Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN PHÚ HÒA

TỈNH PHÚ YÊN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc


Bản án số: 14/2025/HNGĐ-ST

Ngày: 14/3/2025

Về việc “tranh chấp ly hôn”.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHÚ HÒA, TỈNH PHÚ YÊN

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: bà Cao Thị Thu Hà;

Các Hội thẩm nhân dân: ông Phạm Hoàn Thiện và bà Phan Thị Thúy Hằng.

Thư ký phiên tòa: bà Đỗ Rum Ba – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Phú Hòa.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Phú Hòa, tỉnh Phú Yên tham gia phiên tòa: ông Phan Công Đồ – Kiểm sát viên.

Ngày 14 tháng 03 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Phú Hòa, tỉnh Phú Yên xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân gia đình thụ lý số: 165/2024/TLST-HNGĐ ngày 09 tháng 10 năm 2024 về việc “tranh chấp ly hôn”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 10/2025/QĐXXST-HNGĐ ngày 06 tháng 02 năm 2025 và Quyết định hoãn phiên tòa số 10/2025/QĐ-HNGĐ ngày 27/2/2025, giữa các đương sự:

  1. Nguyên đơn: Chị Trần Thị Mộng T, sinh năm 1982. Địa chỉ: Thôn P, xã H, huyện P, tỉnh Phú Yên. Có mặt.

  2. Bị đơn: Anh Ngô Minh H, sinh năm 1976. Địa chỉ: Thôn P, xã H, huyện P, tỉnh Phú Yên. Có mặt.

  3. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

    • Ngân hàng C – Phòng giao dịch huyện C, địa chỉ: Khu phố Đ, thị trấn P, huyện P, tỉnh Phú Yên. Người đại diện theo ủy quyền: ông Nguyễn Thành T1, chức vụ: Phó Giám đốc Phòng giao dịc huyện P. Có mặt.

    • Ông Nguyễn L, sinh năm 1962, địa chỉ: Thôn P, xã H, huyện P, tỉnh Phú Yên. Có đơn xin xét xử vắng mặt.

    • Bà Hồ Thị P, sinh năm 1966, địa chỉ: Thôn P, xã H, huyện P, tỉnh Phú Yên. Có đơn xin xét xử vắng mặt.

  4. Người làm chứng:

    • Ông Ngô Minh H1, sinh năm 1963, có mặt, địa chỉ: Thôn P, xã H, huyện P, tỉnh Phú Yên. Có mặt.

    • Ngô Minh N, sinh năm 1985, bà Võ Thị T2, sinh năm 1985, địa chỉ: Thôn P, xã H, huyện P, tỉnh Phú Yên. Ông N vắng mặt, bà T2 có mặt.

    • Ngô Thị D, sinh năm 1963, địa chỉ: Khu phố C, Phường F, TP ., tỉnh Phú Yên. Vắng mặt.

    • Bà Ngô Thị L1, sinh năm 1966, địa chỉ: Thôn P, xã H, huyện P, tỉnh Phú Yên. Có mặt.

    • Ngô Minh T3, sinh năm 1974, địa chỉ: Khu phố B, thị trấn C, huyện S, tỉnh Phú Yên. Vắng mặt.

    • Bà Ngô Thị S, sinh năm 1969, địa chỉ: Khu phố Đ, thị trấn P, huyện P, tỉnh Phú Yên. Có mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện và tài liệu có tại hồ sơ nguyên đơn bà T trình bày:

Về quan hệ hôn nhân: bà T và ông H tự nguyện tìm hiểu và có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã H ngày 01/6/2005. Quá trình chung sống vợ chồng xảy ra nhiều mâu thuẫn do ông H nhiều lần hăm dọa, dùng bạo lực với bà nên bà không thể sống chung với ông H nữa, bà và ông H đã sống ly thân được 02 năm. Nay tình cảm vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân không đạt được nên bà T yêu cầu được ly hôn với ông H.

Về con chung: có 01 con chung là: Ngô Trần Bảo T4, sinh ngày 05/7/2006. Con đã trưởng thành nên không yêu cầu gì.

Về tài sản chung: vợ chồng có tài sản chung nhà cấp 4 xây dựng trên đất cha mẹ chồng cho ông H, nhưng vẫn chưa làm giấy chứng nhận QSDĐ. Nay ly hôn bà T chỉ yêu cầu chia giá trị nhà cấp 4 là tài sản chung của vợ chồng và yêu cầu ông H thối cho bà ½ giá trị nhà và không tranh chấp đối với quyền sử dụng đất gắn liền với ngôi nhà cấp 4.

Ngoài ra tài sản chung vợ chồng còn có: 03 chiếc xe máy, ông H đang quản lý sử dụng 02 xe mô tô biển kiểm soát 78F3-1905 hiệu xe Angel Power, 78H7-7893 hiệu xe Stream EX và bà T đang quản lý sử dụng xe mô tô biển kiểm soát 78E1-40145 hiệu xe honda wave alpha. Bà T yêu cầu được nhận tài sản bằng hiện vật là xe một tô đang quản lý sử dụng và đồng ý thối giá trị chênh lệch cho ông H.

Về nợ chung: Nợ Ngân hàng C – huyện P số tiền 30.000.000 đồng. Nợ chung đề nghị chia 02 mỗi người trả một nửa.

Bị đơn ông H trình bày:

Về quan hệ hôn nhân: ông và bà T tự nguyện tìm hiểu và có đăng ký kết hôn tại UBND xã H năm 2005. Vợ chồng chung sống với nhau đến năm 2022 thì bà T ngoại tình với người khác và bị gia đình ông bắt gặp. Hiện nay vợ chồng không sống chung với nhau được nữa nên ông thống nhất ly hôn với bà T.

Về con chung: có 01 con chung là Ngô Trần Bảo T4, sinh ngày 05/7/2006. Con đã trưởng thành nên không yêu cầu gì.

Về tài sản chung: tài sản chung vợ chồng là nhà cấp 4 tại thôn P, xã H, huyện P, tỉnh Phú Yên xây dựng trên đất cha mẹ cho ông H. Hiện nay, nhà đất trên chưa cấp giấy chứng nhận QSDĐ.

Ngôi nhà cấp 4 được xây dựng năm 2017, nguồn kinh phí xây dựng nhà có Ủy ban nhân dân xã H cho 30.000.000 đồng xóa nhà tạm lý do vì ông H bị bệnh tim, mẹ ruột cho 5,5 chỉ vàng (lúc cưới vợ) và các anh em ruột của ông H là anh Ngô Minh H1 cho 12.000.000 đồng, chị Ngô Thị D cho 1.500.000 đồng, chị Ngô Thị S1 cho 1.500.000 đồng, chị Ngô Thị L1 cho 1.500.000 đồng, anh Ngô Minh T3 cho 3.000.000 đồng, em Ngô Minh N cho 2.000.000 đồng, tổng cộng là: 21.500.000 đồng và mẹ vợ cho 01 chỉ vàng. Cùng anh em hàng xóm đóng góp vật tư, công xây dựng. ông H không đồng ý yêu cầu của bà T chia ½ giá trị nhà vì lý do ông H bị bệnh tim nên nhà nước và anh em ông H, bà con mới đóng góp xây dựng nhà. Nên ngôi nhà trên là tài sản thuộc quyền sở hữu riêng của ông H nên ông H không đồng ý chia.

Đối với tài sản chung là 03 xe máy ông H đồng ý chia đôi và yêu cầu được nhận bằng hiện vật đối với xe mô tô mà mỗi bên đang quản lý sử dụng.

Về nợ chung: Nợ Ngân hàng chính sách xã hội 30.000.000 đồng. Thống nhất mỗi người có nghĩa vụ trả nợ cho Ngân hàng ½ số nợ.

Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan Ngân hàng C có ý kiến trình bày:

Bà Trần Thị Mộng T thường trú tại thôn P, xã H, huyện P là thành viên tổ Tiết kiệm và vay vốn do Bà Ngô Thị Thu T5 làm tổ trưởng. Vào ngày 09 tháng 06 năm 2022 bà Trần Thị Mộng T được Phòng giao dịch Ngân hàng CSXH huyện P chương trình Hộ Cận N1 với số tiền vay 30.000.000 đồng, lãi suất cho vay 7,92%/năm. Hạn trả nợ cuối cùng là ngày 09/06/2025. Số tiền lãi còn phải thu đến ngày xét xử sơ thẩm 14/3/2025 là 32.548 đồng. Vợ chồng bà Trần Thị Mộng T đang giải quyết ly hôn nên Ngân hàng Chính sách xã Hội huyện C yêu cầu bà T, ông H sớm trả dứt điểm nợ gốc là 30.000.000 đồng, lãi phát sinh đến ngày trả hết nợ gốc.

Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan bà Hồ Thị P trình bày: xe mô tô biển kiểm soát 78H7-7893, tên chủ xe Hồ Thị P hiệu xe Stream I, số loại EX, màu sơn Trắng, số máy JL1P50FMG22002031092; số khung: RL7WCG1UM5P001702 do bà mua đã lâu và đăng ký cà vẹt xe đứng tên của bà. Cách đây 02 năm, bà T có bắt giời có con của bà P nhưng không lấy tiền nên lúc đầu bà bán xe cho ông H với giá là 500.000đ nhưng sau đó nghĩ tình nghĩa cho bà T nên bà P trả lại tiền và cho hai vợ chồng ông H, bà T chiếc xe trên. Lúc đó bà P chỉ đưa cà vẹt xe cho ông H giữ chứ không làm giấy mua bán gì, bà đã cho vợ chồng ông H, bà T rồi nên không còn thuộc sở hữu của bà và bà không có tranh chấp gì với xe mô tô trên.

Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan ông Nguyễn L trình bày: xe máy biển kiểm soát số 78F3-1905, số máy 416007, số khung 416007 đứng tên ông Nguyễn L đã bán cho vợ chồng ông H, bà T với số tiền là 3.000.000 đồng, bán thời gian nào thì ông không nhớ. Xe đã bán cho vợ chồng ông H, bà T rồi nên không còn thuộc sở hữu của ông và ông không có tranh chấp gì với xe mô tô trên

Tòa án đã tiến hành hòa giải nhưng không hòa giải được,

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Phú Hòa Hòa phát biểu quan điểm giải quyết vụ án:

Về thủ tục tố tụng: trong quá trình giải quyết vụ án, Hội đồng xét xử, Thư ký đã tuân thủ đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự. Quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn, bị đơn thực hiện đúng các quyền và nghĩa vụ theo quy định pháp luật. Các đương sự được triệu tập hợp lệ, đề nghị Toà án tiến hành xét xử theo quy định.

Về nội dung: đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà T: về quan hệ hôn nhân cho bà T được ly hôn ông H; về con chung: con chung đã trưởng thành không có yêu cầu nên không xem xét; về tài sản chung: giao tài sản chung nhà cấp 4 gắn liền trên thửa đất số 148, tờ bản đồ số 348D tại Thôn P, xã H và 02 xe mô tô biển kiểm soát 78H7-7893, 78F3-1905 cho ông Ngô Minh H được quyền sở hữu, quản lý; giao cho bà Trần Thị Mộng T 01 xe mô tô biển kiểm soát 78E1 -4045 được quyền sở hữu, quản lý. Ghi nhận sự tự nguyện của bà T yêu cầu ông H thối giá trị nhà cấp 4 là 50.000.000 đồng và bà T đồng ý thối cho ông H 6.000.000 đồng tiền chênh lệch giá trị xe mô tô. Do đó Ông Ngô Minh H có nghĩa vụ phải thối giá trị chênh lệch tài sản được nhận cho bà T là 44.000.000 đồng. Nguyên đơn, bị đơn phải chịu án phí sơ thẩm theo quy định.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu tài liệu chứng cứ có tại hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa; ý kiến Kiểm sát viên, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về thủ tục tố tụng:

[1.1] Bà Trần Thị Mộng T khởi kiện yêu cầu ly hôn ông Ngô Minh H hiện đang cư trú tại thôn P, xã H, huyện P, tỉnh Phú Yên. Căn cứ vào khoản 1 Điều 28, khoản 1 Điều 35, khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự, vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Phú Hòa.

[1.2] Các đương sự đã được triệu tập hợp lệ, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có đơn xin xét xử vắng mặt. Do đó, căn cứ các Điều 227, 228 Bộ luật tố tụng dân sự, HĐXX xét xử vắng mặt người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan.

[2] Về nội dung:

[2.1] Về quan hệ hôn nhân: bà T và ông H tự nguyện tìm hiểu nhau, đi đến hôn nhân và được Ủy ban nhân dân xã H cấp Giấy chứng nhận kết hôn Số 057, Quyển số 01 ngày 01/6/2005 là hôn nhân hợp pháp.

Quá trình chung sống giữa bà T và ông H phát sinh nhiều mâu thuẫn, cải vã nhau lý do bất đồng quan điểm sống. Bà T cho rằng ông H bạo lực gia đình với bà, còn ông H cho rằng bà T ngoại tình với người khác, tuy nhiên cả hai không đưa ra tài liệu chứng minh cho trình bày của mình. Hiện nay ông H và bà T đã sống ly thân 02 năm không ai quan tâm đến ai. Nay bà T yêu cầu ly hôn thì ông H đồng ý ly hôn thể hiện tình cảm vợ chồng đã mâu thuẫn trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được nên chấp nhận cho bà T được ly hôn ông H.

[2.2] Về con chung: có 01 con chung là: Ngô Trần Bảo T4, sinh ngày 05/7/2006. Con đã trưởng thành các bên không có yêu cầu gì nên HĐXX không xem xét.

[2.3] Về tài sản chung:

[2.3.1] Đối với ngôi nhà cấp 4.

Ngôi nhà cấp 4 đang tranh chấp có diện tích 67,1m² được xây dựng năm 2017 trên thửa đất số 148, tờ bản đồ số 348D tại Thôn P, xã H, huyện P, tỉnh Phú Yên. Bà T không tranh chấp đối với quyền sử dụng đất tại thửa đất số 148, tờ bản đồ số 348D tại thôn P, xã H vì thửa đất này có nguồn gốc của cha mẹ ông H là cụ Ngô Â và cụ Bùi Thị X tặng cho ông Ngô Minh H vào năm 2016. Do đó HĐXX không xem xét đối với quyền sử dụng đất tại thửa đất số 148, tờ bản đồ số 348D.

Xét thấy, về kinh phí xây dựng nhà có nguồn hỗ trợ từ Quỹ “Vì người nghèo” của UBMTTQ Việt Nam xã H số tiền 30.000.000 đồng cho hộ nghèo để xóa nhà tạm. Tại thời điểm cấp kinh phí hộ gia đình ông H gồm 03 người là ông H, bà T và con chung là cháu T4. Về kinh phí xây dựng nhà còn lại ông H trình bày do mẹ ruột, anh chị em ông và bà con góp công cho. Tại phiên tòa ông H1, bà L1, bà S1 và vợ ông N xác nhận có cho ông H số tiền như ông H trình bày lúc vợ chồng ông H xây dựng nhà. Việc các ông bà cho tiền ông H xây dựng nhà là cho chung vợ chồng và bây giờ vợ chồng ông H, bà T ly hôn thì các ông bà không có yêu cầu vợ chồng ông H trả lại tiền. Do đó, ông H cho rằng tiền hỗ trợ từ Q vì người nghèo và số tiền mẹ, anh chị em cho ông là tài sản riêng của ông là không có cơ sở. Căn cứ Điều 33 Luật hôn nhân gia đình “tài sản chung vợ chồng gồm tài sản do vợ, chồng tạo ra, thu nhập do lao động, hoạt động sản xuất, kinh doanh, hoa lợi, lợi tức phát sinh từ tài sản riêng và thu nhập hợp pháp khác trong thời kỳ hôn nhân”. Ngôi nhà cấp 4 trên được xây dựng năm 2017 là tài sản được hình thành trong thời kỳ hôn nhân, do đó xác định đây là tài sản chung vợ chồng ông H và bà T trong thời kì hôn nhân.

Bà T đồng ý giao nhà trên cho ông H toàn quyền quản lý, sử dụng và yêu cầu ông H thối cho bà 50.000.000 đồng giá trị nhà. Xét thấy, tài sản chung vợ chồng là ngôi nhà cấp 4 được xây dựng trên diện tích đất ông H được bố mẹ tặng cho, hiện này ông H không còn chỗ ở nào khác nên cần chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn giao tài sản chung bằng hiện vật là ngôi nhà cấp 4 trên cho ông H được quyền sở hữu, quản lý và ông H có nghĩa vụ thối giá trị cho bà T.

[2.3.2] Đối với 03 xe mô tô biển số 78E1-40145 hiệu xe honda wave alpha, 78F3-1905 hiệu xe Angel Power, 78H7-7893 hiệu xe Stream Ex.

Nguyên đơn và bị đơn thống nhất 03 xe mô tô trên được hai vợ chồng mua vào thời kỳ hôn nhân và là tài sản chung của vợ chồng. Theo Phiếu cung cấp thông tin của Công an xã H, công an huyện P thì xe 78E1-40145 hiệu xe honda wave alpha đứng tên chủ xe là ông Ngô Minh H, ngày đăng ký là 16/01/2019; xe mô tô biển số 78F3-1905 hiệu xe Angel Power tên chủ xe Nguyễn L, ngày đăng ký 09/9/1998 và xe mô tô biển số 78H7-7893 hiệu xe Stream Ex tên chủ xe bà Hồ Thị P, ngày đăng ký 24/01/2006.

Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan ông L và bà P đều trình bày đã bán xe cho vợ chồng ông H, bà T nhưng chưa làm thủ tục sang tên. Nay vợ chồng ông H, bà T ly hôn và có tranh chấp tài sản chung đối với các xe mô tô trên thì ông bà không có tranh chấp gì nên xác định 03 xe mô tô trên là tài sản chung vợ chồng bà T, ông H.

Hiện nay bà T đang quản lý sử dụng đối với xe mô tô biển số 78E1-40145 hiệu xe honda wave alpha và anh H đang quản lý sử dụng đối với 02 xe mô tô còn lại. Do đó, chấp nhận yêu cầu nguyên đơn giao xe mô tô biển số 78E1-40145 hiệu xe honda wave alpha cho bà T tiếp tục sở hữu, sử dụng và giao 02 xe mô tô biển số 78F3-1905 hiệu xe Angel Power, 78H7-7893 hiệu xe Stream Ex cho ông H tiếp tục sở hữu, sử dụng, các bên phải thối giá trị chênh lệch cho nhau.

[2.3.3] Về nghĩa vụ thối giá trị chênh lệch.

Tại biên bản định giá tài sản ngày 04/12/2024 của Hội đồng định giá tài sản thì giá trị ngôi nhà cấp 4 có diện tích 67,1m², cùng chái tôn, sân xi măng có tổng giá trị là 105.113.095 đồng. Xe mô tô biển số 78E1-40145 hiệu xe honda wave alpha có giá trị là 11.000.000 đồng. Xe mô tô biển số 78F3-1905 hiệu xe Angel Power có giá trị 300.000 đồng. Xe mô tô biển số 78H7-7893 hiệu xe Stream Ex có giá trị 700.000 đồng. Tổng giá trị tài sản chung vợ chồng là: 117.113.095 đồng (Một trăm mười bảy triệu một trăm mười ba nghìn không trăm chín mươi lăm đồng).

Theo Điều 59 Luật hôn nhân gia đình về nguyên tắc giải quyết tài sản chung vợ chồng khi ly hôn thì tài sản chung vợ chồng được chia đôi =117.113.095/2=58.556.547 đồng.

Tuy nhiên, tại phiên Tòa bà T yêu cầu được nhận giá trị nhà là 50.000.000 đồng và đồng ý thối giá trị chênh chệch xe mô tô được nhận là 6.000.000 đồng cho ông H. Xét thấy, yêu cầu của bà T là hoàn toàn tự nguyện, không trái pháp luật và theo hướng có lợi cho bị đơn do đó HĐXX ghi nhận. Ông H nhận tài sản bằng hiện vật có giá trị cao hơn nên phải thối cho bà T số tiền chênh lệch là 44.000.000 đồng. (bốn mươi bốn triệu đồng).

[3] Về nợ chung: bà T có đại diện hộ gia đình vay vốn tại Phòng giao dịch Ngân hàng CSXH huyện P theo chương trình Hộ Cận N1 với số tiền vay 30.000.000 đồng, lãi suất cho vay 7,92%/năm. Tính đến ngày xét xử sơ thẩm 14/3/2025, bà T, ông H còn nợ Ngân hàng số tiền là 30.032.548 đồng (trong đó tiền gốc 30.000.000 đồng, tiền lãi 32.548 đồng). Tại phiên tòa, bà T tự nguyện đóng tiền lãi tính đến ngày 14/3/2025 là 32.548 đồng không yêu cầu chia. Đối với số tiền nợ gốc, ông H và bà Truyền thống N2 mỗi người có nghĩa vụ trả cho Ngân hàng là 15.000.000 đồng và lãi phát sinh theo số nợ gốc đã chia. Đại diện Ngân hàng đồng ý không có ý kiến gì do đó HĐXX ghi nhận sự thỏa thuận của nguyên đơn và bị đơn.

[4] Về chi phí tố tụng và án phí:

Về chi phí thẩm định và định giá tài sản là 3.500.000 đồng, bà T tự nguyện chịu và đã nộp đủ.

Về án phí: Căn cứ Điều 12 Nghị Quyết 326/2016/NQ-UBTVQH ngày 26/12/2016 quy định về án phí, lệ phí Tòa án thì ông H, bà T thuộc hộ cận nghèo nên được miễn án phí.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; các Điều 147, 227, 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự;

Căn cứ Điều 33, 51, 56, 57, 59 Luật Hôn nhân và gia đình;

Tuyên xử: Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Trần Thị Mộng T.

  1. Về quan hệ hôn nhân: bà Trần Thị Mộng T được ly hôn với ông Ngô Minh H.

  2. Về con chung: con chung Ngô Trần Bảo T4, sinh ngày 05/7/2006 đã trưởng thành không xem xét.

  3. Về tài sản chung:

    1. Giao ngôi nhà cấp 4 có diện tích 67,1m², chái tôn, sân xi măng và công trình phụ kèm theo gắn liền trên thửa đất số 148, tờ bản đồ số 348D tại Thôn P, xã H, huyện P, tỉnh Phú Yên (có bản vẽ kèm theo) và 02 xe mô tô biển số 78F3-1905 hiệu xe Angel Power, 78H7-7893 hiệu xe Stream Ex cho ông Ngô Minh H được quyền sở hữu, sử dụng.

    2. Giao xe mô tô biển số 78E1-40145 hiệu xe honda wave alpha cho bà Trần Thị Mộng T được quyền sở hữu, sử dụng.

    3. Ông Ngô Minh H có nghĩa vụ thối giá trị chênh lệch cho bà T số tiền 44.000.000 đồng. (bốn mươi bốn triệu đồng)

    Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án, nếu ông H chưa thi hành xong khoản tiền phải trả thì hàng tháng phải chịu thêm khoản lãi theo mức lãi xuất quy định tại khoản 2 Điều 357 Bộ luật Dân sự, tương ứng với số tiền và thời gian thi hành án.

  4. Về nợ chung: bà Trần Thị Mộng T và ông Ngô Minh H có nghĩa vụ trả nợ cho Phòng giao dịch Ngân hàng chính sách xã hội huyện C mỗi người 15.000.000 đồng (mười lăm triệu đồng) tiền gốc và lãi phát sinh theo số nợ gốc đã chia theo Hồ sơ vay vốn hộ cận nghèo ngày 27/5/2022 giữa bà T và Ngân hàng.

  5. Về án phí: ông Ngô Minh H và bà Trần Thị Mộng T thuộc hộ cận nghèo nên được miễn án phí. H2 lại cho bà Trần Thị Mộng T số tiền tạm ứng án phí 4.750.000 đồng (Bốn triệu bảy trăm năm mươi nghìn đồng) đã nộp theo Biên lai thu tiền số 0004815 ngày 08/10/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Phú Hòa, tỉnh Phú Yên.

    Trường hợp bản án quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yều cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

  6. Quyền kháng cáo: nguyên đơn, bị đơn, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan vắng mặt được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết./.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Phú Yên;
  • - VKSND tỉnh Phú Yên;
  • - VKSND huyện Phú Hoà ;
  • - Chi cục THADS huyện Phú Hòa;
  • - Các đương sự;
  • - UBND xã Hòa Thắng;
  • - Lưu hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Cao Thị Thu Hà

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 14/2025/HNGĐ-ST ngày 14/03/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHÚ HÒA, TỈNH PHÚ YÊN về tranh chấp ly hôn

  • Số bản án: 14/2025/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: tranh chấp ly hôn
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 14/03/2025
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHÚ HÒA, TỈNH PHÚ YÊN
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Truyền - hiếu ly hôn
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger