Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

QUẬN DƯƠNG KINH

THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 14/2025/HS-ST

Ngày 17-3-2025

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN DƯƠNG KINH, THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Trần Thị Dung

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Ngô Văn Thành

Bà Tạ Thị Hương

- Thư ký phiên toà: Bà Nguyễn Trang Thanh - Thư ký Toà án nhân dân quận Dương Kinh, thành phố Hải Phòng.

- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân quận Dương Kinh, thành phố Hải Phòng tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Việt Anh - Kiểm sát viên.

Ngày 17 tháng 3 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân quận Dương Kinh, thành phố Hải Phòng xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 08/2025/HSST ngày 24 tháng 01 năm 2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 83/2025/QĐXXST-HS ngày 18 tháng 02 năm 2025 và Thông báo thay đổi thời gian mở phiên tòa số 107/HSST-TB ngày 03 tháng 3 năm 2025, đối với bị cáo:

Đỗ Thị Bích H, sinh ngày 05 tháng 8 năm 1987 tại Hải Phòng. Nơi thường trú: số B Miếu H, phường D, quận L, thành phố Hải Phòng; nơi ở hiện tại: số B đường Đ, phường Đ, quận N, thành phố Hải Phòng; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: Lớp 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nữ; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Đỗ Văn H1 và bà Nguyễn Thị G; bị cáo có chồng là Đặng Văn H2 (không đăng ký kết hôn) và 02 con, con lớn sinh năm 2010, con nhỏ sinh năm 2016; tiền án, tiền sự: Không. Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 01/8/2024 đến ngày 09/8/2024 chuyển tạm giam; có mặt.

- Người làm chứng: Ông Nguyễn Duy Đ; vắng mặt.

- Người chứng kiến: Ông Nguyễn Khắc T; vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Do không có công việc ổn định, H này sinh ý định mua ma tuý H3 về bán cho những người có nhu cầu để kiếm lợi. Chiều ngày 30/7/2024, H sử dụng số điện thoại 0785.571.xxx của mình gọi điện đến số 0376071959 cho Phạm Văn H4, trú tại: Số C T, phường C, quận L, TP Hải Phòng để hỏi mua 2.000.000 đồng ma túy Heroin. Đến khoảng 18 giờ cùng ngày, H4 một mình đi xe mô tô (không rõ biển kiểm soát) đến nhà trọ của H tại số B đường Đ, phường Đ, quận N, thành phố Hải Phòng để bán ma tuý cho H tổng cộng 22 gói nilon màu đen bên trong chứa ma tuý Heroin với số tiền là 2.000.000 đồng. H trả cho H4 1.000.000 đồng tiền mặt, số tiền 1.000.000 đồng còn lại, H chuyển khoản cho H4 vào ngày 31/7/2024.

Huệ cất giấu 21 gói nilon màu đen, mỗi gói có cùng kích thước (2x1)cm bên trong có chứa chất bột màu trắng, dạng cục là ma tuý Heroin vào trong túi xách màu đen có quai đeo, loại túi phụ nữ, mục đích H cất giấu ma tuý trong túi xách để đem đi bán cho người có nhu cầu. Số ma túy còn lại trong túi nilon màu đen kích thước (5x1)cm bên trong có chứa chất bột màu trắng, dạng cục H cất giấu vào túi áo khoác bên phải trong tủ quần áo tầng 02 nhà H đang ở, khi nào bán hết số ma tuý trong túi xách thì H chia nhỏ để bán tiếp. H dự định bán 21 gói ma túy với giá 200.000 đồng/01 gói kích thước (2x1)cm; đối với gói ma túy kích thước (5x1)cm nếu có khách mua thì H bán 3.000.000 đồng.

Khoảng 07 giờ ngày 01/8/2024, H điều khiển xe mô tô biển kiểm soát 16R6-5770 mang theo túi xách bên trong cất giấu 21 gói nilon màu đen chứa ma tuý Heroin mục đích để bán cho những người có nhu cầu để thu lợi nhuận. H đi đến Trung tâm y tế quận H, thành phố Hải Phòng để xin cấp phát thuốc ARV uống điều trị căn bệnh truyền nhiễm HIV. Trên đường đi, H nhận được điện thoại của anh Phạm Đức C, trú tại: tổ dân phố P, phường H, quận D, thành phố Hải Phòng gọi điện tử số 0969921985 đến số máy 0785571555 của H để mua 200.000 đồng ma tuý H3 và H đồng ý bán. H hẹn gặp C tại quán sửa xe khu vực vòng xuyến cầu R thuộc tổ dân phố P, phường A, quận D, thành phố Hải Phòng để bán ma tuý cho C. Đến khoảng 09 giờ 50 cùng ngày, H đến địa điểm hẹn, chưa gặp được Cảnh thì bị lực lượng Công an quận D bắt giữ.

Tiến hành khám xét khẩn cấp nơi ở của Đỗ Thị Bích H tại số B đường Đ, phường Đ, N, Hải Phòng phát hiện thu giữ: 01 túi nilon màu đen kích thước (5x1)cm bên trong chứa chất bột màu trắng nghi là ma túy Heroin tại túi áo khoác bên phải trong tủ quần áo tầng 2; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Samsung màu trắng có ốp màu xanh tại vị trí đầu giường ngủ tầng 2.

Tại Kết luận giám định số 928/KL-KTHS ngày 08/8/2024 của Phòng K Công an thành phố H kết luận về số ma túy thu khi bắt quả tang Đỗ Thị Bích H: “Chất bột màu trắng gửi giám định là ma túy, có khối lượng: 1,83 gam, loại: Heroine (Heroin)”

Tại Kết luận giám định số 933 ngày 07/8/2024 của Phòng K Công an thành phố H kết luận về số ma túy thu giữ tại nơi ở của Đỗ Thị Bích H: “Chất bột màu trắng gửi giám định là ma tuý, có khối lượng: 2,42 gam, loại: Heroin (Heroin)”

Ngày 26/12/2024, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an quận D đã ra Quyết định trưng cầu giám định số 1062 đối với 03 chiếc điện thoại thu giữ của Đỗ Thị Bích H. Ngày 13/01/2025, Phòng kỹ thuật Hình sự Công thành phố K ban hành Kết luận giám định số 87 ngày 13/01/2025 (Kèm theo kết luận giám định: 01 đĩa CD) đối với 03 chiếc điện thoại thu giữ như sau:

  • - Trong mẫu giám định ký hiệu A1 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone mặt sau bị nứt vỡ có số IMEI: 354896095435981 kèm 01 Sim có số ICCID: 8984012310241547526 đã qua sử dụng), tìm thấy: 275 cuộc gọi, 60 tin nhắn tức thì, 10 cuộc hội thoại Facebook, 70 cuộc hội thoại Native Messages, 119 tin nhắn Recent, 361 cuộc hội thoại Zalo được lưu trong máy. Nội dung chi tiết các dữ liệu được lưu tại thư mục ‘Al' trong đĩa CD kèm theo. Không tìm thấy dữ liệu được lưu trong SIM.
  • - Trong mẫu giám định ký hiệu A2 (01 (Một) điện thoại di động nhãn hiệu Redmi có số IMEI1: 862849064830588, IMEI2: 86284906483059 kèm 01 SIM có số ICCID: 8984012206241308465 đã qua sử dụng, tìm thấy: 777 cuộc gọi, 01 tin nhắn tức thì, 155 cuộc hội thoại Facebook, 100 cuộc hội thoại Facebook Messenger, 75 cuộc hội thoại Native Messages, 238 cuộc hội thoại Zalo được lưu trong máy. Nội dung chi tiết các dữ liệu được lưu tại thư mục ‘A2' trong đĩa CD kèm theo. Không tìm thấy dữ liệu được lưu trong SIM.
  • - Trong mẫu giám định ký hiệu A3 (01 điện thoại di động nhãn hiệu SAMSUNG màn hình bị nứt vỡ, trên thân vỏ mặt sau có số IMEI: 35507908096839 đã qua sử dụng, điện thoại trong tình trạng không khởi động được): Không trích xuất được dữ liệu trong máy do điện thoại không khởi động được.

Về vật chứng: Chuyển chi cục thi hành án dân sự quận Dương Kinh gồm:

  • + 01 bao bì được niêm phong dán kín, đóng dấu niêm phong 928MT/PC09 của Phòng K Công an T có chữ ký giáp lai của những người liên quan, bên trong gồm mẫu vật giám định còn lại và vỏ bao bì.
  • + 01bao bì được niêm phong dán kín, đóng dấu niêm phong số 933MT/PC09 của Phòng K - Công an T có chữ ký giáp lai của những người liên quan, bên trong gồm mẫu vật giám định còn lại.
  • + 01 túi xách màu đen có quai đeo kích thước (22x15)cm (loại túi phụ nữ), túi cũ, đã qua sử dụng.
  • + 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 8 màu vàng Gold, mặt kính lưng bị vỡ, kèm theo 01sim điện thoại Mobil 4G có số seri 8401, 2310, 2415, 4752 (Điện thoại, sim cũ đã qua sử dụng).
  • + 01 điện thoại di động nhãn hiệu Redmi A2+ màu đen kèm theo 01 sim điện thoại mobifone 4G có số seri: 8401, 2206, 2413, 0846 (Điện thoại, sim cũ đã qua sử dụng).
  • + 01 điện thoại di động nhãn hiệu Samsung màu trắng có ốp màu xanh.

Đối với chiếc xe mô-tô biển kiểm soát 16R6 - 5770, tài liệu điều tra chưa xác định được chủ sở hữu hợp pháp nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an quận D tách ra để tiếp tục điều tra, xử lý sau.

Đối với Phạm Văn H4, tài liệu điều tra xác định H4 trình bày là quan hệ anh em kết nghĩa với H từ năm 2021 đến nay, bản thân Huệ muốn chung sống với H4 như vợ chồng nhưng H4 không đồng ý và cho rằng H có lối sống phức tạp. Tại Cơ quan điều tra, H4 không thừa nhận việc bán ma tuý cho H vào ngày 30/7/2024. Đối với số tiền 2.000.000 đồng mà H khai nhận trả cho H4 để mua ma tuý ngày 30/7/2024, H4 khai nhận chỉ nhận chuyển khoản của H 1.000.000 đồng. Nguồn gốc của số tiền này là H trả lại tiền cho H4 do trước đó H4 có nhờ H mua hộ 01 lắc tay bạc nhưng H không mua được nên trả lại. Ngày 13/12/2024, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an quận D đã tiến hành cho H4 và H đối chất, kết quả: H4 và H đều giữ nguyên lời khai của mình đã khai báo với Cơ quan điều tra. Ngoài tài liệu lời khai của H khai nhận về việc mua ma tuý của H4 và tài liệu chuyển khoản của H cho H4 thì không có tài liệu chứng cứ khác chứng minh việc H mua ma tuý của H4. Tài liệu điều tra đến nay chưa đủ căn cứ xác định H4 có bán ma tuý của Đỗ Thị Bích H hay không nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an quận D không tiến hành xử lý đối với H4.

Đối với Phạm Đức C, C khai nhận C và H có quen biết với nhau, sáng 01/8/2024, C gọi điện cho H hẹn H đi uống nước ở tổ dân phố P, phường A, quận D, thành phố Hải Phòng. C không thừa nhận việc hẹn gặp H để mua ma tuý như lời khai của H. Tài liệu điều tra đến nay chưa đủ căn cứ xác định C có mua ma tuý của Đỗ Thị Bích H vào sáng ngày 01/8/2024 hay không nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an quận D không tiến hành xử lý đối với C.

Tại bản cáo trạng số 12/CT-VKS ngày 24/01/2025, Viện kiểm sát nhân dân quận Dương Kinh đã truy tố Đỗ Thị Bích H về tội “Mua bán trái phép chất ma tuý” theo khoản 1 Điều 251 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa, bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như nội dung cáo trạng, bị cáo tỏ ra ăn năn, hối cải và xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt.

Đại diện Viện Kiểm sát tại phiên tòa trình bày lời luận tội, sau khi phân tích đánh giá tính chất vụ án, mức độ, tính nguy hiểm và hậu quả của hành vi phạm tội cùng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo đã đề nghị Hội đồng xét xử: Áp dụng khoản 1 Điều 251; điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Đỗ Thị Bích H với mức án từ 5 năm 6 tháng đến 6 năm 6 tháng tù về tội "Mua bán trái phép chất ma túy". Đề nghị không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo vì điều kiện kinh tế khó khăn. Ngoài ra còn đề nghị xử lý vật chứng: Tịch thu tiêu hủy số ma túy còn lại sau giám định, 01 bì được niêm phong dán kín, đóng dấu niêm phong số 2151678 của Phòng K - Công an thành phố H, bên trong có phần còn lại của vỏ túi nilon màu đen, túi xách màu đen có quai đeo, sim điện thoại Mobil 4G có số seri 8401, 2310, 2415, 4752. Đối với 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 8 màu vàng Gold bị cáo dùng vào việc phạm tội, còn giá trị sử dụng nên cần tịch thu sung vào ngân sách nhà nước. Đối với 01 điện thoại nhãn hiệu Samsung màu trắng; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Redmi A2 kèm theo sim điện thoại mobifone 4G có số seri: 8401, 2206, 2413, 084601 là tài sản của bị cáo, không liên quan đến việc phạm tội nên đề nghị trả lại cho bị cáo. Bị cáo phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về tố tụng: Hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an quận D, thành phố Hải Phòng, Điều tra viên; Viện kiểm sát nhân dân quận Dương Kinh, thành phố Hải Phòng, Kiểm sát viên: Trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng Hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hay khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Về hành vi mua bán trái phép chất ma túy: Lời khai của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai tại cơ quan điều tra, phù hợp với lời khai của những người làm chứng, phù hợp với biên bản bắt giữ người có hành vi phạm tội quả tang, vật chứng thu giữ được cùng các tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án. Vì vậy, đã có đủ cơ sở kết luận: Do có nhu cầu bán ma túy để kiếm lời nên ngày 30 tháng 7 năm 2024 bị cáo đã mua 21 gói ma túy kích thước (2x1)cm và 01 gói ma túy kích thước (5x1)cm với giá 2.000.000đồng về để bán lẻ cho các đối tượng khác. Khoảng 10 giờ 25 phút, ngày 01 tháng 8 năm 2024, bị cáo mang theo 21 gói ma túy đến khu vực đường P thuộc tổ dân phố P, phường A, quận D, thành phố Hải Phòng nhằm mục đích bán ma túy nhưng chưa kịp bán thì bị bắt quả tang, thu giữ trong người 1,83 gam Heroin. Ngoài ra, còn thu giữ tại nơi sinh sống của bị cáo ở số B đường Đ, phường Đ, quận N, thành phố Hải Phòng là 2,42 gam Heroin. Tổng khối lượng ma túy thu giữ của bị cáo là 4,25 gam Heroin. Bị cáo khai nhận cất giữ khối lượng ma túy trên nhằm mục đích để bán kiếm lời. Như vậy, hành vi của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội “Mua bán trái phép chất ma túy”, vi phạm khoản 1 Điều 251 Bộ luật Hình sự như Viện kiểm sát truy tố là có căn cứ, đúng pháp luật.

[4] Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội. Trong khi tệ nạn ma túy đang là hiểm họa của xã hội, gây tác hại xấu cho sức khỏe con người, gây ảnh hưởng nghiêm trọng đến trật tự, an toàn xã hội và là tác nhân làm phát sinh nhiều loại tệ nạn xã hội khác; xâm phạm đến các quy định của Nhà nước về quản lý chất ma túy nhưng bị cáo vẫn thực hiện hành vi bán trái phép chất ma túy cho người khác.

[5] Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

[6] Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Tại cơ quan điều tra cũng như tại phiên tòa, bị cáo thành khẩn khai báo, tỏ ra ăn năn hối cải nên bị cáo được áp dụng các tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

[7] Về hình phạt áp dụng đối với bị cáo: Căn cứ tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, đặc điểm nhân thân của bị cáo như đã phân tích ở trên, Hội đồng xét xử thấy rằng: Bị cáo là đối tượng nghiện ma túy. Bị cáo biết việc mua ma túy là vi phạm pháp luật nhưng vì lợi nhuận nên bị cáo đã mua ma túy về để bán cho các đối tượng khác. Do đó, phải xử lý bị cáo mức hình phạt nghiêm tương xứng hành vi phạm tội của bị cáo theo khung hình phạt quy định tại khoản 1 Điều 251 Bộ luật Hình sự, như đề nghị của đại diện Viện Kiểm sát tại phiên tòa mới đủ tác dụng cải tạo bị cáo và phòng ngừa tội phạm chung.

[8] Về hình phạt bổ sung: Theo quy định tại khoản 5 Điều 251 Bộ luật Hình sự bị cáo còn có thể bị phạt tiền. Tuy nhiên Hội đồng xét xử xét thấy: Điều kiện kinh tế của bị cáo khó khăn, theo đề nghị của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa nên không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.

[9] Về xử lý vật chứng: Hội đồng xét xử thấy số ma túy còn lại sau giám định liên quan đến việc phạm tội, là vật cấm lưu hành; 01 túi xách màu đen có quai đeo của bị cáo, 01 bì được niêm phong dán kín, đóng dấu niêm phong số 2151678 của Phòng K - Công an thành phố H, bên trong có phần còn lại của vỏ túi nilon màu đen, 01 sim điện thoại Mobil 4G có số seri 8401, 2310, 2415, 4752 là công cụ phương tiện bị cáo dùng vào việc phạm tội và không còn giá trị sử dụng nên cần tịch thu tiêu hủy. Đối với 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 8 màu vàng Gold bị cáo dùng vào việc phạm tội, còn giá trị sử dụng nên cần tịch thu sung vào ngân sách nhà nước. Đối với 01 điện thoại di động nhãn hiệu Redmi A2 kèm theo sim điện thoại mobifone 4G có số seri: 8401, 2206, 2413, 0846, 01 điện thoại di động nhãn hiệu Samsung màu trắng là tài sản của bị cáo không liên quan đến việc phạm tội nên cần trả lại cho bị cáo theo quy định của pháp luật

[11] Về án phí: Bị cáo phải nộp án phí theo quy định pháp luật.

[12] Về quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào khoản 1 Điều 251, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38 của Bộ luật Hình sự:

  • - Tuyên bố bị cáo Đỗ Thị Bích H phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.
  • - Xử phạt Đỗ Thị Bích H 06 (sáu) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 01 tháng 8 năm 2024.
  • - Về vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự, Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự:
  • + Tịch thu tiêu hủy: 01 bao bì niêm phong số 928MT/PC09 của Phòng K - Công an thành phố H và 01 bao bì niêm phong số 933MT/PC09 của Phòng K - Công an thành phố H, bên trong có chứa số ma túy còn lại sau giám định; 01 túi xách màu đen có quai đeo kích thước (22x15)cm đã qua sử dụng; 01 sim điện thoại Mobifone 4G có số seri 8401, 2310, 2415, 4752; 01 bì được niêm phong dán kín, đóng dấu niêm phong số 2151678 của Phòng K - Công an thành phố H, bên trong có phần còn lại của vỏ túi nilon màu đen.
  • + Tịch thu sung vào ngân sách Nhà nước: 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 8 màu vàng Gold (đã qua sử dụng), mặt kính lưng bị vỡ.
  • + Trả lại bị cáo cho bị cáo: 01 điện thoại di động nhãn hiệu Samsung màu trắng có ốp màu xanh (đã qua sử dụng). 01 điện thoại di động nhãn hiệu Redmi A2+ màu đen (đã qua sử dụng) kèm sim điện thoại Mobifone 4G có số seri 8401, 2206, 2413, 0846 nhưng tiếp tục tạm giữ số tài sản trên để đảm bảo thi hành án.

(các vật chứng có đặc điểm theo Biên bản giao nhận vật chứng ngày 07 tháng 02 năm 2025 tại Chi cục Thi hành án dân sự quận Dương Kinh, thành phố Hải Phòng)

  • - Về án phí: Áp dụng Điều 135, Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội: Buộc bị cáo phải nộp 200.000 (hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm.

Về quyền kháng cáo: Bị cáo được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Trong trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6,7,7a và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - VKSND quận Dương Kinh;
  • - VKSND TP Hải Phòng;
  • - Cơ quan điều tra Công an Q.Dương Kinh;
  • - Cơ quan THAHS quận Dương Kinh;
  • - PV06; PC 10;
  • - Chi cục THADS quận Dương Kinh;
  • - Sở Tư pháp;
  • - Trại tạm giam Công an TP Hải Phòng;
  • - Bị cáo;
  • - UBND cấp xã nơi bị cáo cư trú;
  • - Tòa án TP Hải Phòng;
  • - Lưu: Hồ sơ vụ án, văn phòng.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Trần Thị Dung

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 14/2025/HS-ST ngày 17/03/2025 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN DƯƠNG KINH, THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG về mua bán trái phép chất ma tuý

  • Số bản án: 14/2025/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Mua bán trái phép chất ma tuý
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 17/03/2025
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN DƯƠNG KINH, THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Đỗ Thị Bích H - Mua bán trái phép chất MT
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger