Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN NÔNG CỐNG

TỈNH THANH HÓA

Bản án số: 14/2025/HS-ST

Ngày 13 - 3 - 2025

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

NHÂN DANH NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NÔNG CỐNG, TỈNH THANH HÓA

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Tình

Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Thiệu Khắc Yên

2. Ông Trịnh Duy Cường

- Thư ký phiên tòa: Bà Lê Thị Liên - Thư ký Tòa án, Tòa án nhân dân huyện Nông Cống, tỉnh Thanh Hóa.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Nông Cống, tỉnh Thanh Hóa tham gia phiên tòa: Bà Bùi Thị Duyên - Kiểm sát viên.

Ngày 13 tháng 3 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Nông Cống, tỉnh Thanh Hóa, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 06/2025/TLST-HS ngày 23 tháng 01 năm 2025, theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 18/2025/QĐXXST-HS ngày 28 tháng 3 năm 2025 đối với bị cáo:

Họ và tên: Phạm Văn Đ (Đ), sinh ngày 17/8/1987 tại phường H, thị xã N, tỉnh Thanh Hóa; nơi thường trú: Tổ dân phố T, phường H, thị xã N, tỉnh Thanh Hóa; Số CCCD: [...]; nghề nghiệp: lao động tự do; trình độ học vấn: Lớp 01/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Phạm Văn B (đã chết) và bà Lê Thị C, sinh năm: 1959; gia đình có 06 anh chị em, bị cáo là con thứ 02; chưa có vợ con.

Tiền án: 05 tiền án

  • - Ngày 20/11/2013, bị TAND huyện Tĩnh Gia (nay là TAND thị xã Nghi Sơn) xử phạt 18 tháng tù về tội trộm cắp tài sản. Chấp hành xong hình phạt tù ngày 23/12/2014.
  • - Ngày 13/5/2015 bị TAND huyện Tĩnh Gia (nay là TAND thị xã Nghi Sơn) xử phạt 12 tháng tù về tội trộm cắp tài sản. Chấp hành xong hình phạt tù ngày 14/3/2016.
  • - Ngày 27/9/2016, bị TAND huyện Nông Cống xử phạt 16 tháng tù về tội trộm cắp tài sản. Chấp hành xong hình phạt tù ngày 13/10/2017.
  • - Ngày 26/12/2018 bị TAND huyện Tĩnh Gia (nay là TAND thị xã Nghi Sơn) xử phạt 30 tháng tù về tội trộm cắp tài sản với tình tiết định khung là tái phạm nguy hiểm. Chấp hành xong hình phạt tù ngày 29/3/2021.
  • - Ngày 18/8/2021 bị TAND thị xã Nghi Sơn xử phạt 36 tháng tù về tội trộm cắp tài sản với tình tiết định khung là tái phạm nguy hiểm. Chấp hành xong hình phạt tù ngày 09/4/2024.

Tiền sự: Không

Bị cáo bị tạm giữ kể từ ngày 27/11/2024, đến ngày 30/11/2024 chuyển tạm giam. Hiện bị cáo đang bị tạm giam tại Phân trại tạm giam khu vực N; có mặt.

* Bị hại: Anh Vũ Hữu S, sinh năm 1997 (vắng mặt).

Địa chỉ: Thôn M, xã T - N - Thanh Hóa.

* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Anh Nguyễn Thế N, sinh năm 1978 (vắng mặt).

Địa chỉ: Tổ dân phố H, phường H, thị xã N, tỉnh Thanh Hóa.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 14 giờ 30 phút ngày 25 tháng 8 năm 2024, tại thôn M xã T, huyện N Phạm Văn Đ thấy trước cổng nhà anh Vũ Hữu S 01 xe mô tô nhãn hiệu Yamaha, loại Taurus, màu đen, biển kiểm soát 73N8-6135, chìa khóa đang cắm sẵn trong ổ điện. Đ quan sát không thấy người nào nên đã dắt xe ra đường, nổ máy xe đi về nhà. Trên đường đi Đ dừng lại tháo biển số xe ném xuống cánh đồng hiện không nhớ vị trí. Về đến nhà Đ lấy dùng tấm bạt che xe. Đến khoảng 10 giờ ngày 26/8/2024 Đ mang chiếc xe trên đến cửa hàng thu mua sắt vụn của anh Nguyễn Thế N, ở tổ dân phố H, phường H, thị xã N bán cho anh N với giá 1.050.000đ và trốn khỏi địa phương, Theo Đ khai số tiền bán xe đã tiêu xài cá nhân hết. Đến tối ngày 27/11/2024 Đ đến Công an huyện N đầu thú và khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình.

Ngày 25/9/2024, Cơ quan CSĐT Công an huyện N có văn bản yêu cầu Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện N định giá đối với chiếc xe mô tô bị trộm cắp. Ngày 08/10/2024, Hội đồng định giá tài sản trong Tố tụng hình sự huyện N, kết luận: 01 xe mô tô nhãn hiệu Yamaha, loại Taurus, màu sơn đen, số khung RLCS16S208Y009436; số máy 16S2009437, biển kiểm soát 73N8-6135, xe cũ đã qua sử dụng có giá trị trên thị trường tại thời điểm bị trộm cắp tài sản là 2.500.000đ.

Nguyễn Thế N, là người mua xe mô tô do Đ trộm cắp nhưng N không biết là tài sản trộm cắp mà có nên không có căn cứ để xử lý.

Về vật chứng:

01 xe mô tô đã qua sử dụng, nhãn hiệu Yamaha, loại Taurus, màu sơn đen, số khung RLCS16S208Y009436; số máy 16S2009437, biển kiểm soát soát 73N8-6135, Cơ quan điều tra đã trả lại cho bị hại.

Đối với Biển kiểm soát 73N8-6135 mà Đ đã vứt đi, Cơ quan điều tra đã truy tìm nhưng không có kết quả.

Số tiền 1.050.000đ do bán xe mô tô trộm cắp mà có bị cáo đã sử dụng hết.

Về trách nhiệm dân sự: Bị hại đã nhận lại xe mô tô và không yêu cầu gì thêm về phần dân sự kể cả biển số xe.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không có yêu cầu đề nghị gì về phần dân sự.

Tại bản cáo trạng số 14/CT-VKSNC ngày 20/01/2025, Viện kiểm sát nhân dân huyện Nông Cống, tỉnh Thanh Hóa đã truy tố bị cáo Phạm Văn Đ về tội “Trộm cắp tài sản” quy định tại điểm g khoản 2 Điều 173 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên toà, đại diện VKSND huyện Nông Cống giữ quyền công tố giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm g khoản 2 Điều 173; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 và Điều 38 BLHS, xử phạt bị cáo mức án từ 33 đến 36 tháng tù; đề nghị miễn hình phạt bổ sung cho bị cáo; bị cáo phải chịu án phí HSST.

Bị cáo nhận tội, không tranh luận với nội dung luận tội của Kiểm sát viên và xin HĐXX xem xét giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

[1] Về hành vi tố tụng, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện N, Điều tra viên; Viện kiểm sát nhân dân huyện Nông Cống, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa bị cáo, người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, phù hợp với lời khai của bị hại, vật chứng thu giữ được trong quá trình điều tra đã được định giá và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Đủ cơ sở chứng minh: Khoảng 14 giờ 30 phút ngày 25 tháng 8 năm 2024, tại thôn M xã T, huyện N Phạm Văn Đ có hành vi lén lút trộm cắp 01 xe mô tô nhãn hiệu Yamaha, loại Taurus, màu đen, biển kiểm soát 73N8-6135, của anh Vũ Hữu S trú tại thôn M xã T, huyện N, tỉnh Thanh Hóa. Tài sản trộm cắp đã được Hội đồng định giá tài sản trong Tố tụng hình sự huyện N, định giá là 2.500.000đ, thuộc định lượng quy định tại khoản 1 Điều 173 BLHS. Tuy nhiên trước khi bị xét xử lần này bị cáo đã nhiền lần bị kết án nhưng chưa được xóa án tích, vì vậy, lần phạm tội này của bị cáo thuộc trường hợp tái phạm nguy hiểm quy định tại điểm g khoản 2 Điều 173 BLHS. Như vậy, Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Nông Cống, tỉnh Thanh Hoá truy tố bị cáo về tội “Trộm cắp tài sản” theo điểm g khoản 2 Điều 173 BLHS là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

[3] Đánh giá tính chất vụ án: Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm trực tiếp đến quyền sở hữu tài sản của người khác làm mất trật tự trị an trên địa bàn. Vì vậy, cần phải xử lý bằng pháp luật hình sự để giáo dục bị cáo thành người tốt và răn đe giáo dục phòng ngừa chung.

[4] Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ, nhân thân bị cáo: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng. Về tình tiết giảm nhẹ có các tình tiết giảm nhẹ người phạm tội thành khẩn khai báo; đầu thú quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 BLHS; Về nhân thân: Bị cáo là người có nhân thân xấu.

[5] Về hình phạt bổ sung: Bị cáo không có việc làm ổn định nên miễn hình phạt bổ sung cho bị cáo.

[6] Trên cơ sở đánh giá tính chất vụ án, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ và nhân thân bị cáo; HĐXX thấy cần cách ly bị cáo khỏi đời sống xã hội một thời gian với điều kiện cải tạo nghiêm khắc theo quy chế trại giam để giáo dục, cải tạo bị cáo thành người công dân tốt có ích cho bản thân, gia đình và xã hội đồng thời răn đe, giáo dục phòng ngừa chung là phù hợp với quy định của Điều 38 BLHS.

[7] Về trách nhiệm dân sự: Bị hại đã nhận lại tài sản không có yêu cầu gì, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không có yêu cầu bị cáo hoàn trả số tiền mua tài sản nên HĐXX không xem xét.

[8] Về án phí: Bị cáo có tội, bị kết án và không thuộc trường hợp được miễn án phí nên phải chịu phí HSST.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào điểm g khoản 2 Điều 173 BLHS tuyên bố bị cáo Phạm Văn Đ phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

Căn cứ vào điểm g khoản 2 Điều 173; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 BLHS.

Xử phạt Phạm Văn Đ 35 (ba mươi lăm) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày tạm giữ (27/11/2024).

Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; khoản 1 Điều 21; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ quốc hội: Buộc bị cáo phải chịu 200.000đ án phí HSST.

Quyền kháng cáo: Án sử sơ thẩm công khai có mặt bị cáo, vắng mặt bị hại, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan. Bị cáo được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị hại được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt được quyền kháng cáo những nội dung có liên quan trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết.

Trường hợp Bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người phải Thi hành án dân sự có quyền tự nguyện Thi hành án hoặc bị cưỡng chế Thi hành án theo quy định tại các Điều 9 Luật Thi hành án dân sự. Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - Bị cáo; bị hại;
  • - Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan;
  • - VKSND huyện Nông Cống;
  • - VKSND tỉnh Thanh Hóa;
  • - Trại tạm giam Công an tỉnh Thanh Hóa;
  • - Phân trại tạm giam khu vực Nông Cống;
  • - Chi cục THADS huyện Nông Cống;
  • - Lưu hồ sơ; văn thư.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TOẠ PHIÊN TÒA

Nguyễn Văn Tình

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 14/2025/HS-ST ngày 13/03/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NÔNG CỐNG, TỈNH THANH HÓA về trộm cắp tài sản

  • Số bản án: 14/2025/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 13/03/2025
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NÔNG CỐNG, TỈNH THANH HÓA
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Phạm Văn Đ - Trộm cắp tài sản
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger