Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THỊ XÃ BA ĐỒN

TỈNH QUẢNG BÌNH


Bản án số: 14/2025/HS-ST

Ngày 17 - 3 - 2025

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc


NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ BA ĐỒN, TỈNH QUẢNG BÌNH

***

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Tưởng Thị Hà

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Hoàng Thanh Diện và ông Hoàng Công Nghĩa

- Thư ký phiên tòa: Bà Phạm Thị Kiều Phương - Thư ký Tòa án nhân dân thị xã Ba Đồn, tỉnh Quảng Bình

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Ba Đồn tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Ngọc Giang - Kiểm sát viên

Ngày 17 tháng 3 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân thị xã Ba Đồn, tỉnh Quảng Bình, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 08/2025/TLST-HS ngày 19 tháng 02 năm 2025, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 09/2025/QĐXXST-HS ngày 04 tháng 3 năm 2025, đối với các bị cáo:

1. Ngô Xuân D, sinh ngày 17 tháng 8 năm 2000 tại thành phố Đ, tỉnh Quảng Bình; nơi cư trú: Thôn A H, xã L, thành phố Đ, tỉnh Quảng Bình; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: lớp 11/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Ngô D1, sinh năm 1972 và bà Phạm Thị D2, sinh năm 1976; chưa có vợ, con; về nhân thân: Ngày 15/01/2019, bị Tòa án nhân dân thành phố Đồng Hới xử phạt 09 tháng tù về tội “Cố ý gây thương tích”, chấp hành xong và ra trại ngày 03/7/2019; ngày 27/11/2019, bị Tòa án nhân dân thành phố Đồng Hới xử phạt 07 năm tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, chấp hành xong và ra trại ngày 04/5/2024 về sống tại địa phương thì tiếp tục phạm tội; tiền án: có 01 tiền án, ngày 27/11/2019, bị Tòa án nhân dân thành phố Đồng Hới xử phạt 07 năm tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo Bản án số 78/2019/HS-ST ngày 04/5/2024, bị cáo chấp hành xong án phạt tù chưa được xóa án tích thì tiếp tục phạm tội; tiền sự: không; bị cáo bị bắt tạm giữ sau đó chuyển tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an thị xã B, tỉnh Quảng Bình (nay là Trại tạm giam Công an tỉnh Q), kể từ ngày 02/10/2024 cho đến nay. Theo lệnh trích xuất bị cáo có mặt tại phiên toà.

2. Trần Văn Đ, sinh ngày 28 tháng 5 năm 1991 tại thị xã B, tỉnh Quảng Bình; nơi cư trú: Thôn D, xã Q, thị xã B, tỉnh Quảng Bình; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: lớp 10/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Công giáo; quốc tịch: Việt Nam; con ông Trần Hồng Đ1, sinh năm 1959 và bà Hoàng Thị Đ2, sinh năm 1964; chưa có vợ, con; về nhân thân: Ngày 21/12/2017, bị Tòa án nhân dân thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dương xử phạt 07 năm 06 tháng tù về tội: “Mua bán trái phép chất ma túy”, ngày 23/01/2022 chấp hành xong ra trại về sống tại địa phương thì tiếp tục phạm tội; tiền án: có 01 tiền án, ngày 21/12/2017, bị Tòa án nhân dân thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dương xử phạt 07 năm 06 tháng tù về tội: “Mua bán trái phép chất ma túy” theo Bản án số 336/2017/HS-ST; ngày 23/01/2022, bị cáo chấp hành xong hình phạt tù chưa được xóa án tích thì tiếp tục phạm tội; tiền sự: không; bị cáo bị bắt tạm giữ sau đó chuyển tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an thị xã B, tỉnh Quảng Bình (nay là Trại tạm giam Công an tỉnh Q), kể từ ngày 01/10/2024 cho đến nay. Theo lệnh trích xuất bị cáo có mặt tại phiên toà.

Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan:

- Chị Trần Thị Thanh N, sinh năm 1991; nơi cư trú: Ngõ I L, phường H, thành phố Đ, tỉnh Quảng Bình. Có mặt

- Anh Trương Quốc T, sinh năm 1988; nơi cư trú: Thôn T, xã Q, thị xã B, tỉnh Quảng Bình. Vắng mặt

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Sáng ngày 01/10/2024, Trần Văn Đ nảy sinh ý định sử dụng ma túy nên đã gọi điện thông qua ứng dụng Zalo cho Ngô Xuân D để mua ma túy nhưng D không nghe máy. Tiếp đó, Đ nhắn tin qua ứng dụng Zalo của D và hỏi mua 3.500.000 đồng ma tuý “hồng phiến” thì D đồng ý, hai bên hẹn nhau đầu giờ chiều gặp nhau tại thành phố Đ, tỉnh Quảng Bình để thực hiện giao dịch. Đến khoảng 13 giờ 05 phút cùng ngày, Đ sử dụng số tài khoản 0334686951 mang tên “TRAN VAN DAO” của Ngân hàng thương mại cổ phần Q (M) chuyển vào số tài khoản 17082000999 mang tên “NGO XUAN DUC” thuộc Ngân hàng thương mại cổ phần T1 (T2) của D số tiền 5.500.000 đồng (trong đó 3.500.000 đồng là tiền mua ma túy và 2.000.000 đồng là tiền trả nợ ăn nhậu trước đây). Sau đó, Đ thuê xe dịch vụ taxi của anh Trương Quốc T, sinh năm 1988, trú tại thôn T, xã Q, thị xã B chở vào thành phố Đ. Đến khoảng 14 giờ 30 phút cùng ngày, Đ đi đến phòng trọ của chị Trần Thị Thanh N, sinh năm 1991 tại Ngõ I, đường L, phường H, thành phố Đ (là bạn gái của D) để gặp D, hai bên nói chuyện được một lúc thì D lấy trong túi quần ra 01 túi nilon màu xanh được quấn lại bằng mảnh giấy màu trắng bên trong chứa 178 viên ma tuý “hồng phiến” đưa cho Đ. Tiếp đó, Đ bỏ số ma túy vừa mua được vào một bao thuốc lá và cất giấu vào trong túi áo phía trong bên trái đang mặc trên người rồi đi ra xe taxi để về lại nhà của mình tại xã Q, thị xã B. Đến khoảng 16 giờ 30 phút cùng ngày, khi xe ô tô nhãn hiệu HUYNDAI, số loại ACCENT, BKS 73A - 145.89 do anh Trương Quốc T chở Trần Văn Đ đi đến đoạn đường nội phường thuộc TDP C, phường Q, thị xã B thì bị Tổ công tác Công an thị xã B tiến hành dừng phương tiện để kiểm tra, do lo sợ bị phát hiện nên Trần Văn Đ đã vứt bao thuốc lá bên trong chứa 178 viên ma túy “hồng phiến” xuống đường thì bị Tổ công tác Công an thị xã B phát hiện, lập biên bản bắt người phạm tội quả tang, thu giữ các đồ vật, tài liệu liên quan.

Căn cứ lời khai của Trần Văn Đ, Cơ quan điều tra đã tiến hành khám xét khẩn cấp chỗ ở của Ngô Xuân D tại Ngõ I, đường L, phường H, thành phố Đ, quá trình khám xét phát hiện và thu giữ 01 gói nilon màu trong suốt, bên trong có chứa chất tinh thể màu trắng được đựng trong một hộp nhựa nhãn hiệu XILYTOL (D khai nhận là ma túy Ketamine), cùng một số đồ vật, tài liệu liên quan. Tại Cơ quan điều tra, D khai nhận về nguồn gốc số ma túy “hồng phiến” đã bán cho Đ và ma túy Ketamine thu giữ tại phòng trọ là do Dục mua được từ một người đàn ông không rõ tên, địa chỉ cụ thể tại khu vực bãi biển thuộc xã B, thành phố Đ vào ngày 30/9/2024. Theo đó, D mua được từ người đàn ông này 180 viên ma túy “hồng phiến” và 01 gói nilon chứa ma túy Ketamine với giá 3.000.000 đồng. Sau đó, D tìm bãi đất trống, sử dụng hết 02 viên ma túy “hồng phiến”, số 178 viên ma túy “hồng phiến” còn lại D bán cho Đ và cất giấu số ma túy Ketamin nhằm mục đích bán kiếm lời.

Tại Bản kết luận giám định số 1082/KL-KTHS ngày 04/10/2024 của Phòng K Công an tỉnh Q kết luận:

- 178 viên nén hình tròn, màu hồng (Mẫu ký hiệu Al) thu giữ trong quá trình bắt quả tang Trần Văn Đ là chất ma túy, loại Methamphetamine, khối lượng 16,114g (mười sáu phẩy một trăm mười bốn gam).

Methamphetamine nằm trong danh mục các chất ma túy, Số thứ tự: 247, Danh mục IIC, Nghị định số 57/2022/NĐ - CP ngày 25 tháng 8 năm 2022 của Chính phủ.

- Chất tinh thể màu trắng chứa trong túi nilon (Mẫu ký hiệu A2) thu giữ trong quá trình khám xét khẩn cấp chỗ ở của Ngô Xuân D tại Ngõ I, đường L, phường H, thành phố Đ, tỉnh Quảng Bình là chất ma túy, loại Ketamine, khối lượng 0,329g (không phẩy ba trăm hai mươi chín gam).

Ketamine nằm trong danh mục các chất ma túy, Số thứ tự: 40, Danh mục III, Nghị định số 57/2022/NĐ - CP ngày 25 tháng 8 năm 2022 của Chính phủ.

Quá trình điều tra Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thị xã B đã thu giữ:

- Thu giữ trong quá trình bắt quả tang Trần Văn Đ 01 túi nilon màu xanh, bên trong có chứa 178 viên nén hình tròn, màu hồng, dạng thuốc tân dược; thu giữ trong quá trình khám xét khẩn cấp chổ ở của Ngô Xuân D 01 túi nilon chứa chất tinh thể màu trắng. Sau khi giám định đã được cho vào một phong bì thư rồi dán kín, trên ghi nội dung “1082/KL-KTHS”, niêm phong bằng các chữ ký của những người tham gia niêm phong, hình dấu của Phòng K Công an tỉnh Q, bên trong chứa: 15,838g (mười lăm phẩy tám trăm ba mươi tám gam) chất ma túy, loại Methamphetamine chứa trong túi nilon trong suốt, ngoài ghi nội dung “Al”; 0,187g (không phẩy một trăm tám mươi bảy gam) chất ma túy, loại Ketamine còn lại sau gám định của mẫu ký hiệu A2 và toàn bộ vỏ bao gói;

- Thu giữ từ Trần Văn Đ 01 vỏ bao thuốc lá điếu màu nâu trên vỏ bao có dòng chữ WAR HORSE; 01 mảnh giấy màu trắng không rõ hình dạng và 01 điện thoại di động nhãn hiệu OPPO A3s, màu đen, có gắn thẻ sim số 0334686951; số IMEI1 865720044658570, số IMEI2 865720044658562, màn hình điện thoại bị nứt vỡ, đã qua sử dụng;

- Thu giữ từ Ngô Xuân D 01 hộp nhựa, nhãn hiệu và hình ảnh viên ngăn ngừa sâu răng XYLITOL, đã qua sử dụng; 01 chai nhựa trong suốt không có nắp đậy, kích thước dài 20cm, phần rộng nhất 5,5cm, trên thân chai có đục một lỗ và gắn ống nhựa màu trong suốt; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 15 ProMax, vỏ màu xám, có gắn thẻ sim số 0819534827 và một eSIM số 0835343338, số IMEI 358181353287564, đã qua sử dụng;

- Thu giữ từ anh Trương Quốc T 01 xe ô tô nhãn hiệu HUYNDAI, số loại ACCENT, BKS: 73A - 145.89, màu sơn trắng; số khung: 41BAKN022223; số máy: G4LCKF706509, đã qua sử dụng. Quá trình điều tra, xác định xe ô tô nói trên thuộc sở hữu của anh Trương Quốc T và không liên quan đến hành vi phạm tội nên Cơ quan điều tra đã trả lại cho anh T.

Đối với số tiền 3.500.000 đồng mà Ngô Xuân D có được từ việc bán ma túy cho Đ, thì D khai nhận đã sử dụng để tiêu xài cá nhân hết.

Tại bản Cáo trạng số 09/CT - VKSBĐ ngày 19 tháng 02 năm 2025, Viện kiểm sát nhân dân thị xã Ba Đồn đã truy tố bị cáo Ngô Xuân D về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo quy định tại các điểm p, q khoản 2 Điều 251 Bộ luật Hình sự; bị cáo Trần Văn Đ về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại các điểm g, o khoản 2 Điều 249 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Ba Đồn giữ nguyên quan điểm truy tố và đề nghị:

Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Ngô Xuân D phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”; Trần Văn Đ phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”

Về hình phạt: Áp dụng các điểm p, q khoản 2 Điều 251; điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38 Bộ luật Hình sự; xử phạt bị cáo Ngô Xuân D từ 09 đến 10 năm tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”; áp dụng các điểm g, o khoản 2 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Trần Văn Đ từ 06 đến 07 năm tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”

Về vật chứng của vụ án: Áp dụng Điều 46, khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng Hình sự:

- Tịch thu tiêu hủy: 01 phong bì thư dán kín, trên ghi nội dung “1082/KL-KTHS”, niêm phong bằng các chữ ký của những người tham gia niêm phong, hình dấu của Phòng K Công an tỉnh Q, bên trong chứa: 15,838g chất ma túy, loại Methamphetamine chứa trong túi nilon trong suốt, ngoài ghi nội dung “A1”; 0,187g chất ma túy, loại Ketamine còn lại sau gám định của mẫu ký hiệu A2 và toàn bộ vỏ bao gói; 01 vỏ bao thuốc lá điếu màu nâu trên vỏ bao có dòng chữ WAR HORSE; 01 mảnh giấy màu trắng không rõ hình dạng; 01 hộp nhựa, nhãn hiệu và hình ảnh viên ngăn ngừa sâu răng XYLITOL, đã qua sử dụng; 01 chai nhựa trong suốt không có nắp đậy, kích thước dài 20cm, phần rộng nhất 5,5cm, trên thân chai có đục một lỗ và gắn ống nhựa màu trong suốt; 01 thẻ sim số 0334686951; 01 thẻ sim số 0819534827 và một eSIM số 0835343338.

- Tịch thu nộp ngân sách nhà nước 01 điện thoại di động nhãn hiệu OPPO A3s, màu đen, đã qua sử sụng; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 15 ProMax, vỏ màu xám, đã qua sử dụng;

- Buộc bị cáo Ngô Xuân D nộp số tiền 3.500.000 đồng để nộp vào Ngân sách nhà nước.

Về án phí: Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội, buộc các bị cáo Ngô Xuân D và Trần Văn Đ mỗi bị cáo phải nộp 200.000 đồng tiền án phí hình sự sơ thẩm để nộp Ngân sách Nhà nước

Các bị cáo nhận thấy hành vi của mình là vi phạm pháp luật và nhất trí với tội danh, khung hình phạt mà Viện kiểm sát nhân dân thị xã Ba Đồn đã truy tố đối với các bị cáo nên không tranh luận gì.

Lời nói sau cùng, các bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo để các bị cáo sớm trở về với gia đình.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về tố tụng: Trong quá trình điều tra, truy tố Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng Hình sự. Quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa các bị cáo không có ý kiến hay khiếu nại gì về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đúng quy định của pháp luật.

[2] Về hành vi phạm tội của các bị cáo: Lời khai nhận của các bị cáo tại phiên toà phù hợp với nhau, phù hợp với lời khai tại cơ quan điều tra, bản kết luận giám định cũng như nội dung bản Cáo trạng của Viện kiểm sát cùng các chứng cứ, tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án. Như vậy, đã có cơ sở xác định vào ngày 01 tháng 10 năm 2024, tại Ngõ I, đường L, phường H, thành phố Đ, tỉnh Quảng Bình, Ngô Xuân D đã có hành vi bán 16,114g chất ma túy, loại Methamphetamine cho Trần Văn Đ với giá 3.500.000 đồng. Sau đó, Trần Văn Đ đang cất giấu, tàng trữ trái phép chất ma túy để sử dụng, khi đi đến đoạn đường nội phường thuộc tổ dân phố C, phường Q, thị xã B, tỉnh Quảng Bình thì bị phát hiện và lập biên bản phạm tội quả tang, thu giữ các vật chứng liên quan. Quá trình khám xét khẩn cấp chỗ ở của Ngô Xuân D phát hiện, thu giữ thêm 0,329g chất ma túy, loại Ketamine do D cất giấu nhằm mục đích bán kiếm lời. Theo Nghị định số 19/2018/NĐ-CP ngày 02/02/2018 của Chính phủ, quy định về việc tính tổng khối lượng hoặc thể tích chất ma túy tại một số điều của Bộ luật Hình sự năm 2015, thì tỷ lệ hai chất ma túy mà Ngô Xuân D sử dụng bán kiếm lời là (16,114/30 + 0,329/100) x 100% = 54,042% < 100%. Do đó, bị cáo Ngô Xuân D phải bị áp dụng tình tiết định khung hình phạt theo quy định tại điểm p khoản 2 Điều 251 Bộ luật Hình sự. Hiện tại bị cáo Ngô Xuân D đang có 01 tiền án về tội rất nghiêm trọng tại Bản án số 78/2019/HS-ST ngày 27/11/2019 của Tòa án nhân dân thành phố Đồng Hới, xử phạt 07 năm tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, D chấp hành xong hình phạt tù ngày 04/5/2024 chưa được xóa án tích thì tiếp tục phạm tội rất nghiêm trọng nên thuộc trường hợp tái phạm nguy hiểm theo quy định tại điểm a khoản 2 Điều 53 Bộ luật Hình sự; bị cáo Trần Văn Đ đang có 01 tiền án về tội rất nghiêm trọng tại Bản án số 336/2017/HS-ST ngày 21/12/2017 của Tòa án nhân dân thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dương xử phạt 07 năm 06 tháng tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”, Đ chấp hành xong hình phạt tù ngày 23/01/2022 chưa được xóa án tích thì tiếp tục phạm tội rất nghiêm trọng nên thuộc trường hợp tái phạm nguy hiểm theo quy định tại điểm a khoản 2 Điều 53 Bộ luật Hình sự. Như vậy, Hành vi của bị cáo Ngô Xuân D đủ yếu tố cấu thành tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo quy định tại các điểm p, q khoản 2 Điều 251 Bộ luật Hình sự; hành vi của bị cáo Trần Văn Đ đủ yếu tố cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại các điểm g, o khoản 2 Điều 249 Bộ luật Hình sự.

[3] Về tính chất, mức độ hành vi phạm tội của các bị cáo:

Các bị cáo đều là những người đã trưởng thành, có đầy đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự, nhận thức rõ hành vi mua bán và tàng trữ trái phép chất ma túy là vi phạm pháp luật, xâm phạm đến chính sách độc quyền của nhà nước về quản lý chất ma túy của nhà nước, xâm phạm đến trật tự an toàn xã hội, là một trong những nguyên nhân làm phát sinh một số loại tội phạm khác nhưng vì mục đích kiếm lời và để có ma túy sử dụng, các bị cáo vẫn cố ý thực hiện. Các bị cáo D và Đ đều có nhân thân xấu, đã từng bị Tòa án xét xử. Tuy nhiên, sau khi chấp hành xong hình phạt tù chưa được xóa án tích thì các bị cáo lại tiếp tục phạm tội. Điều đó thể hiện các bị cáo có ý thức coi thường pháp luật, sẵn sàng phạm tội khi có điều kiện. Vì vậy, cần phải áp dụng các quy định của Bộ luật Hình sự để xử phạt nghiêm khắc nhằm mục đích răn đe, giáo dục ý thức chấp hành pháp luật đối với các bị cáo nói riêng và phòng ngừa chung đối với các đối tượng khác.

[4] Về các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của các bị cáo:

- Tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Không;

- Tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa, các bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình, quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

[5] Liên quan trong vụ án có chị Trần Thị Thanh N là người thuê phòng trọ mà D và Đ đã đến gặp nhau tại phòng trọ của chị N để giao ma túy; anh Trương Quốc T là chủ xe dịch vụ taxi đã chở Trần Văn Đ đi gặp D. Tuy nhiên, do những người này không biết về hành vi mua bán và tàng trữ trái phép chất ma túy của Ngô Xuân D và Trần Văn Đ nên không có cơ sở để xử lý theo quy định pháp luật, Cơ quan điều tra đã tiến hành nhắc nhở, răn đe, giáo dục chung.

Đối với người đàn ông đã bán ma túy “hồng phiến” và ma túy Ketamine cho Ngô Xuân D tại khu vực bãi biển X, thành phố Đ. Do không xác định được lai lịch, địa chỉ cụ thể của hai người này nên Cơ quan điều tra tiếp tục lập hồ sơ theo dõi, khi nào có kết quả thì xử lý sau.

[6] Về hình phạt: Căn cứ vào tính chất, mức độ hành vi phạm tội và nhân thân của các bị cáo, xét thấy cần căn cứ vào Điều 38 Bộ luật Hình sự để xử phạt tù có thời hạn đối với các bị cáo, như đề nghị của Kiểm sát viên tại phiên tòa là phù hợp

[7] Về biện pháp tư pháp: Đối với số tiền Đối với số tiền 3.500.000 đồng mà Ngô Xuân D có được từ việc bán ma túy cho Đ, X thấy, đây là tiền do phạm tội mà có, D khai nhận đã sử dụng để tiêu xài hết. Vì vậy, cần căn cứ vào điểm a khoản 1 Điều 46, điểm b khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự, buộc bị cáo D phải nộp lại số tiền trên để nộp vào Ngân sách nhà nước là phù hợp.

[8] Về xử lý vật chứng: Xét thấy, 01 phong bì thư dán kín, trên ghi nội dung “1082/KL-KTHS”, niêm phong bằng các chữ ký của những người tham gia niêm phong, hình dấu của Phòng K Công an tỉnh Q, bên trong chứa: 15,838g chất ma túy, loại Methamphetamine chứa trong túi nilon trong suốt, ngoài ghi nội dung “A1”; 0,187g chất ma túy, loại Ketamine còn lại sau gám định của mẫu ký hiệu A2 và toàn bộ vỏ bao gói là vật cấm tàng trữ, lưu hành nên cần căn cứ vào điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng Hình sự, tịch thu tiêu hủy là phù hợp;

Đối với 01 điện thoại di động nhãn hiệu OPPO A3s, màu đen, màn hình điện thoại bị nứt vỡ, đã qua sử dụng; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 15 ProMax, vỏ màu xám, đã qua sử dụng là phương tiện sử dụng vào việc phạm tội. Vì vậy, cần căn cứ vào điểm a khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự và điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng Hình sự, tịch thu nộp ngân sách nhà nước là phù hợp;

Đối với một vỏ bao thuốc lá điếu, màu nâu, trên vỏ bao có dòng chữ WAR HORSE; một mảnh giấy màu trắng không rõ hình dạng; một hộp nhựa, nhãn hiệu và hình ảnh viên ngăn ngừa sâu răng XYLITOL; một chai nhựa trong suốt không có nắp đậy, kích thước dài 20cm, phần rộng nhất 5,5cm, trên thân chai có đục một lỗ và gắn ống nhựa màu trong suốt; 01 thẻ sim số 0334686951; 01 thẻ sim số 0819534827 và một eSIM số 0835343338 là vật chứng không có giá trị sử dụng nên căn cứ vào điểm c khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng Hình sự, tịch thu, tiêu hủy là phù hợp.

[9] Về án phí: Các bị cáo Ngô Xuân D và Trần Văn Đ phải nộp tiền án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào các điểm p, q khoản 2 Điều 251; điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38 Bộ luật Hình sự đối với bị cáo Ngô Xuân D.

Căn cứ vào các điểm g, o khoản 2 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38 Bộ luật Hình sự đối với bị cáo Trần Văn Đ.

Căn cứ vào điểm a khoản 1 Điều 46, điểm a, c khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; các điểm a, c khoản 2 Điều 106, khoản 2 Điều 135, khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng Hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.

1. Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Ngô Xuân D phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”; bị cáo Trần Văn Đ phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”;

2. Về hình phạt:

- Xử phạt bị cáo Ngô Xuân D 09 (chín) năm tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”. Thời gian chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam là ngày 02 tháng 10 năm 2024.

- Xử phạt bị cáo Trần Văn Đ 06 (sáu) năm 03 (ba) tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Thời gian chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam là ngày 01/10/2024.

Tuyên bố tiếp tục tạm giam các bị cáo Ngô Xuân D và Trần Văn Đ 45 (Bốn mươi lăm) ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm theo quyết định tạm giam bị cáo tại phiên tòa để đảm bảo công tác thi hành án.

3. Về biện pháp tư pháp: Buộc bị cáo Ngô Xuân D phải nộp lại số tiền 3.500.000 đồng để nộp vào Ngân sách nhà nước.

4. Về vật chứng vụ án:

- Tịch thu tiêu hủy 01 phong bì thư dán kín, trên ghi nội dung “1082/KL-KTHS”, niêm phong bằng các chữ ký của những người tham gia niêm phong, hình dấu của Phòng K Công an tỉnh Q; 01 thẻ sim số 0334686951 được gắn trong điện thoại di động nhãn hiệu nhãn hiệu OPPO A3s, màu đen; 01 thẻ sim số 0819534827 và một eSIM số 0835343338 được gắn trong điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 15 ProMax, vỏ màu xám; 01 vỏ bao thuốc lá điếu màu nâu trên vỏ bao có dòng chữ WAR HORSE; 01 mảnh giấy màu trắng không rõ hình dạng; 01 hộp nhựa, nhãn hiệu và hình ảnh viên ngăn ngừa sâu răng XYLITOL, đã qua sử dụng; 01 chai nhựa trong suốt không có nắp đậy, trên thân chai có đục một lỗ và gắn ống nhựa màu trong suốt;

- Tịch thu sung công quỹ Nhà nước 01 điện thoại di động nhãn hiệu OPPO A3s, màu đen, màn hình điện thoại bị nứt vỡ, đã qua sử dụng; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 15 ProMax, vỏ màu xám, đã qua sử dụng

(Vật chứng trên có đặc điểm mô tả như trong Biên bản giao nhận vật chứng giữa Cơ quan Cảnh sát điều tra công an thị xã B và Chi cục Thi hành án thị xã Ba Đồn vào ngày 20/02/2025).

5. Về án phí: Buộc các bị cáo Ngô Xuân D và Trần Văn Đ phải nộp mỗi bị cáo 200.000 đồng tiền án phí hình sự sơ thẩm để nộp vào Ngân sách nhà nước

6. Về quyền kháng cáo: Án xử sơ thẩm, các bị cáo, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án sơ thẩm (đối với người có mặt tại phiên toà) hoặc trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận bản án hoặc kể từ ngày niêm yết bản án (đối với người vắng mặt tại phiên toà).

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Quảng Bình;
  • - VKSND tỉnh Quảng Bình;
  • - Sở Tư pháp tỉnh Quảng Bình;
  • - VKSND thị xã Ba Đồn;
  • - Trại TG Công an tỉnh Quảng Bình;
  • - Chi cục THADS thị xã Ba Đồn;
  • - Các bị cáo;
  • - Lưu hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa

(Đã ký)

Tưởng Thị Hà

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 14/2025/HS-ST ngày 17/03/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ BA ĐỒN, TỈNH QUẢNG BÌNH về vụ án hình sự về tội mua bán trái phép chất ma túy và tàng trữ trái phép chất ma túy

  • Số bản án: 14/2025/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Vụ án hình sự về tội Mua bán trái phép chất ma túy và Tàng trữ trái phép chất ma túy
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 17/03/2025
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ BA ĐỒN, TỈNH QUẢNG BÌNH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Ngô Xuân D và Trần Văn Đ mua bán ma túy thì bị phát hiện bắt quả tang
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger