Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ BẮC GIANG

TỈNH BẮC GIANG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 14/2025/DS-ST

Ngày 14 tháng 03 năm 2025

V/v “Yêu cầu thực hiện nghĩa vụ”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẮC GIANG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Dương Đình Hưng

Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Nguyễn Văn Bảng.

2. Ông Nguyễn Văn Môn.

Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Thế Thiện - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Bắc Giang.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bắc Giang tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Dương Quỳnh - Kiểm sát viên.

Trong ngày 14 tháng 03 năm 2025, tại Trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Bắc Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 218/2023/TLST- DS ngày 14/12/2023 về việc “Yêu cầu thực hiện nghĩa vụ”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 09/2025/QĐXXST-DS ngày 21/01/2025; Quyết định hoãn phiên tòa số 18/2025/QĐ-ST ngày 14/02/2025, giữa các đương sự:

*Nguyên đơn: Bà Trần Thị L, sinh năm 1957, (Có mặt).

HKTT: Số nhà 128, đường Hùng Vương, tổ Hùng Vương, phường Hoàng Văn Thụ, thành phố Bắc Giang

Chỗ ở: Thôn Lý, xã Việt Lập, huyện Tân Yên, tỉnh Bắc Giang

*Bị đơn: Công ty TNHH X (T), (Vắng mặt).

Địa chỉ trụ sở: Số B, đường N, phường D, thành phố B.

Người đại diện theo pháp luật: Người đại diện theo pháp luật: Ông Nguyễn Văn N, sinh năm 1982, chức danh: Giám đốc

*Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan:

- Bà Phạm Thị Thùy D, sinh năm 1977, (Vắng mặt).

Địa chỉ: TDP G, phường D, thành phố B

- Công ty cổ phần Đ, (Vắng mặt).

Địa chỉ: Số H, phố T, K, Đ, Hà Nội.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

* Tại đơn khởi kiện và quá trình tố tụng tại Toà án, nguyên đơn là Trần Thị L trình bày:

Ngày 01/5/2022, Bà Trần Thị L (Bên B) và Công ty TNHH X (Sau đây viết tắt là công ty X) là Bên A (do bà Phạm Thị Thùy D – Chức vụ: Giám đốc là người đại diện) ký kết hợp đồng thỏa thuận đặt cọc với nội dung chính: Bên A đồng ý nhận đặt cọc và Bên B đồng ý đặt cọc 42 lô đất thuộc LK8 và 9 dự án khu dân cư S, xã T, huyện L, tỉnh Bắc Giang; Bên B giao cho Bên A tổng số tiền đặt cọc là 4.000.000.000₫ (Bốn tỷ đồng chẵn).

Hai bên cam kết một số nội dung chính trong hợp đồng có liên quan đến yêu cầu khởi kiện như sau:

  • Trong vòng 120 ngày kể từ ngày nhận đặt cọc, Bên A sẽ đưa Bên B đến uỷ quyền sang tên chính chủ Bên B hoặc bên thứ 3 do Bên B chỉ định với chủ đầu tư là Công ty cổ phần Đ (gọi tắt là Chủ đầu tư) và đóng tổng số tiền đợt 1 theo tiến độ của chủ đầu tư.
  • Sau khi nhận đặt cọc Bên B mà Bên A không tiếp tục ký hợp đồng những lô đất trong dự án và làm sai các nội dung như trong cam kết thỏa thuận ở Điều 1 thì Bên A phải hoàn trả cho Bên B toàn bộ số tiền mà Bên A đã nhận từ Bên B và phải chịu phạt một khoản phí phạt bằng 50% số tiền mà Bên B đã đặt chuyển cho Bên A tương đương: 6.000.000.000 (Sáu tỷ đồng chẵn)
  • Sau khi đặt cọc cho bên A, mà bên B từ chối nhận chuyển nhượng các lô đất trên từ bên A như đã thỏa thuận (tức không mua nữa) bên B sẽ mất toàn bộ số tiền cho bên A.

Ngay khi ký kết hợp đồng thỏa thuận đặt cọc, bà L đã giao cho Bên A đủ số tiền 4.000.000.000₫ (Bốn tỷ đồng chẵn).

Hết thời hạn 120 ngày theo thỏa thuận trong Hợp đồng thỏa thuận đặt cọc, đến ngày 29/9/2022 Công ty X thông báo dự án thực hiện bị chậm tiến độ và đề nghị bà L ký kết phụ lục hợp đồng để thay đổi thời gian thực hiện Hợp đồng thỏa thuận đặt cọc. Bà L nhất trí nên hai bên đã ký kết Phụ lục hợp đồng số 01 – thống nhất điều chỉnh thời gian thực hiện Hợp đồng thỏa thuận đặt cọc được kéo dài đến hết ngày 30/10/2022. Đồng thời trong phụ lục hợp đồng các bên cam kết hết thời hạn điều chỉnh của Hợp đồng tức là hết ngày 30/10/2022 Công ty X không thực hiện nghĩa vụ đã cam kết với bà L, Công ty X không tiếp tục ký hợp đồng những lô đất trong dự án và làm sai các nội dung như trong cam kết thỏa thuận ở Điều 1 thì Công ty X phải hoàn trả cho bà L toàn bộ số tiền cọc và phải chịu phạt một khoản phí phạt bằng 50% số tiền mà bà L đã đặt chuyển cho công ty X tương đương 6.000.000.000₫ (Sáu tỷ đồng chẵn) trong vòng 05 ngày kể từ ngày 30/10/2022; trong thời gian Hợp đồng có hiệu lực mà bà L từ chối nhận chuyển nhượng các lô đất trên từ công ty X như đã thỏa thuận (tức là không mua nữa) bà L sẽ mất toàn bộ số tiền cho công ty X.

Ngày 29/10/2022 căn cứ tình hình thực tế của việc triển khai thực hiện dự án, Công ty X thông báo dự án thực hiện bị chậm tiến độ cho bà L biết. Sau khi trao đổi, hai bên thống nhất thỏa thuận ký Biên bản thanh lý Hợp đồng thỏa thuận đặt cọc đã ký kết ngày 01/5/2022 với nguyên nhân: Trong vòng 150 ngày kể từ ngày nhận đặt cọc (bao gồm cả thời gian gia hạn theo Phụ lục 01 của Hợp đồng này), Bên A sẽ đưa Bên B đến uỷ quyền sang tên chính chủ Bên B hoặc bên thứ 3 do Bên B chỉ định với chủ đầu tư là Công ty cổ phần Đ (Sau đây gọi tắt là Chủ đầu tư) và đóng tổng số tiền đợt 1 theo tiến độ của chủ đầu tư. Tuy nhiên tính đến thời điểm hiện nay đã hết thời gian thực hiện cam kết nhưng hai bên không thống nhất được hợp đồng mua bán với Chủ đầu tư nên việc thực hiện cam kết tiếp theo được 2 bên thống nhất dừng và thanh lý Hợp đồng thỏa thuận đặt cọc này.

Đồng thời trong Biên bản thanh lý hợp đồng hai bên cam kết các nội dung:

  • Đối với bên A: Do Hết thời hạn điều chỉnh của Hợp đồng (tức là ngày 30/10/2022) hai bên không thống nhất được hợp đồng mua bán với Chủ đầu tư mà Bên A không tiếp tục ký hợp đồng những lô đất trong dự án vì vậy Bên A phải hoàn trả cho Bên B toàn bộ số tiền mà Bên A đã nhận từ Bên B là 4.000.000.000₫ (Bốn tỷ đồng chẵn) trong vòng 20 ngày kể từ ngày 1/11/2022 (nghĩa là chậm nhất đến hết ngày 20/11/2022 phải hoàn trả đủ)
  • Trong trường hợp đến hết ngày 20/11/2022 mà Bên B chưa nhận được toàn bộ số tiền nêu trên (Bốn tỷ đồng chẵn) thì Bên A buộc phải thực hiện nghiêm túc Điều 2 của Hợp đồng thỏa thuận đặt cọc nghĩa là Bên A phải hoàn trả cho Bên B toàn bộ số tiền mà Bên A đã nhận từ Bên B và phải chịu phạt một khoản phí phạt bằng 50% số tiền mà Bên B đã đặt chuyển cho Bên A tương đương: 6.000.000.000 (Sáu tỷ đồng chẵn) trong vòng 20 ngày tiếp theo.
  • Trong trường hợp vi phạm cam kết này sau khi được Bên B gửi thông báo, nếu Bên A nhận được thông báo không trả lời hoặc không gặp gỡ trao đổi, hoặc hai bên liên quan có gặp gỡ, trao đổi nhưng không thể giải quyết tranh chấp hoặc thỏa thuận hướng giải quyết phù hợp thì tranh chấp đó sẽ được đưa ra Tòa án nhân dân thành phố Bắc Giang và Bên A phải thanh toán mọi chi phí phát sinh liên quan đến chanh chấp này.

Kể từ khi ký Biên bản thanh lý hợp đồng đến hết ngày 20/11/2022 Công ty X không trả được cho bà L đồng tiền nào như đã cam kết. Sau ngày 20/11/2022 bà L đã nhiều lần yêu cầu công ty X trả tiền không trả.

Do vậy, bà Trần Thị L khởi kiện đề nghị Tòa án nhân dân thành phố Bắc Giang giải quyết: Tuyên buộc Công ty TNHH X (T) phải hoàn trả bà L tổng số tiền là 6.000.000.000đ (Sáu tỷ đồng), trong đó: Tiền bà L đã chuyển để đặt cọc là 4.000.000.000₫ (Bốn tỷ đồng) và tiền phí phạt do vi phạm thỏa thuận là 2.000.000.000₫ (Hai tỷ đồng).

*Trong quá trình giải quyết vụ án, Tòa án nhân dân thành phố Bắc Giang đã triệu tập hợp lệ nhưng bị đơn và người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan không đến làm việc, không có quan điểm trình bày.

* Nguyên đơn bà Trần Thị L trình bày tại phiên tòa: Bà giữ nguyên yêu cầu khởi kiện. Về nguồn gốc số tiền bà dùng để đặt cọc với công ty TNHH X là tài sản cá nhân của bà. Bà yêu cầu công ty TNHH X phải trả cho bà 6.000.000.000 đồng theo biên bản thanh lý hợp đồng ngày 29/10/2022.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bắc Giang phát biểu quan điểm:

  • Về việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán, Thư ký, Hội đồng xét xử đúng với quy định của pháp luật. Việc chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng: Nguyên đơn đã chấp hành đúng về quyền và nghĩa vụ theo quy định tại Điều 70, Điều 71 Bộ luật Tố tụng dân sự; Bị đơn và người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan không chấp hành đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.
  • Về nội dung vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử như sau :
    1. Áp dụng Điều 328; Điều 357; Điều 385; Điều 398; Điều 401; Điều 418 Bộ luật dân sự năm 2015; Điều 26; Điều 35; Điều 39; Điều 144; Điều 147; Điều 180; Điều 271; Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội, xử:

      - Buộc Công ty TNHH X trả cho bà Trần Thị L số tiền 6.000.000.000 đồng, trong đó: 4.000.000.000 đồng là tiền bà L chuyển để đặt cọc và 2.000.000.000 đồng là tiền phí phạt do vi phạm thỏa thuận.

    2. Về chi phí tố tụng : Bà Trần Thị L phải chịu chi phí thông báo trên phương tiện thông tin đại chúng.
    3. Về án phí: Công ty TNHH X phải chịu 114.000.000 đồng tiền án phí dân sự sơ thẩm.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa sau khi tiến hành nghị án, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về quan hệ pháp luật tranh chấp, thẩm quyền giải quyết vụ án:

Ngày 14/12/2023, Tòa án nhân dân thành phố Bắc Giang thụ lý vụ án tranh chấp giữa bà Trần Thị L và công ty X. Tòa án nhân dân thành phố Bắc Giang đã xác định quan hệ pháp luật là “Tranh chấp hợp đồng đặt cọc”. Trong quá trình giải quyết vụ án, xác định nguyên đơn yêu cầu bị đơn phải trả cả số tiền theo biên bản thanh lý hợp đồng ngày 29/10/2022 nên Tòa án nhân dân thành phố Bắc Giang xác định lại quan hệ pháp luật là “Yêu cầu thực hiện nghĩa vụ”.

Bị đơn là công ty TNHH X có địa chỉ tại phường D, thành phố B, căn cứ theo quy định tại khoản 3 Điều 26; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1

Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự, vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Bắc Giang.

[2] Về nội dung vụ án:

- Theo đơn khởi kiện và nguyên đơn trình bày:

+ Ngày 01/5/2022, bà Trần Thị L và công ty X có ký hợp đồng thỏa thuận đặt cọc với nội dung: Bên A đồng ý nhận đặt cọc và Bên B đồng ý đặt cọc 42 lô đất thuộc LK8 và 9 dự án khu dân cư S, xã T, huyện L, tỉnh Bắc Giang; Bên B giao cho Bên A tổng số tiền đặt cọc là 4.000.000.000₫ (Bốn tỷ đồng chẵn).

+ Ngày 29/10/2022, Bà Trần Thị L và công ty X đã thanh lý hợp đồng thỏa thuận đặt cọc ký ngày 01/5/2022 với nội dung: Bên A hoàn trả cho bên B toàn bộ số tiền mà bên A đã nhận là 4.000.000.000 đồng trong vòng 20 ngày kể từ ngày 01/11/2022 và đến hết ngày 20/11/2022 bên B chưa nhận được toàn bộ số tiền 4.000.000.000 đồng thì bên A buộc phải hoàn trả cho bên B toàn bộ số tiền mà bên A đã nhận từ bên B và phải chịu phạt một khoản phí phạt bằng 50% số tiền mà bên B đã đặt chuyển cho bên A tương đương: 6.000.000.000 đồng trong vòng 20 ngày tiếp theo.

Kể từ khi ký Biên bản thanh lý hợp đồng đến hết ngày 20/11/2022, Công ty X không trả được cho bà L khoản tiền nào. Sau ngày 20/11/2022, bà L nhiều lần yêu cầu Công ty X trả tiền nhưng Công ty X hết lần này đến lần khác khất nợ.

- Trong quá trình giải quyết vụ án, Tòa án nhân dân thành phố Bắc Giang đã tiến hành triệu tập hợp lệ tuy nhiên bị đơn và người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan không có ý kiến gì đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

Như vậy, Nguyên đơn đã căn cứ vào biên bản thanh lý hợp đồng ngày 29/10/2022 yêu cầu công ty TNHH X phải trả số tiền 6.000.000.000 đồng trong đó gồm: 4.000.000.000 đồng tiền đặt cọc và 2.000.000.000 đồng tiền phí phạt do vi phạm thỏa thuận. Bị đơn và người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan không có ý kiến đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn. Hội đồng xét xử thấy: Căn cứ hợp đồng đặt cọc, biên bản thanh lý hợp đồng ngày 29/10/2022 và các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ có đủ cơ sở để khẳng định có việc bà L chuyển cho Công ty X số tiền 4.000.000.000 đồng để đặt cọc mua đất, do Công ty X không thực hiện đúng theo thỏa thuận trong hợp đồng đặt cọc nên giữa các bên đã ký kết biên bản thanh lý hợp đồng ngày 29/10/2022, trong đó thỏa thuận Công ty X có nghĩa vụ trả cho bà L tổng số tiền 6.000.000.000 đồng, trong đó: 4.000.000.000 đồng là tiền bà L chuyển để đặt cọc và 2.000.000.000 đồng là tiền phí phạt do vi phạm thỏa thuận. Việc thỏa thuận thanh lý hợp đồng giữa các bên là hoàn toàn tự nguyện, không bị ai ép buộc nên cần xem xét chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, buộc bị đơn là Công ty X trả cho bà L số tiền 6.000.000.000 đồng, trong đó: 4.000.000.000 đồng là tiền bà L chuyển để đặt cọc và 2.000.000.000 đồng là tiền phí phạt do vi phạm thỏa thuận.

[3] . Về chi phí tố tụng : Bà Trần Thị L phải chịu chi phí thông báo trên phương tiện thông tin đại chúng.

[4] Về án phí: Công ty TNHH X phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

[5] Về quyền kháng cáo: Các đương sự có quyền kháng cáo theo quy định tại Điều 271, khoản 1 Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 3 Điều 26; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; Điều 147; Khoản 2 Điều 180; Điều 227; Điều 228; Điều 271; khoản 1 Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự;

Căn cứ Điều 328; Điều 357; Điều 385; Điều 398; Điều 401; Điều 418; Điều 468 Bộ luật dân sự 2015;

Căn cứ khoản 2 Điều 26 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH1430 tháng 12 năm 2016 của Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Xử:

  1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Trần Thị L.

    Buộc công ty TNHH X phải trả cho bà Trần Thị L số tiền 6.000.000.000 đồng. Trong đó : 4.000.000.000 đồng tiền đặt cọc và 2.000.000.000 đồng tiền phí phạt do vi phạm thỏa thuận.

    Kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật (đối với các trường hợp cơ quan thi hành án có quyền chủ động ra quyết định thi hành án) hoặc kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với các khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành án xong, tất cả các khoản tiền, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật Dân sự năm 2015.

  2. Về chi phí tố tụng: Bà Trần Thị L phải chịu 6.000.000 đồng chi phí thông báo trên phương tiện thông tin đại chúng. Xác nhận bà L đã nộp đủ số tiền trên.
  3. Về án phí:

    - Công ty TNHH X phải chịu 114.000.000 đồng tiền án phí dân sự sơ thẩm.

  4. Về quyền kháng cáo:

    Đương sự có mặt có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

    Đương sự vắng mặt có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc 15 ngày kể từ ngày bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.

5. Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6,7, 7a, 7b và 9 Luật thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại điều 30 Luật thi hành án dân sự./.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Bắc Giang;
  • - VKSND thành phố Bắc Giang;
  • - VKSND tỉnh Bắc Giang;
  • - Chi cục THADS thành phố Bắc Giang;
  • - Các đương sự;
  • - Lưu HS, VP.

T/M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Dương Đình Hưng

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 14/2025/DS-ST ngày 14/03/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẮC GIANG về yêu cầu thực hiện nghĩa vụ

  • Số bản án: 14/2025/DS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Yêu cầu thực hiện nghĩa vụ
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 14/03/2025
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẮC GIANG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Bà Trần Thị L khởi kiện công ty T
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger