TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CAO LÃNH TỈNH ĐỒNG THÁP | CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 14/2025/HNGĐ-ST Ngày: 17-3-2025 “V/v tranh chấp hôn nhân và gia đình - ly hôn, nuôi con” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CAO LÃNH, TỈNH ĐỒNG THÁP
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
- - Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Đặng Thị Thanh Thảo
- - Các Hội thẩm nhân dân:
- Ông Nguyễn Hồng Thơ
- Ông Nguyễn Phú Hữu
- - Thư ký phiên toà: Bà Nguyễn Thị Thanh Thuỷ - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Cao Lãnh, tỉnh Đồng Tháp.
Ngày 17 tháng 3 năm 2025, tại trụ sở Toà án nhân dân thành phố Cao Lãnh xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 02/2025/TLST-HNGĐ, ngày 03 tháng 01 năm 2025 về việc “Tranh chấp hôn nhân và gia đình – Ly hôn, nuôi con" theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử sơ thẩm số: 49/2025/QĐXXST-HNGĐ ngày 14 tháng 02 năm 2025 và Quyết định hoãn phiên toà số 52/2025/QĐST-HNGĐ ngày 28 tháng 02 năm 2025, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Nguyễn Thị Thùy T, sinh năm 1998;
Địa chỉ: Số D, Tổ C, Khóm D, Phường F, thành phố C, tỉnh Đồng Tháp.
- Bị đơn: Bùi Minh T1, sinh năm 1997;
Địa chỉ: Số B, ấp T, xã T, thành phố C, tỉnh Đồng Tháp.
(Nguyên đơn có mặt, bị đơn vắng mặt tại phiên tòa).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Tại đơn khởi kiện, nguyên đơn chị Nguyễn Thị Thùy T trình bày:
Về quan hệ hôn nhân: Chị và anh T1 kết hôn năm 2017, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân Phường F, thành phố C, tỉnh Đồng Tháp, theo giấy chứng nhận kết hôn số 23, ngày 10/3/2020.
Thời gian đầu vợ chồng chung sống hạnh phúc, đến khoảng đầu năm 2024 thì phát sinh nhiều mâu thuẫn. Nguyên nhân do bất đồng ý kiến, quan điểm sống, không có tiếng nói chung trong đời sống hôn nhân dẫn đến thường xuyên cãi nhau, mâu thuẫn ngày càng trầm trọng. Chị và anh T1 đã ly thân từ đầu năm 2024 cho đến nay, thời gian ly thân anh chị đã nhiều lần tìm cách hòa giải, hàn gắn nhưng không thành. Nhận thấy tình cảm vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân không đạt được. Nay chị Nguyễn Thị Thùy T yêu cầu được ly hôn với anh Bùi Minh T1.
Về con chung: Chị và anh T1 có 01 con chung tên Bùi Nguyễn Tuyết T2, sinh ngày 20/03/2020. Hiện nay, con chung Bùi Nguyễn Tuyết T2 đang sống chung với chị T. Sau khi ly hôn, chị T yêu cầu được trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng con chung Bùi Nguyễn Tuyết T2. Chị T không yêu cầu anh T1 cấp dưỡng nuôi con chung.
Về tài sản chung, nợ chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Tại phiên tòa, chị T vẫn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện, không có yêu cầu nào khác, không cung cấp thêm tài liệu, chứng cứ nào khác.
Anh Bùi Minh T1 tại phiên hoà giải trình bày thống nhất về thời gian kết hôn, mâu thuẫn trong đời sống hôn nhân. Tuy nhiên, anh không thống nhất ly hôn với chị Nguyễn Thị Thùy T vì anh muốn con có đủ cha mẹ, mặc dù anh có lỗi nhưng anh vẫn muốn duy trì quan hệ hôn nhân. Trường hợp phải ly hôn, anh không đồng ý giao con chung chị T nuôi dưỡng với lý do chị T không có công việc ổn định, không có thu nhập để nuôi con và cháu T3 Trà thường gọi điện thoại than buồn với anh. Đối với các yêu cầu khác của chị T về tài sản chung, nợ chung anh cũng thống nhất. Tại phiên toà, anh Bù Minh T4 vắng mặt không có văn bản trình bày ý kiến và không cung cấp thêm tài liệu chứng cứ nào khác.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
- Về tố tụng:
- Về quan hệ pháp luật: Căn cứ vào đơn khởi kiện và các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án xác định nguyên đơn chị Nguyễn Thị Thùy T yêu cầu được ly hôn và nuôi con chung với anh Bùi Minh T1, không có yêu cầu tài sản chung, nợ chung. Như vậy, quan hệ tranh chấp giữa các đương sự là “Tranh chấp về hôn nhân và gia đình - Ly hôn, nuôi con” theo quy định tại Điều 51, Điều 56 và Điều 58 Luật Hôn nhân và Gia đình.
- Về thẩm quyền giải quyết: Tranh chấp về hôn nhân gia đình - ly hôn, nuôi con giữa các đương sự thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án và bị đơn anh Bùi Minh T1 có địa chỉ tại xã T, thành phố C, tỉnh Đồng Tháp nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Cao Lãnh theo quy định tại khoản 1 Điều 28; Điểm a khoản 1 Điều 35; Điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
- Về việc vắng mặt đương sự tại phiên toà: Bị đơn anh Bùi Minh T1 đã được triệu tập hợp lệ nhưng vắng mặt lần thứ hai không có lý do nên xét xử vắng mặt bị đơn là phù hợp với quy định tại Điều 227 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
- Về nội dung:
Về quan hệ hôn nhân: Chị Nguyễn Thị Thùy T và anh Bùi Minh T1 kết hôn năm 2014, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân Phường F, thành phố C, tỉnh Đồng Tháp, theo giấy chứng nhận kết hôn số 23, ngày 10/3/2020 nên quan hệ hôn nhân giữa chị T và anh T1 là hôn nhân hợp pháp, được pháp luật công nhận theo khoản 1 Điều 9 Luật Hôn nhân và gia đình. Chị Nguyễn Thị Thùy T khởi kiện yêu cầu xin ly hôn với anh Bùi Minh T1 vì mâu thuẫn gia đình không thể hàn gắn. Tại phiên hoà giải, anh T1 không đồng ý ly hôn nhưng vắng mặt tại phiên toà, không có văn bản trình bày kiến. Xét thấy, anh Bùi Minh T1 không thể hiện ý muốn hàn gắn, quan hệ hôn nhân của chị Nguyễn Thị Thùy T và anh Bùi Minh T1 có nhiều mâu thuẫn và ngày càng trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được nên yêu cầu xin ly hôn của chị Nguyễn Thị Thùy T là phù hợp với Điều 51, Điều 56 của Luật Hôn nhân và gia đình nên chấp nhận.
Về con chung: Chị Nguyễn Thị Thùy T và anh Bùi Minh T1 có một con chung tên Bùi Nguyễn Tuyết T2, sinh ngày 20/03/2020. Hiện nay, con chung Bùi Nguyễn Tuyết T2 đang sống chung với chị T. Sau khi ly hôn, chị T yêu cầu được trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng con chung Bùi Nguyễn Tuyết T2. Chị T không yêu cầu anh T1 cấp dưỡng nuôi con chung.
Tại phiên hoà giải, anh Bùi Minh T1 không đồng ý giao con chung tên Bùi Nguyễn Tuyết T2, sinh ngày 20/03/2020 cho chị T trực tiếp nuôi dưỡng, Nhưng anh T1 vắng mặt tại phiên toà và cũng không cung cấp được tài liệu, chứng cứ chứng minh ý kiến của mình.
Hội đồng xét xử xét thấy, từ khi chị T và anh T1 không sống chung đến nay con chung đều sống chung và gần gũi với chị T ổn định thời gian dài, phát triển tốt về mọi mặt. Do đó, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của chị T, tiếp tục giao con chung Bùi Nguyễn Tuyết T2, sinh ngày 20/03/2020 cho chị Nguyễn Thị Thùy T trực tiếp nuôi dưỡng, theo quy định tại Điều 81 Luật Hôn nhân và gia đình.
Về cấp dưỡng nuôi con chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.
Về tài sản chung và nợ chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.
- Về án phí dân sự sơ thẩm: Chị Nguyễn Thị Thùy T phải chịu án phí theo quy định tại khoản 4 Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Anh Bùi Minh T1 không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm về hôn nhân và gia đình ly hôn.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 1 Điều 9, Điều 51, Điều 56, Điều 81, Điều 82 và Điều 83 Luật Hôn nhân và Gia đình; khoản 1 Điều 28, khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147, Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu của chị Nguyễn Thị Thùy T. Chị Nguyễn Thị Thùy T được ly hôn với anh Bùi Minh T1.
Về con chung: Chấp nhận yêu cầu của chị Nguyễn Thị Thùy T. Chị Nguyễn Thị Thùy T và anh Bùi Minh T1 có một con chung tên Bùi Nguyễn Tuyết T2, sinh ngày 20/03/2020. Sau khi ly hôn, giao con chung tên Bùi Nguyễn Tuyết T2, sinh ngày 20/03/2020 cho chị Nguyễn Thị Thùy T được trực tiếp nuôi dưỡng. Hiện nay, con chung Bùi Nguyễn Tuyết T2 đang sống chung với chị Nguyễn Thị Thùy T.
Về cấp dưỡng nuôi con chung: Hội đồng xét xử không xem xét.
Sau khi ly hôn, người không được quyền nuôi con chung có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở.
Trường hợp người không được quyền nuôi con chung lạm dụng việc thăm nom để gây cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì người được quyền nuôi con chung có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của người không được quyền nuôi con chung.
Người được quyền nuôi con chung cùng các thành viên gia đình không được cản trở người không được quyền nuôi con chung trong việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con.
Về tài sản chung và nợ chung: Hội đồng xét xử không xem xét.
Về án phí dân sự sơ thẩm: Chị Nguyễn Thị Thùy T phải chịu tiền án phí dân sự sơ thẩm về hôn nhân và gia đình ly hôn là 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí là 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) theo biên lai thu tiền số 0013196 ngày 25/12/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Cao Lãnh, Đồng Tháp. Chị Nguyễn Thị Thùy T đã nộp xong tiền án phí dân sự sơ thẩm về hôn nhân và gia đình ly hôn
Anh Bùi Minh T1 không phải chịu tiền án phí dân sự sơ thẩm về hôn nhân và gia đình ly hôn.
Nguyên đơn có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án này trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án. Bị đơn vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 (mười lăm) ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết hợp lệ.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN- CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ Đặng Thị Thanh Thảo |
Bản án số 14/2025/HNGĐ-ST ngày 17/03/2025 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CAO LÃNH, TỈNH ĐỒNG THÁP về tranh chấp hôn nhân và gia đình - ly hôn, nuôi con
- Số bản án: 14/2025/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hôn nhân và gia đình - ly hôn, nuôi con
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 17/03/2025
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CAO LÃNH, TỈNH ĐỒNG THÁP
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu của chị Nguyễn Thị Thùy T. Chị Nguyễn Thị Thùy T được ly hôn với anh Bùi Minh T1. Về con chung: Chấp nhận yêu cầu của chị Nguyễn Thị Thùy T. Chị Nguyễn Thị Thùy T và anh Bùi Minh T1 có một con chung tên Bùi Nguyễn Tuyết T2, sinh ngày 20/03/2020. Sau khi ly hôn, giao con chung tên Bùi Nguyễn Tuyết T2, sinh ngày 20/03/2020 cho chị Nguyễn Thị Thùy T được trực tiếp nuôi dưỡng. Hiện nay, con chung Bùi Nguyễn Tuyết T2 đang sống chung với chị Nguyễn Thị Thùy T.
