|
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐẮK NÔNG Bản án số: 14/2025/HS-ST Ngày 12 - 3 - 2025 |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐẮK NÔNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Dương Hà Ngân
Các Hội thẩm nhân dân: Bà Trần Thị Phương Thảo và bà Đỗ Thị Hà
Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Vũ Trí - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Đắk Nông.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đắk Nông tham gia phiên tòa: Bà Hồ Thị Hương Lan - Kiểm sát viên.
Ngày 12 tháng 3 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Đắk Nông xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 05/2025/TLST-HS ngày 13 tháng 01 năm 2025, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 11/2025/QĐXXST-HS ngày 28 tháng 02 năm 2025 đối với các bị cáo:
1. Xồng Bá C, sinh ngày 01-01-1972 tại tỉnh Nghệ An; nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: Bản P, xã N, huyện K, tỉnh Nghệ An; tạm trú: Tổ dân phố 3, phường N, thành phố G, tỉnh Đắk Nông; nghề nghiệp: Làm nông; trình độ học vấn: 0/12; giới tính: nam; dân tộc: Mông; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Xồng Vả K và bà Mùa Y X (đều đã chết); có vợ là Già Y N, sinh năm 1982 và 02 con; tiền án, tiền sự: không; nhân thân: Bản án số 36/2003/HS-ST ngày 20-11-2003 của Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An, xử phạt 15 năm tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”, ngày 08-12-2013, chấp hành xong hình phạt và đã xóa án tích; bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 05-9-2024; có mặt.
2. Già Y N, sinh ngày 19-7-1982 tại tỉnh Nghệ An; nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: Bản P, xã N, huyện K, tỉnh Nghệ An; tạm trú: Tổ dân phố 3, phường N, thành phố G, tỉnh Đắk Nông; nghề nghiệp: Làm nông; trình độ học vấn: 0/12; giới tính: nữ; dân tộc: Mông; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Già Pà Ch, sinh năm 1929 và bà Vừ Y X, sinh năm 1940; có chồng là Xồng Bá C, sinh năm 1972 và 02 con; tiền án, tiền sự: không; nhân thân: Bản án số 49/2012/HS-ST ngày 28-8-2012 của Tòa án nhân dân huyện K, tỉnh Nghệ An, xử phạt 24 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, ngày 18-3-2014, chấp hành xong hình phạt và đã xóa án tích; bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 05-9-2024; có mặt.
Người bào chữa cho các bị cáo: Ông Phạm Quang L (có đơn đề nghị xét xử vắng mặt) và ông Y' L (có mặt), Trợ giúp viên pháp lý Trung tâm Trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh Đắk Nông.
Người phiên dịch: Ông Lỳ Bá N; nơi công tác: Sở Dân tộc và Tôn giáo tỉnh Đắk Nông; có mặt.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án:
- Ông Giàng A L, sinh năm 1985; địa chỉ: Thôn 8, xã N, huyện Đ, tỉnh Đắk Nông; vắng mặt.
- Ông Giàng A D, sinh năm 1990; địa chỉ: Thôn 8, xã N, huyện Đ, tỉnh Đắk Nông; vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Tháng 6-2024, Xồng Bá C và vợ là Già Y N đến ở nhờ nhà rẫy của ông Vũ Trọng H, địa chỉ: tổ dân phố 3, phường N, thành phố G, tỉnh Đắk Nông để sinh sống. Khoảng 15 giờ 30 phút ngày 04-9-2024 tại thành phố G, Xồng Bá C gặp và mua của một đối tượng (chưa xác định được lý lịch) 270 viên hồng phiến và 01 túi ma túy loại Heroine, với giá 13.500.000 đồng (chưa trả tiền) mang về nhà cất dấu để sử dụng và bán lại kiếm lời.
Vào hồi 09 giờ ngày 05-9-2024, Già Y N bị đau bụng nên C đưa cho N 01 tép ma túy loại Heroine và 01 viên hồng phiến để N sử dụng, N bỏ vào túi quần bên phải rồi điểu khiển xe mô tô biển kiểm soát 47M5-2979 đi chợ, khi đến đoạn đường quốc lộ 28, thuộc tổ dân phố 3, phường N, thành phố G thì N bị Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố G phát hiện và bắt quả tang vào hồi 10 giờ 15 phút ngày 05-9-2024, thu giữ 01 tép ma túy loại Heroine và 01 viên hồng phiến.
Cùng thời điểm này, tại nhà ở của C và N, Giàng A L và Giàng A D, cùng trú tại Bản H, xã M, huyện Q, tỉnh Sơn La đến Đắk Nông để làm thuê, đến hỏi C mua ma túy để sử dụng. C lấy 01 viên hồng phiến bẻ ra làm 04 phần nhỏ, đưa cho L và D mỗi người một phần, L và D đưa cho C số tiền 100.000 đồng. Lúc này, L và D xin C lên gác nhà của C để sử dụng ma túy, C đồng ý. Khi L và D đang sử dụng thì C cũng lên gác lấy bộ dụng cụ và lấy 02 phần còn lại của viên hồng phiến ra sử dụng. Khi cả ba đang sử dụng thì bị Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố G phát hiện, bắt quả tang, tiến hành khám xét thu giữ nhiều chất rắn màu trắng (nghi là Heroine); 264 viên nén màu đỏ (nghi là Methamphetamine) cùng một số đồ vật khác có liên quan đến việc sử dụng chất ma túy.
Bản kết luận giám định số 424/KL-KTHS ngày 11-9-2024 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Đắk Nông kết luận:
- Chất rắn màu trắng đựng trong 16 gói nilon không màu, được hàn kín (16 gói nilon được đựng trong chai nhựa như đã mô tả nêu trên) được niêm phong trong bì thư có ghi “Tang vật thu giữ quả tang nghi là ma túy” gửi giám định là ma túy; loại Heroine (Heroin), có tên khoa học là: Diacetylmorphine, được quy định tại Bộ luật Hình sự 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) và Nghị định số 57/2022/NĐ-CP ngày 25-8-2022 của Chính phủ quy định các danh mục chất ma túy và tiền chất; có tổng khối lượng mẫu là 4,0536 gam.
- Chất rắn màu trắng đựng trong 07 gói nilon màu xanh lục, được hàn kín (07 gói nilon được đựng trong chai nhựa như đã mô tả nêu trên) được niêm phong trong bì thư có ghi “Tang vật thu giữ quả tang nghi là ma túy” gửi giám định là ma túy; loại Heroine (Heroin), có tên khoa học là: Diacetylmorphine, được quy định tại Bộ luật Hình sự 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) và Nghị định số 57/2022/NĐ-CP ngày 25-8-2022 của Chính phủ quy định các danh mục chất ma túy và tiền chất; có tổng khối lượng mẫu là 0,5626 gam.
- Không đủ căn cứ kết luận 04 viên màu đỏ có cùng kích thước (0,5x0,2)cm, một mặt viên nén có ký kiệu WY đựng trong 01 gói nilon kích thước (7,2x4,2)cm (gói nilon được đựng trong chai nhựa như đã mô tả nêu trên) được niêm phong trong bì thư có ghi “Tang vật thu giữ quả tang nghi là ma túy” gửi giám định là ma túy; tổng khối lượng mẫu là 0,4010 gam.
- Không đủ căn cứ kết luận 13 viên màu đỏ có cùng kích thước (0,5x0,2)cm, một mặt viên nén có ký kiệu WY đựng trong 01 gói nilon kích thước (7,2x4,2)cm (gói nilon được đựng trong chai nhựa như đã mô tả nêu trên) được niêm phong trong bì thư có ghi “Tang vật thu giữ quả tang nghi là ma túy” gửi giám định là ma túy; tổng khối lượng mẫu là 1,2634 gam.
- Không phát hiện chất ma túy bám dính trên mảnh giấy bạc bám muội khói màu đen được niêm phong trong bì thư có ghi “Giấy bạc thu giữ quả tang” gửi giám định.
- Chất rắn màu trắng đựng trong 01 gói nilon màu trắng, (gói nilon được đựng trong chai nhựa như đã mô tả nêu trên) được niêm phong trong bì thư có ghi “Tang vật khám xét thu giữ nghi là ma túy” gửi giám định là ma túy; loại Heroine (Heroin), có tên khoa học là: Diacetylmorphine, được quy định tại Bộ luật Hình sự 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) và Nghị định số 57/2022/NĐ-CP ngày 25-8-2022 của Chính phủ quy định các danh mục chất ma túy và tiền chất; có tổng khối lượng mẫu là 23,0291 gam.
- Không đủ căn cứ kết luận 134 viên màu đỏ có cùng kích thước (0,5x0,2)cm, một mặt viên nén có ký kiệu WY đựng trong 01 túi zipper màu xanh kích thước (6,5x9)cm (gói zipper được bao bọc như đã mô tả nêu trên) được niêm phong trong bì thư có ghi “Tang vật khám xét thu giữ nghi là ma túy” gửi giám định là ma túy; tổng khối lượng mẫu là 13,1207 gam.
- Không đủ căn cứ kết luận 113 viên màu đỏ có cùng kích thước (0,5x0,2)cm, một mặt viên nén có ký kiệu WY đựng trong 01 túi zipper màu xanh kích thước (6,5x9)cm (gói zipper được bao bọc như đã mô tả nêu trên) được niêm phong trong bì thư có ghi “Tang vật khám xét thu giữ nghi là ma túy” gửi giám định là ma túy; tổng khối lượng mẫu là 11,2452 gam.
Bản kết luận giám định số 2126/KL-KTHS ngày 27-9-2024 của Phân viện Khoa học hình sự tại thành phố Đà Nẵng, kết luận: Phần còn lại của các viên nén màu đỏ (04 viên, tổng khối lượng 0,2968 gam; 13 viên, tổng khối lượng 1,0599 gam; 134 viên, tổng khối lượng 12,6269 gam và 113 viên, tổng khối lượng 10,9431 gam) đều là ma túy, loại Methamphetamine.
Bản kết luận giám định số 423/KL-KTHS ngày 11-9-2024 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Đắk Nông kết luận:
- Chất rắn màu trắng đựng trong 01 gói nilon không màu, được hàn kín các cạnh, kích thước (2x1x0,5)cm (bên ngoài gói nilon được bằng các lớp như đã mô tả nêu trên) được niêm phong trong bì thư gửi giám định là ma túy; loại Heroine (Heroin), có tên khoa học là: Diacetylmorphine, được quy định tại Bộ luật Hình sự 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) và Nghị định số 57/2022/NĐ-CP ngày 25-8-2022 của Chính phủ quy định các danh mục chất ma túy và tiền chất; có tổng khối lượng mẫu là 0,2995 gam.
- Không đủ căn cứ kết luận viên nén hình tròn màu đỏ, đường kính 0,5cm đựng trong 01 gói nilon không màu, kích thước (7,5x6)cm (bên ngoài gói nilon được bọc bằng gói zipper chỉ đỏ) niêm phong trong bì thư gửi giám định là ma túy; khối lượng mẫu là 0,1084 gam.
Bản kết luận giám định số 2127/KL-KTHS ngày 27-9-2024 của Phân viện Khoa học hình sự tại thành phố Đà Nẵng, kết luận: Phần còn lại của viên nén hình tròn màu đỏ, khối lượng 0,1084 gam là ma túy, loại Methamphetamine.
Bản kết luận giám định số 518/KL-KTHS ngày 15-11-2024 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Đắk Nông, kết luận: Xe mô tô nhãn hiệu Yamaha; gắn biển kiểm soát 47M5-2979, số khung nguyên thủy RLCM4P8307Y001629, số máy nguyên thủy 4P83-001629; biển kiểm soát xe mô tô số 47M5-2979 do Cơ quan nhà nước có thẩm quyền cấp.
Bản kết luận giám định số 552/KL-KTHS ngày 10-12-2024 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Đắk Nông, kết luận: Dấu vân tay in trên Danh bản, chỉ bản cần giám định (ký hiệu A) so với dấu vân tay in trên Danh bản, chỉ bản mẫu so sánh (ký hiệu M) là dấu vân tay của cùng một người in ra.
Cáo trạng số 09/CT-VKSĐN-P1 ngày 09-01-2025 của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đắk Nông truy tố Xồng Bá C về các tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, “Mua bán trái phép chất ma túy” và “Chứa chấp việc sử dụng trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249, điểm b khoản 3 Điều 251 và điểm d khoản 2 Điều 256 của Bộ luật Hình sự; Già Y N về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa, các bị cáo cơ bản khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình và thừa nhận Cáo trạng truy tố là đúng người, đúng tội và không oan. Tuy nhiên, Xồng Bá C đề nghị xem xét về hành vi “Mua bán trái phép chất ma túy” mà Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đắk Nông truy tố đối với bị cáo.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đắk Nông sau khi phân tích các tình tiết của vụ án giữ nguyên quan điểm truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử: Tuyên bố các bị cáo Xồng Bá C phạm các tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, “Mua bán trái phép chất ma túy” và “Chứa chấp việc sử dụng trái phép chất ma túy”; Già Y N phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
1. Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật Hình sự, xử phạt Xồng Bá C từ 01 năm 06 tháng - 02 năm tù.
Áp dụng điểm b khoản 3 Điều 251; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật Hình sự, xử phạt Xồng Bá C từ 16 năm 06 tháng - 17 năm tù.
Áp dụng điểm d khoản 2 Điều 256; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật Hình sự, xử phạt Xồng Bá C từ 07 năm - 07 năm 06 tháng tù.
Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 55 của Bộ luật Hình sự, tổng hợp hình phạt chung của 03 tội buộc Xồng Bá C phải chấp hành từ 25 năm - 26 năm 06 tháng tù.
2. Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật Hình sự, xử phạt Già Y N từ 01 năm 06 tháng - 02 năm tù.
Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 của Bộ luật Hình sự; căn cứ Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự:
Chấp nhận ngày 24-12-2024, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh Đắk Nông ban hành Quyết định xử lý tài sản, đồ vật, tài liệu số 2028 trả lại 01 xe mô tô biển kiểm soát 47M5-2979 cho Già Y N là chủ sở hữu hợp pháp.
Tịch thu tiêu hủy:
- Chất rắn màu trắng đựng trong 16 gói nilon không màu, được hàn kín được niêm phong trong bì thư có ghi “Tang vật thu giữ quả tang nghi là ma túy” hoàn lại Cơ quan trưng cầu có khối lượng mẫu là 3,9087 gam, chất rắn màu trắng trên được đựng trong 01 gói zipper chỉ đỏ, kích thước (4x6)cm và ghi số 1;
- Chất rắn màu trắng đựng trong 07 gói nilon màu xanh lục, được hàn kín được niêm phong trong bì thư có ghi “Tang vật thu giữ quả tang nghi là ma túy” hoàn lại Cơ quan trưng cầu có khối lượng mẫu là 0,5044 gam, chất rắn màu trắng trên được đựng trong 01 gói zipper chỉ đỏ, kích thước (4x6)cm và ghi số 2;
- Hai gói zipper đựng mẫu hoàn trả trên và gói zipper chỉ đỏ, các gói nilon, 02 chai nhựa đựng mẫu gửi giám định vào một bì thư có kích thước (16x23)cm, mặt trước bì thư có ký hiệu số 424/KL-KTHS và ghi mẫu M1.1 hoàn trả; mặt sau bì thư được dán kín, có chữ ký giáp lai của giám định viên, cán bộ giám định, đại diện Công an thành phố G và đóng dấu giáp lai của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Đắk Nông.
- 01 mảnh giấy bạc bám muội khói màu đen, mảnh giấy bạc trên được đựng trong túi zipper chỉ đỏ, kích thước (17,8x27)cm (là túi zipper đựng mẫu gửi giám định). Túi zipper đựng mảnh giấy bạc trên vào một bì thư có kích thước (16x23)cm, mặt trước bì thư có ký hiệu số 424/KL-KTHS và ghi mẫu M2 hoàn trả; mặt sau bì thư được dán kín, có chữ ký giáp lai của giám định viên, cán bộ giám định, đại diện Công an thành phố G và đóng dấu giáp lai của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Đắk Nông.
- Chất rắn màu trắng đựng trong 01 gói nilon màu trắng được niêm phong trong bì thư có ghi “Tang vật khám xét thu giữ nghi là ma túy” hoàn lại Cơ quan trưng cầu có khối lượng mẫu là 22,7597 gam, chất rắn màu trắng trên được đựng trong 01 gói zipper chỉ đỏ, kích thước (6x10)cm và ghi số 1;
- Gói zipper đựng mẫu hoàn trả trên và các sợi dây thun, gói zipper chỉ đỏ, gói nilon, gói nilon màu đen đựng mẫu gửi giám định vào một bì thư có kích thước (16x23)cm, mặt trước bì thư có ký hiệu số 424/KL-KTHS và ghi mẫu M3.1 hoàn trả; mặt sau bì thư được dán kín, có chữ ký giáp lai của giám định viên, cán bộ giám định, đại diện Công an thành phố G và đóng dấu giáp lai của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Đắk Nông.
- 04 viên nén màu đỏ có cùng kích thước (0,5x0,2)cm, một mặt viên nén có ký hiệu WY đựng trong 01 gói nilon kích thước (7,2x4,2)cm được niêm phong trong bì thư có ghi “Tang vật thu giữ quả tang nghi là ma túy” hoàn lại Cơ quan trưng cầu có khối lượng mẫu là 0,2968 gam, viên nén màu đỏ trên được đựng trong 01 gói zipper kích thước (7,2x4,2)cm (là gói zipper đựng mẫu gửi giám định) và ghi số 3.1;
- 13 viên nén màu đỏ có cùng kích thước (0,5x0,2)cm, một được niêm phong trong bì thư có ghi “Tang vật thu giữ quả tang nghi là ma túy” hoàn lại Cơ quan trưng cầu có khối lượng mẫu là 1,0599 gam, viên nén màu đỏ trên được đựng trong 01 gói zipper kích thước (7,2x4,2)cm (là gói zipper đựng mẫu gửi giám định) và ghi số 3.2;
- 02 gói zipper đựng mẫu hoàn trả trên và chai nhựa đựng mẫu gửi giám định vào một bì thư có kích thước (16x23)cm, mặt trước bì thư có ký hiệu 424/KL-KTHS và ghi mẫu M1.2 hoàn trả; mặt sau bì thư được dán kín, có chữ ký giáp lai của giám định viên, điều tra viên, cán bộ điều tra của Công an thành phố G và đóng dấu giáp lai của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Đắk Nông.
- 134 viên nén màu đỏ có cùng kích thước (0,5x0,2)cm, một mặt viên nén có ký hiệu WY đựng trong 01 túi zipper màu xanh kích thước (6,5x9)cm được niêm phong trong bì thư có ghi “Tang vật khám xét thu giữ nghi là ma túy” hoàn lại Cơ quan trưng cầu có khối lượng mẫu là 12,6269 gam, viên nén màu đỏ trên được đựng trong 01 gói zipper chỉ đỏ kích thước (6x10)cm và ghi số 2;
- 113 viên nén màu đỏ có cùng kích thước (0,5x0,2)cm, một mặt viên nén có ký hiệu WY đựng trong 01 túi zipper màu xanh kích thước (6,5x9)cm được niêm phong trong bì thư có ghi “Tang vật khám xét thu giữ nghi là ma túy” hoàn lại Cơ quan trưng cầu có khối lượng mẫu là 10,9431 gam, viên nén màu đỏ trên được đựng trong 01 gói zipper chỉ đỏ kích thước (6x10)cm và ghi số 3.
- 02 gói zipper đựng mẫu hoàn trả trên và 02 gói zipper màu xanh đựng mẫu gửi giám định vào một bì thư có kích thước (16x23)cm, mặt trước bì thư có ký hiệu 424/KL-KTHS và ghi mẫu M3.2 hoàn trả; mặt sau bì thư được dán kín, có chữ ký giáp lai của giám định viên, cán bộ giám định, Điều tra viên, cán bộ điều tra của Công an thành phố G và đóng dấu giáp lai của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Đắk Nông.
- Phần còn lại của 04 viên nén màu đỏ bên trong túi nilon trong suốt có ghi số “3.1”; hoàn trả: 0,12 gam;
- Phần còn lại của 13 viên nén màu đỏ bên trong túi nilon trong suốt có ghi số “3.2”; hoàn trả: 0,85 gam;
- Phần còn lại của 134 viên nén màu đỏ bên trong túi nilon trong suốt có ghi số “2”; hoàn trả: 12,06 gam;
- Phần còn lại của 113 viên nén màu đỏ bên trong túi nilon trong suốt có ghi số “3”; hoàn trả: 10,44 gam;
- Vỏ bao gói;
Tất cả mẫu vật và vỏ bao gói hoàn trả nêu trên, được niêm phong trong phong bì niêm phong số 2126/KL-KTHS, bên ngoài có dấu đỏ của Phân viện Khoa học hình sự tại thành phố Đà Nẵng, các chữ ký, chữ viết ghi họ tên: Phạm Thị Thu Ph, Nguyễn Văn T và Rbam Trương Y C.
- Chất rắn màu trắng đựng trong 01 gói nilon không màu, được hàn kín các cạnh, kích thước (2x1x0,5)cm được niêm phong trong bì thư hoàn lại Cơ quan trưng cầu có khối lượng mẫu là 0,2682 gam, chất rắn màu trắng trên được đựng trong 01 gói zipper chỉ đỏ kích thước (4x6)cm. Gói zipper đựng mẫu hoàn trả trên và gói zipper, các gói nilon đựng mẫu gửi giám định vào một bì thư có kích thước (16x23)cm, mặt trước bì thư có ký hiệu 423/KL-KTHS và ghi mẫu M1 hoàn trả; mặt sau bì thư được dán kín, có chữ ký giáp lai của giám định viên, cán bộ giám định, đại diện Công an thành phố G và đóng dấu giáp lai của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Đắk Nông.
- Viên nén hình tròn màu đỏ, đường kính 0,5cm đựng trong 01 gói nilon không màu, kích thước (7,5x6)cm được niêm phong trong bì thư hoàn lại Cơ quan trưng cầu có khối lượng mẫu là 0,0705 gam, viên nén màu đỏ trên được đựng trong 01 gói zipper chỉ đỏ kích thước (4x6)cm. Gói zipper đựng mẫu hoàn trả trên vào một bì thư có kích thước (16x23)cm, mặt trước bì thư có ký hiệu 423/KL-KTHS và ghi mẫu hoàn trả (viên nén); mặt sau bì thư được dán kín, có chữ ký giáp lai của giám định viên, cán bộ giám định, Điều tra viên, cán bộ điều tra của Công an thành phố G và đóng dấu giáp lai của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Đắk Nông.
- Tất cả vỏ bao gói hoàn trả được niêm phong trong phong bì niêm phong số 2127/KL-KTHS, bên ngoài có dấu đỏ của Phân viện Khoa học hình sự tại thành phố Đà Nẵng, các chữ ký, chữ viết ghi họ tên: Phạm Thị Thu Ph, Nguyễn Văn T và Rbam Trương Y C.
- 01 chai nhựa màu trắng, kích thước chiều cao 5,0cm; đường kính nắp chai 2,8cm; 01 chai nhựa màu trắng, kích thước chiều cao 5,0cm; đường kính nắp chai 4,3cm, bên ngoài dán nhãn giấy in dòng chữ TERPINCOLD; 01 chai nhựa màu trắng, kích thước chiều cao 4,5cm; đường kính nắp chai 3,0cm, bên ngoài dán nhãn giấy in dòng chữ Mebendazol; 01 chai nhựa trong suốt, kích thước chiều cao 21cm; không gắn nắp chai, miệng chai có đường kính 2,3cm, phần miệng chai có gắn vòng tròn nhựa màu đỏ, phần thân chai nhựa được đục 01 lỗ tròn gắn 01 ống tre hình tròn, rỗng bên trong, kích thước chiều dài 21cm, đường kính ống 1,0cm.
- 01 quẹt gas màu xanh, kích thước (7,5x0,8x2,0)cm;
- 01 mảnh giấy bạc bị tác động bởi nhiệt, một mặt có bám dính muội màu đen không rõ hình thù.
- Tịch thu sung ngân sách Nhà nước: Tiền ngân hàng Nhà nước Việt Nam 100.000 đồng gồm 02 tờ mệnh giá 50.000 đồng.
Người bào chữa cho các bị cáo trình bày luận cứ: Việc truy tố của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đắk Nông về hành vi phạm tội của các bị cáo là có căn cứ đúng pháp luật, đúng người, đúng tội và không oan. Tại phiên tòa, bị cáo Xồng Bá C không thừa nhận hành vi phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy” nhưng quá trình điều tra lấy lời khai có sự tham gia của người bào chữa thì Xồng Bá C tự nguyên khai báo, không bị ép cung, nhục hình. Ngoài các tình tiết giảm nhẹ mà Kiểm sát viên đề nghị thì các bị cáo có hoàn cảnh gia đình khó khăn, nhận thức pháp luật hạn chế nên đề nghị áp dụng thêm khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự và xử phạt Xồng Bá C mức hình phạt nhẹ hơn Viện kiểm sát đề nghị. Đối với Già Y N đề nghị áp dụng thêm khoản 2 Điều 51, Điều 54 của Bộ luật Hình sự và xử phạt mức hình phạt dưới mức thấp nhất của khung hình phạt và nhẹ hơn Viện kiểm sát đề nghị. Đồng thời, đề nghị miễn án phí đối với các bị cáo.
Già Y N không bào chữa, tranh luận, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt. Xồng Bá C đề nghị Hội đồng xét xử xem xét về hành vi phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1]. Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan Điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định. Các bị cáo và những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2]. Tại phiên tòa, Xồng Bá C thừa nhận hành vi tàng trữ và chứa chấp việc sử dụng trái phép chất ma túy nhưng không thừa nhận hành vi bán ma túy cho ông Giàng A L và ông Giàng A D. Tuy nhiên, căn cứ vào biên bản bắt người phạm tội quả tang (bút lục số 81-83), lời khai của những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án (bút lục số 207-218), biên bản ghi lời khai của bị cáo Xồng Bá C có sự tham gia của người bào chữa và Kiểm sát viên (bút lục số 257-258) thì hành vi mua bán trái phép chất ma túy của Xồng Bá C trong suốt quá trình lập biên bản bắt người phạm tội quả tang, biên bản ghi lời khai thì Xồng Bá C thừa nhận hành vi phạm tội của mình phù hợp với lời khai của ông Giàng A L và ông Giàng A D là người trực tiếp mua ma túy của bị cáo C để sử dụng. Sau những biên bản ghi lời khai Xồng Bá C đều cam đoan toàn bộ nội dung lời khai là đúng sự thật, quá trình làm việc tự nguyện khai báo, không bị ai ép buộc.
Xét lời khai của các bị cáo tại phiên tòa cơ bản phù hợp với lời khai của các bị cáo tại cơ quan điều tra, lời khai của người làm chứng, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án và các chứng cứ, tài liệu lưu hồ sơ vụ án được thẩm tra công khai tại phiên tòa. Do đó, Hội đồng xét xử có căn cứ kết luận: Từ ngày 04-9-2024 đến ngày 05-9-2024, tại tổ dân phố 3, phường N, thành phố G, tỉnh Đắk Nông. Xồng Bá C có hành vi tàng trữ 27,6453 gam ma túy, loại Heroine và 26,0303 gam ma túy, loại Methamphetamine để bán cho những đối tượng có nhu cầu sử dụng ma túy. Ngày 05-9-2024, Xồng Bá C có hành vi cho Giàng A L và Giàng A D sử dụng trái phép chất ma túy tại nơi ở của C. Ngày 05-9-2024, Già Y N và Xồng Bá C có hành vi tàng trữ trái phép 0,2995 gam ma túy, loại Heroine và 0,1084 gam ma túy, loại Methamphetamine để sử dụng.
Do đó, Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đắk Nông truy tố Xồng Bá về các tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, “Mua bán trái phép chất ma túy” và “Chứa chấp việc sử dụng trái phép chất ma túy” là đúng theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249, điểm b khoản 3 Điều 251 và điểm d khoản 2 Điều 256 của Bộ luật Hình sự; Già Y N về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” là đúng theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự.
Điều 249 của Bộ luật Hình sự quy định:
“1. Người nào tàng trữ trái phép chất ma túy mà không nhằm mục đích mua bán, vận chuyển, sản xuất trái phép chất ma túy thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 01 năm đến 05 năm:
c) Methamphetamine có khối lượng từ 0,1 gam đến dưới 05 gam;"
Điều 251 của Bộ luật Hình sự quy định:
“1. Người nào mua bán trái phép chất ma túy, thì bị phạt tù từ 02 năm đến 07 năm.
3. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 15 năm đến 20 năm:
b) Heroine, Cocaine, Methamphetamine, Amphetamine, MDMA hoặc XLR-11 có khối lượng từ 30 gam đến dưới 100 gam;"
Điều 256 của Bộ luật Hình sự quy định:
“1. Người nào cho thuê, cho mượn địa điểm hoặc có bất kỳ hành vi nào khác chứa chấp việc sử dụng trái phép chất ma túy, nếu không thuộc trường hợp quy định tại Điều 255 của Bộ luật này, thì bị phạt tù từ 02 năm đến 07 năm.
2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 07 năm đến 15 năm:
d) Đối với 02 người trở lên;"
[3]. Xét tính chất vụ án do hành vi phạm tội của các bị cáo Xồng Bá C gây ra là rất nghiêm trọng và Già Y N là nghiêm trọng. Hành vi phạm tội của các bị cáo đã xâm phạm đến chế độ quản lý của Nhà nước về các chất ma tuý. Ảnh hưởng tiêu cực đến trật tự an toàn xã hội, là một trong những nguyên nhân, tiền đề của các tệ nạn xã hội; tác hại tiêu cực đến sức khỏe con người, làm mất khả năng lao động, học tập và mất khả năng tự chủ cuộc sống; gây nhức nhối, bức xúc trong mỗi gia đình, khu dân cư và toàn xã hội... Mặc dù, các bị cáo có đủ nhận thức để biết pháp luật nghiêm cấm mọi hành vi tàng trữ, mua bán và chứa chấp sử dụng trái phép các chất ma túy, nhưng vì động cơ hám lợi, coi thường pháp luật nên các bị cáo vẫn cố tình thực hiện, do đó cần phải xử lý thật nghiêm.
Trong vụ án, có 02 bị cáo tham gia với vai trò, hành vi phạm tội khác nhau nên cần phân hóa trách nhiệm hình sự để áp dụng mức hình phạt tương xứng với tính chất, mức độ hành vi phạm tội cũng như nhân thân của từng bị cáo.
[4]. Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: không có.
Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải đối với hành vi phạm tội của mình, nên có căn cứ áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự. Đối với hành vi “Mua bán trái phép chất ma túy” của Xồng Bá C, mặc dù tại phiên tòa bị cáo không thừa nhận tuy nhiên đây là nhận thức của bị cáo và diễn biến hết sức tâm lý bình thường của người phạm tội; tại giai đoạn điều tra bị cáo đều thừa nhận hành vi phạm tội của mình nên Hội đồng xét xử xem xét áp dụng tình tiết thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải đối với hành vi này ở mức độ hạn chế. Các bị cáo đã từng bị kết án về các hành vi mua bán và tàng trữ trái phép chất ma túy không lấy đó làm bài học cho bản thân mà tiếp tục phạm tội nên cần xem xét khi áp dụng mức hình phạt đối với các bị cáo.
Xét đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đắk Nông và người bào chữa tại phiên tòa phù hợp một phần nên Hội đồng xét xử chấp nhận.
[5]. Về xử lý vật chứng: Xét đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đắk Nông tại phiên tòa là có căn cứ nên cần xử lý vật chứng như đề nghị của Viện kiểm sát.
[6]. Về án phí: Các bị cáo bị kết án phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
[7]. Quá trình điều tra, Xồng Bá C khai báo số ma túy mà bị cáo tàng trữ mua của đối tượng chưa xác định được lý lịch. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh Đắk Nông đã áp dụng đầy đủ các biện pháp điều tra theo quy định của pháp luật, nhưng chưa thu thập được tài liệu, chứng cứ. Do thời hạn điều tra vụ án đã hết, Cơ quan điều tra đã tách ra để tiếp tục kiểm tra, xác minh nên không đề cập.
Đối với Giàng A L và Giàng A D có hành vi sử dụng trái phép chất ma túy là Methamphetamine. Ngày 13-9-2024, Công an thành phố G, tỉnh Đắk Nông ban hành Quyết định xử phạt vi phạm hành chính là có căn cứ.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
-
Tuyên bố các bị cáo Xồng Bá C phạm các tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, “Mua bán trái phép chất ma túy” và “Chứa chấp việc sử dụng trái phép chất ma túy”; Già Y N phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
- Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự, xử phạt Xồng Bá C 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
- Áp dụng điểm b khoản 3 Điều 251; điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự, xử phạt Xồng Bá C 16 (mười sáu) năm tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.
- Áp dụng điểm d khoản 2 Điều 256; điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự, xử phạt Xồng Bá C 07 (bảy) năm tù về tội “Chứa chấp việc sử dụng trái phép chất ma túy”.
- Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 55 của Bộ luật Hình sự, tổng hợp hình phạt chung của 03 tội buộc Xồng Bá C phải chấp hành 24 (hai mươi tư) năm 06 (sáu) tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị bắt tạm giữ, tạm giam (ngày 05-9-2024).
- Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự, xử phạt Già Y N 01 (một) năm 03 (ba) tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị bắt tạm giữ, tạm giam (ngày 05-9-2024).
-
Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 của Bộ luật Hình sự; căn cứ Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự:
Chấp nhận Quyết định xử lý tài sản, đồ vật, tài liệu số 2028/QĐ-CSMT ngày 24-12-2024 của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh Đắk Nông, trả lại 01 xe mô tô biển kiểm soát 47M5-2979 cho Già Y N là chủ sở hữu hợp pháp.
Tịch thu tiêu hủy:
- 01 bì thư kích thước (16x23)cm, mặt trước bì thư có ký hiệu số 423/KL-KTHS và ghi mẫu M1 hoàn trả; mặt sau bì thư được dán kín, có chữ ký giáp lai của giám định viên, cán bộ giám định, đại diện Công an thành phố G và đóng dấu giáp lai của phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Đắk Nông, bên trong chứa: 0,2682gam (khối lượng hoàn lại sau giám định) ma túy loại heroin và 01 gói nylon không màu được hàn kín các cạnh, kích thước (2x1x0,5)cm (gói nylon chứa mẫu vật giám định).
- 01 bì thư niêm phong số 2127/KL-KTHS, bên ngoài có dấu đỏ của Phân viện Khoa học hình sự tại thành phố Đà Nẵng, có chữ ký, chữ viết của Phạm Thị Thu Ph, Nguyễn Văn T, RBam Trương Y C, bên trong chứa vỏ bao gói gửi giám định (mẫu vật gửi giám định đã sử dụng hết cho công tác giám định).
- 01 bì thư kích thước (16x23)cm, mặt trước bì thư ký hiệu số 424/KL-KTHS và ghi mẫu M1.1 hoàn trả, mặt sau bì thư được dán kín, có chữ ký của giảm định viên, cán bộ giám định, đại diện Công an thành phố G và đóng dấu giáp lai của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Đắk Nông, bên trong chứa 3,9087gam (khối lượng hoàn lại sau giám định, đựng trong túi zipper ký hiệu 1) chất rắn màu trắng đựng trong 16 gói nylon không màu gửi niêm phong. 0,5044gam (khối lượng hoàn lại sau giám định, đựng trong túi zipper ký hiệu 2) chất rắn màu trắng đựng trong 07 gói nylon màu xanh lục; 02 chai nhựa đựng mẫu giám định.
- 01 bì thư kích thước (16x23)cm, mặt trước bì thư ký hiệu số 424/KL-KTHS và ghi mẫu M3.1 hoàn trả, mặt sau bì thư được dán kín, có chữ ký của giám định viên, cán bộ giám định, đại diện Công an thành phố G và đóng dấu giáp lai của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Đắk Nông, bên trong chứa: 22,7597gam (khối lượng hoàn lại sau giám định, đựng trong túi zipper ký hiệu 1) chất rắn đựng trong 01 túi nylon màu trắng gửi giám định; các gói nylon chứa mẫu vật giám định.
- 01 bì thư kích thước (16x23)cm, mặt trước bì thư ký hiệu số 424/KL-KTHS và ghi mẫu M2 hoàn trả, mặt sau bì thư được dán kín, có chữ ký của giám định viên, cán bộ giám định, đại diện Công an thành phố G và đóng dấu giáp lai của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Đắk Nông, bên trong chứa 01 mảnh giấy bạc bám muội khói màu đen.
- 01 bì thư niêm phong ký hiệu số 2126/KL-KTHS bên ngoài có dấu đỏ của Phân viện Khoa học hình sự tại thành phố Đà Nẵng, có chữ ký, chữ viết của Phạm Thị Thu Ph, Nguyễn Văn T, RBam Trương Y C, bên trong chứa các mẫu vật gửi giám định và vỏ bao gói chứa mẫu vật giám định gồm: 0,12gam (khối lượng hoàn lại sau giám định) của 04 viên nén màu đỏ có cùng kích thước (0,5 x 0,2)cm, một mặt viên nén có in chìm chữ cái WY. 0,85gam (khối lượng hoàn lại sau giám định) của 13 viên nén màu đỏ có cùng kích thước (0,5 x 0,2)cm, một mặt viên nén có in chìm chữ cái WY. 12,06gam (khối lượng hoàn lại sau giám định) của 134 viên nén màu đỏ có cùng kích thước (0,5 x 0,2)cm, một mặt viên nén có in chìm chữ cái WY. 10,44 gam (khối lượng hoàn lại sau giám định) của 113 viên nén màu đỏ có cùng kích thước (0,5 x 0,2)cm, một mặt viên nén có in chìm chữ cái WY.
- 01 hộp giấy bên trong chứa 01 chai nhựa kích thước chiều cao 21 cm không gắn nắp chai, miệng chai có đường kính 2,3 cm, phần miệng chai có gắn vòng tròn nhựa màu đỏ, phần thân chai nhựa được đục 01 lỗ tròn gắn 01 ống tre hình tròn, rỗng bên trong, kích thước chiều dài 21cm, đường kính ống 01cm; 01 quẹt ga màu xanh kích thước (7,5 x 0,8 x 2)cm.
Tịch thu sung ngân sách Nhà nước 100.000 đồng (Theo chứng từ giao dịch giấy nộp tiền ngày 03-01-2025 tại Ngân hàng TMCP NT Việt Nam - Chi nhánh Đắk Nông nộp vào tài khoản Cục Thi hành án dân sự tỉnh Đắk Nông).
(Các vật chứng có đặc điểm như biên bản giao nhận vật chứng ngày 10-01-2025 giữa Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh Đắk Nông và Cục Thi hành án dân sự tỉnh Đắk Nông).
- Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; áp dụng điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án: Buộc Xồng Bá C và Già Y N mỗi bị cáo phải chịu 200.000đ (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
- Về quyền kháng cáo: Các bị cáo có quyền kháng cáo bản án sơ thẩm trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo phần bản án có liên quan đến quyền lợi, nghĩa vụ của mình trong hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc niêm yết bản án theo quy định của pháp luật.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (đã ký và đóng dấu) Dương Hà Ngân |
Bản án số 14/2025/HS-ST ngày 12/03/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐẮK NÔNG về hình sự về tội tàng trữ, mua bán và chứa chấp sử dụng trái phép chất ma túy
- Số bản án: 14/2025/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Hình sự về tội Tàng trữ, Mua bán và Chứa chấp sử dụng trái phép chất ma túy
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 12/03/2025
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐẮK NÔNG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Xồng Bá C phạm các tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, “Mua bán trái phép chất ma túy” và “Chứa chấp việc sử dụng trái phép chất ma túy”; Già Y N phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
