Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN TÂN CHÂU

TỈNH TÂY NINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 14/2025/HNGĐ-ST

Ngày 14-3-2025

V/v tranh chấp ly hôn, nuôi con.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TÂN CHÂU, TỈNH TÂY NINH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Trần Thanh Quốc.

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Trần Hữu Tiến;

Ông Lê Xuân Cúc.

- Thư ký phiên tòa: Ông Ngô Quốc Việt – Thẩm tra viên Tòa án nhân dân huyện Tân Châu, tỉnh Tây Ninh.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tân Châu, tỉnh Tây Ninh tham gia phiên tòa: Ông Lê Đại Phụng – Kiểm sát viên.

Ngày 14 tháng 3 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Tân Châu, tỉnh Tây Ninh xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 455/2024/TLST-HNGĐ, ngày 15 tháng 10 năm 2024 về tranh chấp ly hôn, nuôi con, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 19/2025/QĐXXST-HNGĐ ngày 14 tháng 02 năm 2025 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Chị Lê Thị Hà C, sinh năm 1998; nơi cư trú: Thôn N, phường T, huyện Ứ, Thành phố Hà Nội.

- Bị đơn: Anh Nguyễn Quốc K, sinh năm 1995; nơi cư trú: Số B, ấp T, xã T, huyện T, tỉnh Tây Ninh.

Chị C có đơn xin vắng mặt; anh K vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Tại đơn khởi kiện ngày 03 tháng 10 năm 2024 và các lời khai trong quá trình giải quyết vụ án nguyên đơn chị Lê Thị Hà C trình bày:

Chị và anh Nguyễn Quốc K sống chung với nhau từ năm 2023, có đăng ký kết hôn tại UBND xã T, huyện T, tỉnh Tây Ninh, hôn nhân tự nguyện.

Sau khi kết hôn vợ chồng sống hạnh phúc thời gian đầu, nhưng thời gian gần đây vợ chồng nhận ra có quá nhiều khác biệt trong cách sống, cách suy nghĩ, không tin tưởng nhau, vợ chồng và hai bên gia đình có gặp nhau nói chuyện nhưng vẫn không giải quyết được. Mâu thuẫn kéo dài không thể hàn gắn được nên vợ chồng đã ly thân không sống chung, chị và con gái đã về nhà ngoại tại Hà Nội sinh sống từ tháng 5 năm 2023 đến nay và thời gian dài vợ chồng cũng không liên lạc với nhau. Do đó, nay chị nhận thấy giữa chị và anh K không còn tình cảm, không thể tiếp tục sống chung nên yêu cầu ly hôn với anh K.

Về con chung: Vợ chồng có 01 người con tên Nguyễn Lê Phương A, sinh ngày 20-3-2023, hiện nay đang sống với chị. Sau khi ly hôn tôi yêu cầu nuôi con chung, không yêu cầu anh K cấp dưỡng nuôi con.

Tài sản chung, nợ chung: Không có nên không yêu cầu giải quyết.

Trong quá trình giải quyết vụ án, tòa án đã triệu tập hợp lệ và tống đạt các văn bản tố tụng cho anh Nguyễn Quốc K nhưng anh K vẫn vắng mặt không có lý do nên không có ý kiến.

Kiểm sát viên tham gia phiên tòa phát biểu ý kiến:

Về thủ tục tố tụng: Việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa và những người tham gia tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án đã tuân thủ theo trình tự thủ tục, thực hiện đầy đủ theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự. Tại phiên tòa, Hội đồng xét xử đã thực hiện các thủ tục đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự, không xảy ra vi phạm về tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án. Đối với anh Nguyễn Quốc K đã được Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ hai mà vẫn vắng mặt không có lý do nên Hội đồng xét xử, xét xử vắng mặt anh K là phù hợp với quy định của pháp luật.

Về việc giải quyết vụ án: Xét thấy giữa chị C và anh K đã xảy ra mâu thuẫn trầm trọng dẫn đến ly thân từ năm 2023 cho đến nay không thể hàn gắn được nên chị C yêu cầu ly hôn là có căn cứ chấp nhận. Do đó căn cứ các Điều 56, 81, 82, 83 của Luật Hôn nhân và Gia đình; Điều 147 của Bộ luật Tố tụng dân sự và Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án. Đề nghị Hội đồng xét xử, xử theo hướng:

  • - Chấp nhận yêu cầu ly hôn của chị Lê Thị Hà C đối với anh Nguyễn Quốc K.
  • - Về nuôi con chung: Chị C và anh K có 01 người con tên Nguyễn Lê Phương A, sinh ngày 20-3-2023, hiện cháu đang sinh sống ổn định cùng với chị C và anh K không có ý kiến nên chị C yêu cầu nuôi con chung là có căn cứ. Do đó, cần giao con chung cho chị C trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục là phù hợp. Ghi nhận chị C không yêu cầu anh K cấp dưỡng nuôi con.
  • - Về tài sản chung, nợ chung: Ghi nhận chị C không yêu cầu giải quyết.
  • - Về án phí dân sự sơ thẩm: Chị Lê Thị Hà C phải chịu án phí theo quy định pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về thủ tục tố tụng: Chị Lê Thị Hà C là nguyên đơn trong vụ án vắng mặt, có đơn xin vắng mặt; anh Nguyễn Quốc K là bị đơn trong vụ án đã được Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ hai nhưng vẫn vắng mặt không có lý do nên Hội đồng xét xử căn cứ vào Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự tiến hành xét xử vắng mặt chị C, anh K.

[2] Về nội dung vụ án:

[2.1] Về hôn nhân: Chị Lê Thị Hà C và anh Nguyễn Quốc K chung sống với nhau từ năm 2023, hôn nhân giữa anh, chị là tự nguyện, có đăng ký kết hôn theo quy định tại khoản 1 Điều 9 của Luật Hôn nhân và Gia đình, do đó Hội đồng xét xử xác định đây là hôn nhân hợp pháp.

Xét yêu cầu xin ly hôn của chị C thấy rằng, trong quá trình giải quyết vụ án anh K đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhưng cố tình vắng mặt không có lý do nên không có ý kiến; tuy nhiên theo biên bản xác minh ông Nguyễn Quốc K là cha ruột anh K và Ban Q, xã T, huyện T, tỉnh Tây Ninh thì giữa chị C và anh K có xảy ra mâu thuẫn với nhau, chị C và anh K sống ly thân từ năm 2023 cho đến nay. Trong quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã triệu tập anh K nhiều lần nhưng anh không đến, đều này thể hiện anh K không muốn đoàn tụ. Do đó Hội đồng xét xử xét thấy, hôn nhân giữa chị C và anh K đã lâm vào tình trạng trầm trọng, dẫn đến vi phạm quyền, nghĩa vụ của vợ chồng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không thể đạt được nên chị C yêu cầu ly hôn với anh K là có căn cứ chấp nhận, phù hợp với quy định tại Điều 51 và khoản 1 Điều 56 của Luật Hôn nhân và Gia đình.

[2.2] Về nuôi con chung: Chị C và anh K có 01 người con tên Nguyễn Lê Phương A, sinh ngày 20-3-2023, hiện đang sống chung nhà với chị C. Trong quá trình giải quyết vụ án chị C có nguyện vọng nuôi con chung. Xét thấy, từ khi chị C và anh K ly thân cho đến nay, cháu A sống ổn định với chị C nên để đảm bảo quyền lợi và sự phát triển về mọi mặt của con chung, cần giao cháu Nguyễn Lê Phương A, sinh ngày 20-3-2023 cho chị C trực tiếp trông nom, chăm sóc, giáo dục, nuôi dưỡng là phù hợp với quy định tại Điều 81 của Luật Hôn nhân và Gia đình. Ghi nhận chị C không yêu cầu anh K có nghĩa vụ đóng góp (cấp dưỡng) con cùng với chị.

[2.3] Về tài sản chung, nợ chung: Ghi nhận chị C không yêu cầu giải quyết.

[3] Xét đề nghị của Kiểm sát viên tại phiên tòa là có căn cứ nên Hội đồng xét xử chấp nhận.

[4] Về án phí dân sự sơ thẩm: Chị Lê Thị Hà C là nguyên đơn trong vụ án nên phải chịu án phí theo quy định tại khoản 4 Điều 147 của Bộ luật Tố tụng dân sự và khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14, ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào các Điều 56, 81, 82, 83 của Luật Hôn nhân và Gia đình; khoản 4 Điều 147 của Bộ luật Tố tụng dân sự và khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14, ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án.

  1. Về hôn nhân: Cho ly hôn giữa chị Lê Thị Hà C và anh Nguyễn Quốc K.
  2. Về nuôi con chung: Giao con chung tên Nguyễn Lê Phương A, sinh ngày 20-3-2023 cho chị Lê Thị Hà C trực tiếp trông nom, chăm sóc, giáo dục, nuôi dưỡng. Ghi nhận chị C không yêu cầu anh K có nghĩa vụ đóng góp (cấp dưỡng) con cùng với chị.

    Anh K có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở.

  3. Về tài sản chung, nợ chung: Ghi nhận chị C không yêu cầu giải quyết.
  4. Về án phí dân sự sơ thẩm: Chị Lê Thị Hà C phải chịu 300.000 (ba trăm nghìn) đồng tiền án phí dân sự sơ thẩm, nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí dân sự sơ thẩm đã nộp 300.000 (ba trăm nghìn) đồng tại biên lai thu số 0006742 ngày 15 tháng 10 năm 2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Tân Châu, tỉnh Tây Ninh; chị C đã nộp đủ tiền án phí dân sự sơ thẩm.
  5. Về quyền kháng cáo: Chị Lê Thị Hà C, anh Nguyễn Quốc K có quyền kháng cáo để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Tây Ninh giải quyết lại theo thủ tục phúc thẩm trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết hợp lệ.
  6. Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định các Điều 6, Điều 7 và Điều 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Tây Ninh (Phòng KT-NV);
  • - VKSND huyện Tân Châu;
  • - CC THADS huyện Tân Châu;
  • - UBND xã Tân Hà;
  • - Các đương sự;
  • - Lưu VT, hồ sơ vụ án;

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Trần Thanh Quốc

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 14/2025/HNGĐ-ST ngày 14/03/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TÂN CHÂU, TỈNH TÂY NINH về tranh chấp ly hôn, nuôi con.

  • Số bản án: 14/2025/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: tranh chấp ly hôn, nuôi con.
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 14/03/2025
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TÂN CHÂU, TỈNH TÂY NINH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Tại đơn khởi kiện ngày 03 tháng 10 năm 2024 và các lời khai trong quá trình giải quyết vụ án nguyên đơn chị Lê Thị Hà C trình bày: Chị và anh Nguyễn Quốc K sống chung với nhau từ năm 2023, có đăng ký kết hôn tại UBND xã T, huyện T, tỉnh Tây Ninh, hôn nhân tự nguyện. Sau khi kết hôn vợ chồng sống hạnh phúc thời gian đầu, nhưng thời gian gần đây vợ chồng nhận ra có quá nhiều khác biệt trong cách sống, cách suy nghĩ, không tin tưởng nhau, vợ chồng và hai bên gia đình có gặp nhau nói chuyện nhưng vẫn không giải quyết được. Mâu thuẫn kéo dài không thể hàn gắn được nên vợ chồng đã ly thân không sống chung, chị và con gái đã về nhà ngoại tại Hà Nội sinh sống từ tháng 5 năm 2023 đến nay và thời gian dài vợ chồng cũng không liên lạc với nhau. Do đó, nay chị nhận thấy giữa chị và anh K không còn tình cảm, không thể tiếp tục sống chung nên yêu cầu ly hôn với anh K. Về con chung: Vợ chồng có 01 người con tên Nguyễn Lê Phương A, sinh ngày 20-3-2023, hiện nay đang sống với chị. Sau khi ly hôn tôi yêu cầu nuôi con chung, không yêu cầu anh K cấp dưỡng nuôi con. Tài sản chung, nợ chung: Không có nên không yêu cầu giải quyết.
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger