Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN NHO QUAN

TỈNH NINH BÌNH

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số:14/2025/HNGĐ - ST

Ngày 14/3/2025.

(V/v:ly hôn, tranh chấp nuôi con)

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NHO QUAN

Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: ông Nguyễn Hữu Quốc.

Các Hội thẩm nhân dân: ông Nguyễn Văn Phiếu, ông Hà Quang Văn.

Thư ký phiên toà: bà Vũ Thúy Hường - Thư ký Toà án nhân dân huyện Nho Quan, tỉnh Ninh Bình.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Nho Quan tham gia phiên tòa: bà Đinh Thị Ngần - Kiểm sát viên.

Ngày 14 tháng 3 năm 2025, tại Trụ sở Toà án nhân dân huyện Nho Quan xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 206/2024/TLST- HNGĐ, ngày 09 tháng 10 năm 2024 về việc “ly hôn, tranh chấp nuôi con”. Theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 05/2025/QĐXXST- HNGĐ ngày 06 tháng 02 năm 2025 giữa các đương sự:

  • - Nguyên đơn: chị Nguyễn Thị T, sinh năm 1992.
  • Nơi cư trú: thôn A, xã P, huyện N, tỉnh Ninh Bình.
  • - Bị đơn: anh Phan Đoàn T1, sinh năm 1992.
  • Nơi cư trú: thôn A, xã P, huyện N, tỉnh Ninh Bình.
  • Anh Phan Đoàn T1 hiện đang chấp hành án tại phân trại số 1, Trại giam T2. Trụ sở tại thị trấn Y, huyện N, tỉnh Thanh Hóa

Chị T và anh T1 đều vắng mặt, đều có đơn xin xử vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Trong đơn khởi kiện ngày 08 tháng 10 năm 2024, bản tự khai, quá trình giải quyết vụ án nguyên đơn chị Nguyễn Thị T trình bày: tôi và anh Phan Đoàn T1 kết hôn với nhau vào ngày 01/12/2015 tại UBND xã P, huyện N, trước khi kết hôn chúng tôi có tìm hiểu, yêu nhau tự nguyện, không do ai ép buộc. Sau khi kết hôn vợ chồng tôi chung sống ở thôn A, xã P, huyện N, tỉnh Ninh Bình. Vợ chồng tôi sống hạnh phúc được thời gian 5 năm, giữa hai chúng tôi xuất hiện nhiều mâu thuẫn và bất đồng, không thể hàn gắn, đời sống hôn nhân không hạnh phúc. Hai vợ chồng không có tiếng nói chung, không cùng quan điểm sống, thường xuyên xảy ra cãi vả. Nguyên nhân là do anh Phan Đoàn T1 ngoại tình, rồi phạm tội và phải đi chấp hành án phạt chung thân tại Phân trại số 1, Trại giam T2. Trụ sở tại thị trấn Y, huyện N, tỉnh Thanh Hóa. Tôi xác định mâu thuẫn vợ chồng đã trầm trọng, tình cảm vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân không đạt được nên làm đơn đề nghị Tòa án cho tôi được ly hôn anh Phan Đoàn Thao . Về con chung: chúng tôi có 03 con chung là các cháu Phan Hoàng A sinh ngày 08/3/2016; Phan Hải A1 sinh ngày 05/11/2017 và cháu Phan Huyền A2 sinh ngày 16/02/2020. Từ khi anh T1 bị bắt đến nay các con chung ở với tôi. Khi ly hôn, tôi đề nghị Tòa án xem xét giải quyết cho tôi được trực tiếp nuôi dưỡng cả ba con chung không yêu cầu anh T1 phải đóng góp tiền cấp dưỡng nuôi con chung. Về tài sản và công nợ chung: tôi không đề nghị Tòa án giải quyết.

Tại đơn trả lời ngày 23/10/2024, anh T1 trình bày: thừa nhận việc kết hôn, quá trình chung sống và việc phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân mâu thuẫn đúng như chị T đã trình bày nêu trên. Thừa nhận vào năm 2020 bản thân anh T1 phạm tội nên bị bắt và anh đang phải chấp hành hình phạt tù và kể từ đó hai vợ chồng tình cảm vợ chồng phai nhạt, không còn yêu thương nhau nữa nên anh T1 đồng ý ly hôn với chị Nguyễn Thị T. Về con chung, anh T1 cũng xác định: vợ chồng có 03 con chung, các thông tin liên quan đến con chung đúng như chị T đã trình bày. Khi ly hôn anh T1 đồng ý để chị T được tiếp tục nuôi dưỡng cả 03 con chung và chấp nhận sẽ cấp dưỡng nuôi con nếu có yêu cầu của chị T. Về tài sản và công nợ chung: anh T1 không đề nghị Tòa án giải quyết.

Tại phiên toà bà Kiểm sát viên cũng đã có bài phát biểu khẳng định quá trình giải quyết vụ án: Về mặt tố tụng Thẩm phán và Hội đồng xét xử đã xác định đúng, đầy đủ những người tham gia tố tụng, tuân thủ đầy đủ các quy định của Bộ luật tố tụng dân sự, không có vi phạm thủ tục tố tụng dân sự. Về nội dung bà Kiểm sát viên đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ: các Điều 5, 147, 227, 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; các Điều 56, 81, 82, 83, 84 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014; khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, đề nghị: Xử cho chị Nguyễn Thị T được ly hôn với anh Phan Đoàn Thao . Về con chung: giao các cháu Phan Hoàng A sinh ngày 08/3/2016; Phan Hải A1 sinh ngày 05/11/2017 và cháu Phan Huyền A2 sinh ngày 16/02/2020 cho Nguyễn Thị T được tiếp tục trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục cho đến khi các con chung đủ 18 tuổi. Anh T1 không phải cấp dưỡng nuôi con chung cùng chị T. Cha mẹ trực tiếp nuôi con cùng các thành viên trong gia đình không được cản trở người không trực tiếp nuôi con trong việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con; Cha, mẹ không trực tiếp nuôi con không được lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con. Vì lợi ích của con, khi có lí do chính đáng một hoặc cả hai bên có quyền yêu cầu Tòa án thay đổi người trực tiếp nuôi con sau ly hôn. Về án phí: chị Nguyễn Thị T phải nộp án phí ly hôn là 300.000 đồng được đối trừ vào số tiền 300.000 đồng chị T đã nộp tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Nho Quan.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà, trên cơ sở xem xét toàn diện ý kiến của các đương sự, Hội đồng xét xử nhận định:

  1. [1] Về thủ tục tố tụng: bị đơn anh Phan Đoàn T1 có địa chỉ tại thôn A, xã P, huyện N, tỉnh Ninh Bình. Vì vậy việc Tòa án nhân dân huyện Nho Quan áp dụng Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự để thụ lý giải quyết vụ án là đúng quy định của pháp luật. Nguyên đơn bị đơn vắng mặt nhưng đều có đơn xin xử vắng mặt nên Hội đồng xét xử vẫn tiến hành xét xử là đúng quy định của pháp luật.
  2. [2] Về quan hệ hôn nhân:

    Hôn nhân giữa chị Nguyễn Thị T và anh Phan Đoàn T1 là hôn nhân hợp pháp, được pháp luật bảo vệ. Sau khi cưới hai người sinh sống tại thôn A, xã P, huyện N, tỉnh Ninh Bình. Vợ chồng chung sống hạnh phúc được thời gian khoảng 5 năm, thì đã phát sinh mâu thuẫn và bất đồng, không thể hàn gắn, đời sống hôn nhân không hạnh phúc. Nguyên nhân mâu thuẫn là do anh Phan Đoàn T1 ngoại tình, rồi phạm tội và phải đi chấp hành án phạt tù chung thân tại Phân trại số 1, Trại giam T2. Trụ sở tại thị trấn Y, huyện N, tỉnh Thanh Hóa. Từ khi anh T1 bị bắt rồi phải đi chấp hành án phạt tù thì tình cảm vợ chồng phai nhạt. Bản thân chị T xác định tình cảm vợ chồng đã hết, chị không còn thương yêu anh T1 nữa; còn anh T1 cũng xác định vợ chồng mâu thuẫn sâu sắc và nhất trí ly hôn. Do đó có căn cứ xác định mâu thuẫn vợ chồng giữa chị Nguyễn Thị T và anh Phan Đoàn T1 đã trở nên trầm trọng, không thể tiếp tục duy trì cuộc sống chung, mục đích hôn nhân không đạt được, vì vậy cần chấp nhận yêu cầu của chị Nguyễn Thị T, xử cho chị Nguyễn Thị T được ly hôn với anh Phan Đoàn T1 là phù hợp với quy định của pháp luật.

  3. [3] Về con chung: chị Nguyễn Thị T và anh Phan Đoàn T1 có 03 con chung là các cháu Phan Hoàng A sinh ngày 08/3/2016; Phan Hải A1 sinh ngày 05/11/2017 và cháu Phan Huyền A2 sinh ngày 16/02/2020. Xét anh Phan Đoàn T1 đang chấp hành án phạt tù chung thân tại Phân trại số 1, Trại giam T2, còn chị T khỏe mạnh, không vi phạm đạo đức, lối sống trong việc nuôi dạy con chung, nên chị T có đủ điều kiện nuôi con. Từ khi anh T1 bị bắt rồi đi chấp hành án, chị T vẫn nuôi dưỡng các con chung tốt. Do đó cần giao cho chị T được tiếp tục trực tiếp nuôi dưỡng cả 03 con chung là thỏa đáng và cũng phù hợp với ý kiến của anh T1 và các con chung. Vấn đề cấp dưỡng nuôi con do chị T không có yêu cầu nên không buộc anh T1 phải cấp dưỡng nuôi con chung cùng chị T là phù hợp quy định của pháp luật.
  4. [4] Về tài sản và công nợ chung: chị T và anh T1 không có yêu cầu Tòa án giải quyết nên Toà không xét.
  5. [5] Về án phí:

    Về án phí: chị Nguyễn Thị T phải nộp án phí sơ thẩm ly hôn theo quy định của pháp luật.

  6. [6] Về quyền kháng cáo: các đương sự có quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên đây:

QUYẾT ĐỊNH

Áp dụng khoản 1 Điều 56, các Điều 58, 81, 82, 83 Luật Hôn nhân và gia đình; khoản 4 Điều 147; Điều 161, khoản 1 Điều 227, khoản 1 Điều 228, Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án:

  1. Xử cho chị Nguyễn Thị T được ly hôn với anh Phan Đoàn T1 .
  2. Về con chung: giao các cháu Phan Hoàng A sinh ngày 08/3/2016; Phan Hải A1 sinh ngày 05/11/2017 và cháu Phan Huyền A2 sinh ngày 16/02/2020 cho Nguyễn Thị T được tiếp tục trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục cho đến khi các cháu đủ 18 tuổi. Anh Phan Đoàn T1 không phải đóng góp tiển cấp dưỡng nuôi con chung cùng chị Nguyễn Thị T.

    Cha, mẹ trực tiếp nuôi con cùng các thành viên gia đình không được cản trở người không trực tiếp nuôi con trong việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con. Cha, mẹ không trực tiếp nuôi con không được lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con.

  3. Về án phí: chị Nguyễn Thị T phải nộp 300.000 đ (ba trăm nghìn đồng) án phí sơ thẩm ly hôn, được trừ vào số tiền tạm ứng án phí chị Nguyễn Thị T đã nộp tại Chi cục Thi hành án dân huyện Nho Quan theo biên lai số BLTU/23/0001366, ngày 09/10/2024.

Người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Án xử công khai sơ thẩm nguyên đơn, bị đơn vắng mặt có quyền kháng cáo Bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được Bản án hoặc Bản án được niêm yết công khai.

Nơi nhận:

  • - Toà án tỉnh Ninh Bình;
  • - VKSND tỉnh Ninh Bình;
  • - VKSND huyện Nho Quan;
  • - Chi cục THADS Nho Quan;
  • - UBND xã Phú Long;
  • - Các đương sự;
  • - Lưu hồ sơ, Vp.

TM HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ

Nguyễn Hữu Quốc

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 14/2025/HNGĐ - ST ngày 14/03/2025 của Toà án nhân dân huyện Nho Quan, tỉnh Ninh Bình về ly hôn, tranh chấp nuôi con

  • Số bản án: 14/2025/HNGĐ - ST
  • Quan hệ pháp luật: Ly hôn, tranh chấp nuôi con
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 14/03/2025
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: Toà án nhân dân huyện Nho Quan, tỉnh Ninh Bình
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Nguyễn Thị T xin ly hôn Phan Đoàn Th
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger