màu xanh, bên trong túi rút có 04 đoạn ống nhựa trong được hàn kín, 01 đoạn ống nhựa màu xanh lá được hàn kín, 01 đoạn ống nhựa màu xanh dương được hàn kín, bên trong các đoạn ống nhựa đều có chứa tinh thể rắn màu trắng được để trong một một hộp nhựa màu xanh cùng nhiều đồ vật có liên quan. Lúc này, T1 để cái nỏ trong hộp giấy, đưa cho C và C bỏ vào túi rút màu xanh. Sau đó, T1 điều khiển xe mô tô biển kiểm soát 83L1-1947 chở C đến chỗ Luật và M.

Sau khi đến quán cà phê được một lúc, M đưa cho C cái nỏ của M để C giữ. Sau đó, Luật, M, T1, C đi đến chỗ K1, P, T3 và N2. Khi đến nơi, L, T1, M, C cùng vào uống rượu. Uống rượu khoảng 30 phút, Luật lấy số ma túy vừa mua được chia nhỏ ra bán cho M, còn C lấy hai cái nỏ trong túi rút ra để sử dụng ma túy nhưng nỏ của T1 chưa hoàn thiện nên C đã dùng chai nhựa để làm thành cái nỏ cho T1. Sau đó, L đưa ma túy cho C để vào cái nỏ của M cho L, M, C và T1 sử dụng; cái nỏ của T1 chứa ma túy của M mua của Luật để cho K1, P, T3 và N2 cùng sử dụng. Trong lúc đang sử dụng ma túy thì Trần Minh N1 (sinh ngày 13/12/2002, nơi thường trú: ấp T, xã T, huyện L, tỉnh Sóc Trăng) gọi điện thoại cho L để hỏi mua ma túy với số tiền 300.000 đồng thì L đồng ý bán nên Luật đưa cho C một túi ma túy và kêu C mang đến cầu Đ giao cho N1 thì C đồng ý. C một mình điều khiển xe mô tô biển kiểm soát 83C1-339.57 của Luật đi giao ma túy cho N1 và nhận 200.000 đồng cùng một con gà trống. Sau khi giao ma túy, C quay lại tiếp tục sử dụng ma túy. Khi sử dụng ma túy xong Luật dọn dụng cụ sử dụng ma túy, đến khoảng 00 giờ ngày 29/3/2024, C lấy hai cái nỏ để vào túi rút màu xanh, còn Luật để ma túy vào khẩu trang màu trắng có chữ “Mai A” và để vào vỏ bao thuốc lá nhãn hiệu JET để trước baga xe để đi về. Lúc này, L điều khiển xe chở C, còn M và T1 mỗi người điều khiển một xe mô tô đi về trên tuyến Quốc lộ F khoảng 01 giờ ngày 29/3/2024 thì bị lực lượng Công an phát hiện bắt quả tang. Ngoài việc giúp sức cho Luật thì C còn tự thú khai nhận mua ma túy của C2 để bán lại cho người khác, trong đó bán cho Lê Ngọc T2.

Tại Kết luận giám định số 48/KLMT-KTHS ngày 10 tháng 4 năm 2024 của Phòng K2-Công an tỉnh S kết luận: Gói 01: Mẫu tinh thể rắn màu trắng được niêm phong gửi giám định là ma túy, có tổng khối lượng 0,7006 gam, loại Methamphetamine; Gói 02: Mẫu tinh thể rắn màu trắng được niêm phong gửi giám định là ma túy, có tổng khối lượng 0,9199 gam, loại Methamphetamine; Gói 03: Mẫu tinh thể rắn màu trắng được niêm phong gửi giám định là ma túy, có tổng khối lượng 2,9288 gam, loại Methamphetamine; Gói 04: 02 (hai) ống thủy tinh (nỏ) đã bị vỡ và nhiều mảnh thủy tinh được niêm phong gửi giám định có tìm thấy thành phần ma túy, loại Methamphetamine; Gói 05: Mẫu chất rắn màu trắng - nâu được niêm phong gửi giám định là ma túy, có tổng khối lượng 0,0613 gam, loại Methamphetamine.

Tại Cáo trạng số 10/CT-VKS-LP ngày 20/02/2025 của Viện Kiểm sát nhân dân huyện Long Phú đã truy tố các bị cáo Vỏ Văn L về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm b Khoản 2 Điều 251 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) và tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm b Khoản 2 Điều 255 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017); Nguyễn Bảo C về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm b Khoản 2 Điều 251 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) và tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm b, c Khoản 2 Điều 255 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017); Trần Minh T1 và Nguyễn Nhựt M về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” quy định tại điểm b, c Khoản 2 Điều 255 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).

Tại phiên tòa, Kiểm sát viên vẫn giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố:

Các bị cáo Vỏ Văn L và Nguyễn Bảo C phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy” và tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”.

Các bị cáo Nguyễn Nhựt M và Trần Minh T1 phạm tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”.

Áp dụng điểm b Khoản 2 Điều 251, điểm b Khoản 2 Điều 255, điểm s Khoản 1, Khoản 2 Điều 51, Điều 17, Điều 58, Khoản 1 Điều 38 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) xử phạt bị cáo L từ 07 năm đến 09 năm tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” và từ 07 năm đến 09 năm tù về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”, áp dụng Khoản 1 Điều 55 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) tổng hợp hình phạt chung của cả hai tội.

Áp dụng điểm b Khoản 2 Điều 251, điểm b, c Khoản 2 Điều 255, điểm r, s Khoản 1, Khoản 2 Điều 51, Điều 17, Điều 58, Khoản 1 Điều 38 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) xử phạt C từ 07 năm đến 09 năm tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” và từ 07 năm đến 09 năm tù về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”, áp dụng Khoản 1 Điều 55 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) tổng hợp hình phạt chung của cả hai tội.

Áp dụng điểm b, c Khoản 2 Điều 255, điểm s Khoản 1, Khoản 2 Điều 51, Điều 17, Điều 58, Khoản 1 Điều 38 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) xử phạt bị cáo T1 từ 07 năm đến 09 năm tù.

Áp dụng điểm b, c Khoản 2 Điều 255, điểm s Khoản 1 Điều 51, Điều 17, Điều 58, Khoản 1 Điều 38 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017), xử phạt bị cáo M từ 07 năm đến 09 năm tù.

Về xử lý vật chứng của vụ án: áp dụng Khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017); điểm a Khoản 2 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng Hình sự.

Tịch thu, tiêu hủy: 01 vỏ bao thuốc lá nhãn hiệu JET; 01 túi vải màu xanh có dây rút màu trắng, trên túi có chữ Life Buoy màu trắng; 01 hộp giấy màu đen; 01 nắp nhựa màu vàng, trên nắp nhựa có thủng hai lỗ; 01 nắp nhựa màu đen, trên nắp nhựa có gắn một đoạn ống nhựa màu trắng; 01 bật lửa màu tím, trên bật lửa có chữ “Hoa Việt”; 01 đoạn ống nhựa màu trắng; 01 chai gas; 01 bật lửa màu đỏ, trên bật lửa có chữ “Hoa Việt”; 01 cây kéo bằng kim loại màu trắng sáng; 01 cây nhíp bằng kim loại, màu trắng sáng; 02 đoạn ống nhựa có màu vàng-trắng; 01 ví da có màu trắng-nâu, trên ví có chữ “POLO GRAND-USA”; 01 hộp nhựa màu xanh, trên hộp nhựa có chữ “Hộp ốc, vít”; 01 khẩu trang màu trắng, đã qua sử dụng có chữ “Mai A”; 01 cây kéo bằng kim loại, màu trắng sáng; 01 túi nylon trong, có một đầu kéo, bên trong túi nylon có 20 túi nylon trong được hàn kín; 04 đoạn ống nhựa trong được hàn kín, 01 đoạn ống nhựa màu xanh lá được hàn kín, 01 đoạn ống nhựa màu xanh dương được hàn kín, bên trong các đoạn ống nhựa đều có chứa tinh thể rắn màu trắng; 01 túi nylon trong được hàn kín hai đầu, bên trong có chứa tinh thể rắn màu trắng; 01 đoạn ống nhựa được hàn kín hai đầu, bên trong có chứa tinh thể rắn màu trắng; 01 túi nylon trong được hàn kín hai đầu, bên trong có chứa tinh thể rắn màu trắng được phát hiện bên trong khẩu trang có chữ “Mai A” được phát hiện; 02 ống thủy tinh được uốn cong có một đầu hình cầu, của mỗi ống thủy tinh đều có dính chất rắn màu trắng-nâu; 01 bật lửa màu đỏ; 01 hộp vải màu đen, có dây kéo.

Tịch thu, nộp Ngân sách Nhà nước: 01 điện thoại di động nhãn hiệu OPPO, màu xanh-đen, màn hình cảm ứng, đã qua sử dụng; 01 điện thoại di động nhãn hiệu OPPO, màu xanh, màn hình cảm ứng bị nứt, đã qua sử dụng.

Về án phí: Các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định pháp luật.

Tại phiên toà, các bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội, thừa nhận Cáo trạng truy tố các bị cáo là đúng tội, không oan sai cho các bị cáo. Các bị cáo trình bày lời nói sau cùng xin giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1]. Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát, Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra và truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng Hình sự. Ngoài ra, trong quá trình điều tra, truy tố cũng như tại phiên tòa, không có người nào có ý kiến hay khiếu nại gì về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2]. Tại phiên tòa, người làm chứng là Cao Văn L2, Lê Ngọc T2 và Nguyễn Văn P vắng mặt không có lý do. Xét thấy, những người làm chứng nêu trên đã có lời khai rõ ràng về các tình tiết của vụ án và việc vắng mặt cũng không làm ảnh hưởng đến việc giải quyết vụ án nên căn cứ vào Điều 293, Điều 299 của Bộ luật Tố tụng Hình sự để xét xử vắng mặt đối với những người làm chứng nêu trên.

[3]. Xét lời khai nhận hành vi phạm tội của các bị cáo tại phiên tòa là hoàn toàn phù hợp với lời khai của các bị cáo và người tham gia tố tụng khác trong quá trình điều tra, cũng như phù hợp với các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án nên Hội đồng xét xử có đủ cơ sở để xác định:

Do các bị cáo L2 và C đều là người nghiện ma túy vì muốn có tiền tiêu xài và ma túy sử dụng nên đã cùng rủ nhau mua ma túy về phân ra nhằm mục đích bán lại cho người nghiện. Trong khoảng thời gian từ tháng 02 đến tháng 3/2024, Luật đã nhiều lần đi đến khu vực nghĩa địa thuộc Phường E, thành phố S để mua ma túy với giá từ 2.000.000 đồng đến 3.000.000 đồng rồi đem về phân ra từng tép nhỏ bán cho người nghiện, với giá từ là 200.000 đồng đến 300.000 đồng.

Vào ngày 28/3/2024, L2 đã mua 01 bịch ma túy với giá 2.000.000 đồng rồi bán lại cho M và N1, bị cáo C là người đem ma túy đi giao cho N1, hơn nữa C còn 01 lần tự mua ma túy rồi bán lại cho Lê Ngọc T2. Ngoài ra, Luật, C, M và T1 còn cùng nhau tổ chức sử dụng ma túy và các bị cáo C, M và T1 còn cung cấp ma túy, dụng cụ để tổ chức cho K1, P, T3 và N2 sử dụng ma túy tại ấp P, xã S, huyện L, tỉnh Sóc Trăng. Sau khi sử dụng ma túy xong đến khoảng 01 giờ ngày 29/3/2024, các bị cáo Luật, C, M và P ra về thì bị bắt quả tang thu giữ ma túy của Luật cất giấu trên baga phía trước xe nhằm mục đích bán lại cho con nghiện. Qua giám định là ma túy, loại Methamphetamine, có khối lượng là 4,6106gam.

Hành vi của các bị cáo là gây nguy hiểm cho xã hội, đã cố ý trực tiếp xâm phạm đến chính sách quản lý độc quyền về chất ma túy của Nhà nước, làm ảnh hưởng xấu đến tình hình an ninh, trật tự, an toàn xã hội tại địa phương.

Các bị cáo Luật, C, M và T1 thống nhất ý chí rủ nhau cùng sử dụng ma túy nên phạm tội thuộc trường hợp 02 người trở lên. Riêng C và M không chỉ vừa giúp sức bỏ ma túy vào nỏ, cung cấp dụng cụ để cùng sử dụng ma túy chung với L2 và T1 mà còn cung cấp ma túy và hoàn thiện chế tạo cây nỏ rồi bỏ ma túy vào nhằm mục đích cho P, K1, T3 và N2 cùng sử dụng nên phạm tội thuộc trường hợp 02 lần trở lên. Mặt khác, C, M và T1 còn cung cấp dụng cụ và ma túy cho K1, T3 và N2 là người dưới 18 tuổi. Do đó, Hội đồng xét xử có đủ căn cứ kết luận:

Bị cáo Luật phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm b Khoản 2 Điều 251 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) và tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm b Khoản 2 Điều 255 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017)

Bị cáo C phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm b Khoản 2 Điều 251 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) và tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm a, b, c Khoản 2 Điều 255 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017)

Bị cáo M phạm tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm a, b, c Khoản 2 Điều 255 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017)

Bị cáo T1 phạm tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm b, c Khoản 2 Điều 255 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017)

Như vậy, Cáo trạng của Viện kiểm sát truy tố các bị cáo là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật, không oan sai cho các bị cáo nên Hội đồng xét xử chấp nhận.

[4]. Mặc dù các bị cáo đã cùng thống nhất ý chí thực hiện hành vi phạm tội nhưng giữa các bị cáo không có sự cấu kết chặt chẽ, phân công vai trò cụ thể cho từng người nên phạm tội thuộc trường hợp đồng phạm giản đơn. Vai trò cụ thể của từng bị cáo như sau:

Đối với hành vi mua bán trái phép chất ma túy thì bị cáo L2 có vai trò chính trong vụ án, bị cáo là người khởi xướng, rủ rê, lôi kéo bị cáo C cùng thực hiện hành vi bán trái phép chất ma túy cho người nghiện, chính bị cáo còn là người thực hành tích cực, đã trực tiếp mua ma túy đem về phân ra rồi trực tiếp bán cho người nghiện hoặc đưa ma túy cho C đem đi giao bán cho người nghiện. Còn bị cáo C với vài trò là người giúp sức tích cực, sau khi nghe bị cáo Luật rủ rê cùng bán ma túy thì bị cáo đồng tình hưởng ứng, bị cáo C đã nhận ma túy từ bị cáo L2 rồi đi giao bán cho người nghiện lấy tiền mang về cho bị cáo Luật.

Đối với hành vi tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy của các bị cáo Luật, C, M và T1 thì bị cáo L2 là người có vai trò chính trong vụ án, chính bị cáo L2 là người đã cung cấp ma túy, còn bị cáo M cung cấp dụng cụ là cây nỏ và bị cáo C là người trực tiếp bỏ ma túy vào cây nỏ để các bị cáo L2, C, M và T1 cùng sử dụng trái phép chất ma túy.

Đối với hành vi tổ chức cho K1, P, T3 và N2 sử dụng trái phép chất ma túy thì bị cáo M có vai trò chính, bị cáo là người trực tiếp mua ma túy của bị cáo L2, còn bị cáo T1 đã cung cấp dụng cụ là cây nỏ và bị cáo C là người giúp sức tích cực, đã hoàn thiện việc chế tạo dụng cụ là cây nỏ và bỏ ma túy vào để K1, P, T3 và N2 cùng sử dụng trái phép chất ma túy.

Từ hành vi và hậu quả mà các bị cáo đã gây ra, cần có hình phạt tương xứng với tính chất, mức độ hành vi phạm tội của các bị cáo nên áp dụng hình phạt tù đối với các bị cáo là phù hợp.

[5]. Tuy nhiên, khi quyết định mức hình phạt đối với các bị cáo, cần xem xét đến tình tiết tăng nặng, nhân thân và các tình tiết giảm nhẹ của các bị cáo, Hội đồng xét xử thấy rằng,

Bị cáo Luật không có tình tiết tăng nặng. Xét về nhân thân tại thời điểm thực hiện hành vi phạm tội chưa có tiền án, nhưng có 01 lần tiền sự và có nhân thân xấu (như phần lý lịch đã nêu). Sau khi phạm tội bị cáo đã thành khẩn khai báo. Bị cáo đã ra đầu thú. Do đó, bị cáo được hưởng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s Khoản 1, Khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).

Bị cáo C không có tình tiết tăng nặng. Xét về nhân thân tại thời điểm thực hiện hành vi phạm tội chưa có tiền án, tiền sự, nhưng có nhân thân xấu (như phần lý lịch đã nêu). Sau khi phạm tội bị cáo đã thành khẩn khai báo. Bị cáo đã tự thú, tự khai ra lần bán ma túy trước đó. Bị cáo có ông bà nội là người có công với nước. Do đó, bị cáo được hưởng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm r, s Khoản 1, Khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).

Bị cáo M không có tình tiết tăng nặng. Xét về nhân thân chưa có tiền án, nhưng có 01 lần tiền sự và nhân thân xấu (như phần lý lịch đã nêu). Sau khi phạm tội bị cáo đã thành khẩn khai báo. Do đó, bị cáo được hưởng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s Khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).

Bị cáo T1 không có tình tiết tăng nặng. Xét về nhân thân chưa có tiền án, nhưng có 02 lần tiền sự và nhân thân xấu (như phần lý lịch đã nêu). Sau khi phạm tội bị cáo đã thành khẩn khai báo. Bị cáo là người dân tộc Khmer, không biết chữ nên nhân thực pháp luật còn hạn chế. Do đó, bị cáo được hưởng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s Khoản 1, Khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).

[6]. Đối với người bán ma túy cho Vỏ Văn L tại khu vực nghĩa địa thuộc Phường E, thành phố S, do không rõ họ tên và nơi cư trú cụ thể nên không tiến hành làm việc được. Đề nghị Cơ quan Điều tra tiếp tục xác minh, làm rõ để xử lý theo quy định pháp luật.

Đối với lời trình bày của các bị cáo L và C khai nhận hành vi mua trái phép chất ma túy từ Lê Hoàng C2 và Phạm Duy K, quá trình điều tra bổ sung chưa đủ căn cứ xác định C2 và K có bán ma túy trái phép cho Luật và C. Do đó, không có căn cứ để nhập vụ án hình sự này vào vụ án “Mua bán trái phép chất ma túy” mà Cơ quan Cảnh sát điều tra-Công an huyện L đã khởi tố đối với Lê Hoàng C2 và Phạm Duy K.

Đối với khối lượng chất ma túy 0,0613 gam Methamphetamin trong 02 dụng cụ sử dụng trái phép chất ma túy để tổ chức sử dụng, quá trình điều tra xác định số ma túy trên là của các bị cáo và những người có liên quan sử dụng nhưng chưa hết, do chưa đủ định lượng cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” nên Cơ quan Công an huyện L không truy cứu trách nhiệm hình sự mà quyết định xử phạt vi phạm hành chính đối với M.

Đối với lời trình bày của Nguyễn Hồng Đ, Cao Văn L2 khai nhận có mua ma túy của Luật để sử dụng nhiều lần. Nhưng quá trình xác minh, ghi lời khai, đối chất, các bị cáo L2 và C không thừa nhận hành vi bán ma túy cho Đ và Cao Văn L2 nên Cơ quan Cảnh sát Điều tra chưa đủ căn cứ chứng minh việc bán ma túy cho Đ của Luật và C.

Đối với Nguyễn Văn P, Lâm Thị Kiều N2, Tăng Văn K1, Trương Thị Ngọc T3 đã khai nhận số ma túy sử dụng là do cả nhóm cùng thống nhất ý chí hùn tiền rồi nhờ bị cáo M mua ma túy hộ để sử dụng chung. Cơ quan Điều tra, Viện Kiểm sát đã có văn bản đề nghị rút hồ sơ và Tòa án đã trả hồ sơ điều tra bổ sung nhằm làm rõ vai trò đồng phạm của P, T3, K1 và N2 trong việc “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” để xem xét trách nhiệm hình sự. Hiện nay, Cơ quan Điều tra đã có quyết định tách vụ án để tiếp tục xác minh, làm rõ và xem xét xử lý sau nên không đặt ra xem xét trong vụ án này.

[7]. Về xử lý vật chứng của vụ án:

Đối với ma túy và các đồ vật đang bị thu giữ là vật cấm lưu hành, tàng trữ, vật dùng làm công cụ, phương tiện cất giấu ma túy, sử dụng trái phép chất ma túy không còn giá trị sử dụng nên cần tịch thu tiêu hủy.

Đối với 02 điện thoại di động là của các bị cáo dùng làm phương tiện liên lạc mua bán trái phép chất ma túy, còn giá trị sử dụng nên cần tịch thu, nộp Ngân sách Nhà nước.

[8]. Về án phí: Các bị cáo là người bị kết qna nên phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định pháp luật.

[9]. Xét lời đề nghị Kiểm sát viên về tội danh và việc áp dụng pháp luật là có căn cứ nên Hội đồng xét xử chấp nhận. Về hình phạt cần xử phạt bị cáo ở mức đề nghị như Kiểm sát viên đề nghị là phù hợp, nhằm giáo dục, cải tạo và răn đe bị cáo sống phải chấp hành đúng quy định pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ điểm b Khoản 2 Điều 251; điểm b Khoản 2 Điều 255; điểm s Khoản 1, Khoản 2 Điều 51; Điều 17; Khoản 1 Điều 55; Điều 58; Khoản 1 Điều 38 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) đối với bị cáo Vỏ Văn L.

Căn cứ điểm b Khoản 2 Điều 251; điểm a, b, c Khoản 2 Điều 255; điểm r, s Khoản 1, Khoản 2 Điều 51; Điều 17; Khoản 1 Điều 55; Điều 58; Khoản 1 Điều 38 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) đối với bị cáo Nguyễn Bảo C.

Căn cứ điểm a, b, c Khoản 2 Điều 255; điểm s Khoản 1 Điều 51; Điều 17; Điều 58; Khoản 1 Điều 38 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) đối với bị cáo Nguyễn Nhựt M.

Căn cứ điểm b, c Khoản 2 Điều 255; điểm s Khoản 1, Khoản 2 Điều 51; Điều 17; Điều 58; Khoản 1 Điều 38 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) đối với bị cáo Trần Minh T1.

Tuyên bố:

Các bị cáo Vỏ Văn L và Nguyễn Bảo C phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy” và tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”.

Các bị cáo Nguyễn Nhựt M và Trần Minh T1 phạm tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”.

  1. Xử phạt bị cáo Vỏ Văn L 08 (tám) năm tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” và 08 (tám) năm tù về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”. Tổng hợp hình phạt chung của cả hai tội buộc bị cáo phải chấp hành là 16 (mười sáu) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày 05 tháng 4 năm 2024.
  2. Xử phạt bị cáo Nguyễn Bảo C 07 (bảy) năm tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” và 09 (chín) năm tù về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”. Tổng hợp hình phạt chung của cả hai tội buộc bị cáo phải chấp hành là 16 (mười sáu) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày 29 tháng 5 năm 2024.
  3. Xử phạt bị cáo Nguyễn Nhựt M 09 (chín) năm tù về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”. Thời hạn tù tính từ ngày 30 tháng 8 năm 2024.
  4. Xử phạt bị cáo Trần Minh T1 08 (tám) năm tù về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”. Thời hạn tù tính từ ngày 30 tháng 8 năm 2024.
  5. Về xử lý vật chứng của vụ án: căn cứ vào Khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017); điểm a Khoản 2 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng Hình sự.

    Tịch thu, tiêu hủy: 01 vỏ bao thuốc lá nhãn hiệu JET; 01 túi vải màu xanh có dây rút màu trắng, trên túi có chữ Life Buoy màu trắng; 01 hộp giấy màu đen; 01 nắp nhựa màu vàng, trên nắp nhựa có thủng hai lỗ; 01 nắp nhựa màu đen, trên nắp nhựa có gắn một đoạn ống nhựa màu trắng; 01 bật lửa màu tím, trên bật lửa có chữ “Hoa Việt”; 01 đoạn ống nhựa màu trắng; 01 chai gas; 01 bật lửa màu đỏ, trên bật lửa có chữ “Hoa Việt”; 01 cây kéo bằng kim loại màu trắng sáng; 01 cây nhíp bằng kim loại, màu trắng sáng; 02 đoạn ống nhựa có màu vàng-trắng; 01 ví da có màu trắng-nâu, trên ví có chữ “POLO GRAND-USA”; 01 hộp nhựa màu xanh, trên hộp nhựa có chữ “Hộp ốc, vít”; 01 khẩu trang màu trắng, đã qua sử dụng có chữ “Mai A”; 01 cây kéo bằng kim loại, màu trắng sáng; 01 túi nylon trong, có một đầu kéo, bên trong túi nylon có 20 túi nylon trong được hàn kín; 04 đoạn ống nhựa trong được hàn kín, 01 đoạn ống nhựa màu xanh lá được hàn kín, 01 đoạn ống nhựa màu xanh dương được hàn kín, bên trong các đoạn ống nhựa đều có chứa tinh thể rắn màu trắng; 01 túi nylon trong được hàn kín hai đầu, bên trong có chứa tinh thể rắn màu trắng; 01 đoạn ống nhựa được hàn kín hai đầu, bên trong có chứa tinh thể rắn màu trắng; 01 túi nylon trong được hàn kín hai đầu, bên trong có chứa tinh thể rắn màu trắng được phát hiện bên trong khẩu trang có chữ “Mai A” được phát hiện; 02 ống thủy tinh được uốn cong có một đầu hình cầu, của mỗi ống thủy tinh đều có dính chất rắn màu trắng-nâu; 01 bật lửa màu đỏ; 01 hộp vải màu đen, có dây kéo.

    Tịch thu, nộp Ngân sách Nhà nước: 01 điện thoại di động nhãn hiệu OPPO, màu xanh-đen, màn hình cảm ứng, đã qua sử dụng; 01 điện thoại di động nhãn hiệu OPPO, màu xanh, màn hình cảm ứng bị nứt, đã qua sử dụng.

    (Theo Phiếu Nhập Kho số NK06 ngày 30/10/2024 của Chi cục Thi hành án

    Dân sự huyện Long Phú, tỉnh Sóc Trăng)

  6. Về án phí sơ thẩm: căn cứ Khoản 2 Điều 135; Khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng Hình sự; Khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

    Buộc mỗi bị cáo phải chịu 200.000 đồng là án phí hình sự sơ thẩm.

Các bị cáo có quyền kháng cáo bản án sơ thẩm trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án. Để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Sóc Trăng xét xử lại theo trình tự phúc thẩm.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Sóc Trăng;
  • - VKSND tỉnh Sóc Trăng;
  • - Phòng HSNV-CA tỉnh Sóc Trăng (PV06);
  • - CQTHAHS-CA tỉnh Sóc Trăng (PC10)
  • - VKSND huyện Long Phú;
  • - Phân Trại Tạm giam huyện Long Phú;
  • - Chi cục THADS huyện L;
  • - UBND các xã P, xã H; xã T và TT. Đ;
  • - Các bị cáo;
  • - Lưu hồ sơ.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

(Đã ký)

Trần Bảo Quốc

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 14/2025/HS-ST ngày 18/03/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LONG PHÚ, TỈNH SÓC TRĂNG về hình sự (mua bán trái phép chất ma túy và tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy)

  • Số bản án: 14/2025/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự (Mua bán trái phép chất ma túy và Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy)
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 18/03/2025
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LONG PHÚ, TỈNH SÓC TRĂNG
  • Áp dụng án lệ:
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Các bị cáo Vỏ Văn L và Nguyễn Bảo C phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy” và tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”. Các bị cáo Nguyễn Nhựt M và Trần Minh T1 phạm tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”.
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger