Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN DẦU TIẾNG

TỈNH BÌNH DƯƠNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 14/2025/HS-ST

Ngày: 13 - 3 - 2025

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN DẦU TIẾNG, TỈNH BÌNH DƯƠNG

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Hoàng.

Các Hội thẩm nhân dân:

  1. Bà Nguyễn Thị Lan.
  2. Bà Nguyễn Thị Kim Phi.

Thư ký phiên tòa: Bà Đinh Thị Khuyến – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Dầu Tiếng, tỉnh Bình Dương.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Dầu Tiếng, tỉnh Bình Dương tham gia phiên tòa: Bà Phạm Thị Hường – Kiểm sát viên.

Vào các ngày 07 và 13 tháng 3 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Dầu Tiếng, tỉnh Bình Dương xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 03/2025/TLST-HS ngày 13 tháng 01 năm 2025, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 12/2025/QĐXXST-HS ngày 24 tháng 02 năm 2025, đối với bị cáo:

Võ Tiến S, sinh năm 1997, tại tỉnh Đồng Nai; hộ khẩu thường trú: Khu phố D, phường S, thành phố L, tỉnh Đồng Nai; tạm trú: Khu phố A, thị trấn C, huyện C, tỉnh Tây Ninh; nghề nghiệp: Buôn bán; trình độ học vấn: 12/12; dân tộc: Kinh; quốc tịch: Việt Nam; giới tính: Nam; tôn giáo: Thiên chúa giáo; con ông Võ Văn H (không rõ năm sinh) và bà Dương Thị T, sinh năm 1967; có vợ tên Vũ Thị Phương N, sinh năm 1994; có 01 con, sinh năm 2023; tiền án, tiền sự: Không; nhân thân: Ngày 14/5/2014, bị cáo bị Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh Đ (PC44) bắt về hành vi Gây rối trật tự công cộng nhưng bị cáo không bị xử lý về hình sự; Ngày 06/12/2019, bị cáo bị Công an Thành phố L, tỉnh Đồng Nai xử phạt hành chính về hành vi xâm hại sức khỏe người khác theo Quyết định số 2015/QĐ với số tiền 2.500.000 đồng, bị cáo đã nộp phạt xong; bị cáo bị bắt tạm giam từ ngày 16/11/2024 cho đến nay. Có mặt.

Người bào chữa cho bị cáo: Ông Đinh Tấn T1 và ông Nguyễn Thái H1 - Luật sư Công ty L thuộc Đoàn Luật sư tỉnh B. Ông H1 có mặt; ông T1 vắng mặt khi xét xử, có mặt khi tuyên án.

Bị hại: Ông Mai Hoàng K, sinh năm 1984; địa chỉ: Ấp P, xã P, huyện D, tỉnh Tây Ninh. Có mặt.

2

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án: Bà Vũ Thị Phương N, sinh năm 1994; địa chỉ: Khu phố A, thị trấn C, huyện C, tỉnh Tây Ninh. Có mặt.

Người làm chứng:

  1. Ông Huỳnh Văn T2. Vắng mặt.
  2. Bà Trần Thị Kim N1. Vắng mặt.
  3. Bà Võ Thùy P.Vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Mai Hoàng K và Võ Tiến S cùng làm nghề mua, bán rau nên có mâu thuẫn với nhau.

Khoảng 02 giờ 40 phút ngày 30/01/2022, K đi cùng tài xế Huỳnh Minh T3 trên xe ô tô tải biển số 70C-093.75 từ huyện D, tỉnh Tây Ninh đến Chợ S thuộc khu phố B, thị trấn D, huyện D, tỉnh Bình Dương để lấy rau về bán. Lúc này, Võ Tiến S đi cùng hai người thanh niên (chưa rõ nhân thân, lai lịch) trên xe ô tô tải biển số 70H – 019.47 đến khu vực Chợ S thuộc khu phố C, thị trấn D, huyện D, tỉnh Bình Dương để bán rau. Khi xe ô tô của K đang dừng trước địa điểm bán rau của bà Trần Thị Kim N1 ở khu vực Chợ S thì S điều khiển xe ô tô đến chặn đầu xe của K. Khi K và tài xế T3 vừa bước xuống xe thì S cũng bước xuống xe. Lúc này giữa S và Khánh cự cãi qua lại, sau đó S lấy trong xe ô tô của S một ống tuýp bằng kim loại đập một cái vào vai của K gây thương tích (gãy kín 1/3 xương đòn) rồi S lên xe bỏ đi. K được mọi người chở đến bệnh viện L1 tại thành phố T điều trị thương tích, đến ngày 08/02/2022 thì xuất viện.

Tại Bản kết luận giám định pháp y về thương tích số 255/2022/GĐPY ngày 14/4/2022 của Trung tâm pháp y Sở y tế tỉnh B kết luận: Mai Hoàng K bị chấn thương gãy kín xương đòn trái, vết mổ kế hợp xương đòn 6,3 x 0,2cm và 1 x 0,1cm, sẹo lành; tỷ lệ tổn thương cơ thể do thương tích gây nên hiện tại là 13% (mười ba phần trăm); cơ chế hình thành thương tích: Chấn thương gãy kín xương đòn trái, gãy xương không có vết thương ngoài da, khả năng do vật tày tác động vào vùng vai trái gây ra.

Đối với vật chứng của vụ án là ống tuýp bằng kim loại, S đã vứt bỏ nên không thu hồi được.

Về trách nhiệm dân sự: Ông Mai Hoàng K yêu cầu bồi thường số tiền 5.000.000 đồng, bà Vũ Thị Phương N (vợ bị cáo S) đã bồi thường cho ông K.

Đối với hai người thanh niên đi cùng S, cả hai người này không tham gia đánh ông K nên Cơ quan Cảnh sát điều tra không xử lý.

Tại Cáo trạng số 09/CT-VKSDT ngày 13/01/2025 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Dầu Tiếng, tỉnh Bình Dương đã truy tố bị cáo Võ Tiến S về tội “Cố ý gây thương tích” theo quy định tại Điểm đ Khoản 2 Điều 134 Bộ luật Hình sự.

3

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Dầu Tiếng giữ nguyên quan điểm và quyết định truy tố đối với bị cáo Võ Tiến S như Cáo trạng và đề nghị:

  • Về hình phạt: Căn cứ Điểm đ Khoản 2 Điều 134; Điểm b, s Khoản 1, Khoản 2 Điều 51; Điều 65 Bộ luật Hình sự. Xử phạt bị cáo Võ Tiến S từ 02 (hai) năm 06 (sáu) tháng đến 03 (ba) năm tù nhưng cho hưởng án treo. Thời gian thử thách là 05 (năm) năm.
  • Về trách nhiệm dân sự: Bà Vũ Thị Phương N (vợ bị cáo) đã bồi thường cho bị hại ông Mai Hoàng K số tiền 5.000.000 đồng. Bị hại ông K không yêu cầu bồi thường gì thêm nên đề nghị ghi nhận.
  • Về vật chứng: Đối với vật chứng của vụ án là ống tuýp bằng kim loại, bị cáo đã vứt bỏ không thu hồi được nên không đề cập xử lý.

Đối với hai người thanh niên đi cùng bị cáo S, cả hai người này không tham gia đánh bị hại K nên Cơ quan Cảnh sát điều tra không xử lý là có căn cứ.

Tại phiên tòa, bị cáo S thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội như Cáo trạng đã truy tố. Bị cáo thể hiện thái độ thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải.

Người bào chữa cho bị cáo Luật sư Nguyễn Thái H1: Thống nhất với Cáo trạng của Viện kiểm sát đã truy tố bị cáo về tội danh và khung hình phạt. Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Không có. Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Thống nhất với đề nghị của Kiểm sát viên tại phiên tòa về các tình tiết giảm nhẹ cho bị cáo theo quy định tại Điểm b, s Khoản 1, Khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự nên đề nghị áp dụng Điều 65 của Bộ luật Hình sự, cho bị cáo được hưởng án treo.

Bị hại K trình bày: Bị hại đồng ý với Bản kết luận giám định pháp y về thương tích số 255/2022/GĐPY ngày 14/4/2022 của Trung tâm pháp y Sở y tế tỉnh B. Về trách nhiệm hình sự: Bị hại đề nghị Tòa án xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo; về trách nhiệm dân sự: Bị hại và bị cáo đã thương lượng bồi thường xong nên không yêu cầu gì thêm.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án bà N trình bày: Theo tác động của bị cáo thì bà N đã dùng số tiền 5.000.000 đồng là tiền của bị cáo để bồi thường cho bị hại. Ngoài ra, bà N không có ý kiến hay yêu cầu gì khác.

Lời khai trong quá trình điều tra của người làm chứng thống nhất với lời khai của bị cáo, bị hại.

Lời nói sau cùng: Bị cáo nhận thức được hành vi đánh người gây thương tích là vi phạm pháp luật, xâm phạm đến tính mạng, sức khỏe của bị hại, bị cáo rất hối hận, mong Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo để bị cáo sớm hòa nhập cộng đồng, kiếm việc làm có thu nhập để lo cho mẹ già và con nhỏ.

NHẬN ĐỊNH CỦA TOÀ ÁN:

4

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện D, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện D, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên toà, không có người nào có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đúng và đầy đủ quyền hạn, trách nhiệm theo quy định pháp luật.

[2] Tại phiên tòa vắng mặt người bào chữa cho bị cáo ông Đinh Tấn T1 và người làm chứng ông Huỳnh Văn T2, bà Trần Thị Kim N1, bà Võ Thùy P. Xét thấy, việc vắng mặt những người nêu trên không cản trở đến việc xét xử bị cáo. Ngoài ra, trong quá trình điều tra thì những người làm chứng đã có lời khai đầy đủ. Căn cứ Điều 291 và Điều 293 của Bộ luật Tố tụng hình sự xét xử vắng mặt những người nêu trên.

[3] Các yếu tố cấu thành tội phạm:

Tại phiên tòa cũng như quá trình điều tra bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội. Lời khai nhận tội của bị cáo phù hợp lời khai trong các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án, thống nhất với lời khai của những người làm chứng đã được thẩm tra tại phiên tòa. Do đó, có đủ cơ sở kết luận: Vào khoảng 02 giờ 40 phút, tại khu vực Chợ S thuộc khu phố B, thị trấn D, huyện D, tỉnh Bình Dương, Võ Tiến S đã sử dụng ống tuýp bằng kim loại – là hung khí nguy hiểm đánh vào vai bên trái của ông Mai Hoàng K làm gãy kín xương đòn trái, gây nên tỷ lệ tổn thương cơ thể 13%.

Hành vi trên của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội “Cố ý gây thương tích” theo điểm đ khoản 2 Điều 134 Bộ luật Hình sự. Như vậy, bản Cáo trạng số 09/CT-VKSDT ngày 13/01/2025 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Dầu Tiếng, tỉnh Bình Dương và bản luận tội của Kiểm sát viên đề nghị truy tố bị cáo về tội “Cố ý gây thương tích” theo điểm đ khoản 2 Điều 134 Bộ luật Hình sự là có căn cứ, đúng người, đúng tội và đúng pháp luật. Bị cáo hoàn toàn đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự.

[4] Các căn cứ quyết định hình phạt:

Xét tính chất, mức độ nghiêm trọng của hành vi phạm tội: Hành vi sử dụng ống tuýp bằng kim loại, là hung khí nguy hiểm đánh vào vai bên trái của bị hại ông Mai Hoàng K gây thương tích với tỷ lệ tổn thương cơ thể hiện tại 13% là nghiêm trọng, nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến quyền được bảo vệ tính mạng, sức khỏe của công dân được Nhà nước bảo vệ, xâm phạm đến an ninh trật tự an toàn xã hội.

Nguyên nhân, động cơ, mục đích phạm tội, mức độ lỗi: Do giữa bị cáo và bị hại đều cùng làm nghề mua, bán rau nên có mâu thuẫn với nhau từ trước. Sáng ngày 30/01/2022, bị cáo đã điều khiển xe ô tô chặn đầu xe của bị hại, dẫn

5

đến giữa bị cáo và bị hại xảy ra cự cãi qua lại, sau đó bị cáo lấy trong xe ô tô của bị cáo một ống tuýp bằng kim loại đập một cái vào vai của bị hại rồi lên xe bỏ đi, hậu quả gây tỷ lệ tổn thương cơ thể cho bị hại tỷ lệ 13%. Xét nguyên nhân xảy ra mâu thuẫn là do trong quá trình mua bán rau ở chợ, giữa bị cáo và bị hại đã xảy ra mâu thuẫn; việc bị cáo không chuẩn bị hung khí từ trước, ống tuýp sắt mà bị cáo sử dụng đánh bị hại là dụng cụ sửa xe có sẵn trên xe và hành vi chỉ đánh bị hại một cái vào vai của bị hại thể hiện tính chất không quyết liệt đến cùng, không đánh vào vùng trọng yếu nên hành vi của bị cáo không được xem là có tính chất côn đồ. Hành vi phạm tội của bị cáo có tính bột phát nhất thời, không có sự chuẩn bị trước, không có đồng phạm, đánh với mục đích gây thương tích, không có ý định tước đoạt tính mạng của bị hại. Bị cáo là người có đầy đủ năng lực hành vi để biết việc gây thương tích cho người khác là vi phạm pháp luật nhưng bị cáo vẫn bất chấp hậu quả thực hiện hành vi phạm tội với lỗi cố ý trực tiếp. Do đó, hành vi của bị cáo cần phải có mức hình phạt nghiêm khắc mới đủ sức răn đe, giáo dục bị cáo và cũng là phòng ngừa tội phạm chung cho xã hội, nhất là trong thời điểm hiện nay, loại tội phạm này đang có chiều hướng gia tăng.

Về nhân thân: Ngày 14/5/2014, bị cáo bị Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh Đ (PC44) bắt về hành vi Gây rối trật tự công cộng. Tuy nhiên, quá trình tạm giữ điều tra chứng minh bị cáo S không phạm tội, bị cáo đã được trả tự do, không bị xử lý về hình sự, không bị xử phạt vi phạm hành chính. Ngày 06/12/2019, bị cáo bị Công an Thành phố L, tỉnh Đồng Nai xử phạt hành chính về hành vi xâm hại sức khỏe người khác theo Quyết định số 2015/QĐ với số tiền 2.500.000 đồng, bị cáo S đã nộp phạt xong.

Tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Không.

Các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử bị cáo có thái độ thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội, bị cáo và gia đình đã khắc phục, bồi thường cho bị hại số tiền 5.000.000 đồng, bị hại cũng không yêu cầu bị cáo bồi thường thêm, quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị hại có đơn xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo, bị cáo hiện đang nuôi con nhỏ, có mẹ già cần được chăm sóc, quá trình nhập ngũ, rèn luyện trong quân đội bị cáo cũng có thành tích, được cấp trên khen thưởng, đây là những tình tiết giảm nhẹ được quy định tại Điểm b, s Khoản 1, Khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

Xét thấy bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định; không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự; về nhân thân: Tính đến thời điểm phạm tội thì bị cáo được xem là chưa bị xử lý vi phạm hành chính theo quy định tại Điều 7 Luật xử lý vi phạm hành chính năm 2012; bị cáo chấp hành chính sách, pháp luật và thực hiện đầy đủ các nghĩa vụ của công dân ở nơi cư trú; có nơi cư trú rõ ràng để cơ quan, tổ chức có thẩm quyền giám sát, giáo dục; bị cáo có khả năng tự cải tạo và việc không bắt bị cáo chấp hành hình phạt tù giam không gây nguy hiểm cho xã hội; không ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự, an toàn xã hội nên việc cách ly bị cáo ra ngoài xã hội là không cần thiết. Bị

6

cáo có đủ các điều kiện được hưởng án treo theo hướng dẫn tại Nghị quyết số 02/VBHN-TANDTC ngày 07/9/2022 của Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn áp dụng Điều 65 của Bộ luật Hình sự nên cho bị cáo hưởng án treo là phù hợp với quy định pháp luật.

Về hình phạt bổ sung: Không.

[5] Về trách nhiệm dân sự: Bị cáo S và bị hại ông K đã thỏa thuận bồi thường xong, bị hại không yêu cầu bồi thường gì thêm nên Hội đồng xét xử không xem xét.

[6] Về xử lý vật chứng: Đối với vật chứng của vụ án là ống tuýp bằng kim loại, bị cáo đã vứt bỏ không thu hồi được nên không đề cập xử lý.

Đối với hai người thanh niên đi cùng bị cáo S, cả hai người này không tham gia đánh bị hại K nên Cơ quan Cảnh sát điều tra không xử lý là có căn cứ.

[7] Ý kiến tranh luận của người bào chữa cho bị cáo về phần tội danh, khung hình phạt, đề nghị áp dụng các tình tiết giảm nhẹ cho bị cáo theo quy định tại Điểm b, s Khoản 1, Khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự, ý kiến về đề nghị áp dụng Điều 65 của Bộ luật Hình sự cho bị cáo được hưởng án treo là phù hợp nên Hội đồng xét xử chấp nhận.

[8] Xét ý kiến luận tội của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa đối với bị cáo S về phần tội danh, điều khoản truy tố, áp dụng các tình tiết giảm nhẹ, mức hình phạt, đề nghị áp dụng Điều 65 của Bộ luật Hình sự cho bị cáo hưởng án treo là phù hợp nên được Hội đồng xét xử chấp nhận.

[9] Về án phí hình sự sơ thẩm: Bị cáo S phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào:

  • Khoản 2 Điều 135; khoản 2 Điều 136; khoản 1, 4 Điều 331; Khoản 1 Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự.
  • Điểm đ Khoản 2 Điều 134; Điểm b, s Khoản 1, Khoản 2 Điều 51; Điều 65 Bộ luật Hình sự.
  • Điểm a Khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.
  1. Tuyên bố bị cáo Võ Tiến S phạm tội “Cố ý gây thương tích”.

Xử phạt bị cáo Võ Tiến S 02 (hai) năm 06 (sáu) tháng tù nhưng cho bị cáo được hưởng án treo, thời gian thử thách là 05 (năm) năm kể từ ngày tuyên án (ngày 13/3/2025).

7

Giao bị cáo cho Ủy ban nhân dân thị trấn C, huyện C, tỉnh Tây Ninh giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách, gia đình bị cáo có trách nhiệm phối hợp với chính quyền địa phương trong việc giám sát, giáo dục bị cáo.

Trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại khoản 3 Điều 92 của Luật Thi hành án hình sự.

Trong thời gian thử thách, nếu người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật Thi hành án hình sự 02 (hai) lần trở lên, thì Tòa án có thể quyết định buộc người đó phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo. Trường hợp thực hiện hành vi mới thì Tòa án buộc người đó phải chấp hành hình phạt của bản án trước và tổng hợp với hình phạt của bản án mới theo quy định tại Điều 56 Bộ luật Hình sự.

  1. Về trách nhiệm dân sự: Bị hại không yêu cầu bồi thường gì thêm nên không đặt ra xem xét.
  2. Về xử lý vật chứng: Không.
  3. Về án phí hình sự sơ thẩm: Buộc bị cáo Võ Tiến S phải chịu 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng).
  4. Về quyền kháng cáo: Bị cáo, bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án sơ thẩm trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án (ngày 13/3/2025)./.

Nơi nhận:

  • - Tòa án nhân dân tỉnh Bình Dương;
  • - Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bình Dương;
  • - Phòng PV 06 - Công an tỉnh Bình Dương;
  • - Cơ quan CSĐT – CA tỉnh Bình Dương;
  • - Sở Tư pháp tỉnh Bình Dương;
  • - Viện kiểm sát nhân dân huyện Dầu Tiếng;
  • - Phân trại tạm giam khu vực huyện Dầu Tiếng thuộc Trại tạm giam Công an tỉnh Bình Dương;
  • - Chi cục Thi hành án dân sự huyện Dầu Tiếng;
  • - UBND thị trấn Châu Thành, huyện Châu Thành; tỉnh Tây Ninh;
  • - Người tham gia tố tụng;
  • - Lưu: Hồ sơ, văn thư.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Thị Hoàng

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 14/2025/HS-ST ngày 13/03/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN DẦU TIẾNG, TỈNH BÌNH DƯƠNG về hình sự (cố ý gây thương tích)

  • Số bản án: 14/2025/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự (Cố ý gây thương tích)
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 13/03/2025
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN DẦU TIẾNG, TỈNH BÌNH DƯƠNG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Căn cứ vào: - Khoản 2 Điều 135; khoản 2 Điều 136; khoản 1, 4 Điều 331; Khoản 1 Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự. - Điểm đ Khoản 2 Điều 134; Điểm b, s Khoản 1, Khoản 2 Điều 51; Điều 65 Bộ luật Hình sự. - Điểm a Khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án. 1. Tuyên bố bị cáo Võ Tiến Sĩ phạm tội “Cố ý gây thương tích”. Xử phạt bị cáo Võ Tiến Sĩ 02 (hai) năm 06 (sáu) tháng tù nhưng cho bị cáo được hưởng án treo, thời gian thử thách là 05 (năm) năm kể từ ngày tuyên án (ngày 13/3/2025). Giao bị cáo cho Ủy ban nhân dân thị trấn Châu Thành, huyện Châu Thành, tỉnh Tây Ninh giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách, gia đình bị cáo có trách nhiệm phối hợp với chính quyền địa phương trong việc giám sát, giáo dục bị cáo. Trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại khoản 3 Điều 92 của Luật Thi hành án hình sự. Trong thời gian thử thách, nếu người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật Thi hành án hình sự 02 (hai) lần trở lên, thì Tòa án có thể quyết định buộc người đó phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo. Trường hợp thực hiện hành vi mới thì Tòa án buộc người đó phải chấp hành hình phạt của bản án trước và tổng hợp với hình phạt của bản án mới theo quy định tại Điều 56 Bộ luật Hình sự. 2. Về trách nhiệm dân sự: Bị hại không yêu cầu bồi thường gì thêm nên không đặt ra xem xét. 3. Về xử lý vật chứng: Không. 4. Về án phí hình sự sơ thẩm: Buộc bị cáo Võ Tiến Sĩ phải chịu 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng). 5. Về quyền kháng cáo: Bị cáo, bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án sơ thẩm trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án (ngày 13/3/2025)./.
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger