Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ Q

TỈNH QUẢNG NGÃI

Bản án số: 14/2025/HS-ST

Ngày: 11-3-2025

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ Q, TỈNH QUẢNG NGÃI

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Trần Mến

Các Hội thẩm nhân dân:

  1. Bà Lê Thị Hồng Trinh.
  2. Ông Nguyễn Mạnh Hùng.

Thư ký phiên tòa: Ông Lưu Quốc Trạng - Thư ký Tòa án, Tòa án nhân dân thành phố Q, tỉnh Quảng Ngãi.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Q, tỉnh Quảng Ngãi tham gia phiên tòa: Ông Phan Văn Lĩnh – Kiểm sát viên.

Ngày 11 tháng 3 năm 2024, tại Hội trường xử án Tòa án nhân dân thành phố Q, tỉnh Quảng Ngãi, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 215/2024/TLST-HS ngày 28/11/2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 41/2025/QĐXXST-HS ngày 19/02/2025 đối với các bị cáo:

  1. Bị cáo Lê Anh H, sinh ngày 28/8/2001 tại tỉnh Quảng Ngãi; nơi cư trú: Tổ A, phường L, thành phố Q, tỉnh Quảng Ngãi; nghề nghiệp: Không; trình độ học vấn: 09/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Lê Thành C và bà Võ Thị Mỹ H1; vợ, con: Chưa có. Tiền án, tiền sự: Không.
  2. Bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 08/6/2024 đến nay. Hiện đang bị tạm giam tại Phân trại tạm giam khu vực huyện S, tỉnh Quảng Ngãi. Có mặt.

  3. Bị cáo Phan Văn T, sinh ngày 09/10/2001 tại tỉnh Quảng Ngãi; nơi cư trú: Thôn T, xã T, huyện S, tỉnh Quảng Ngãi; nghề nghiệp: Không; trình độ học vấn: 09/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Phan Văn C1 và bà Vương Thị Hồng N; vợ, con: Chưa có. Tiền án, tiền sự: Không.
  4. Bị bắt, tạm giam từ ngày 05/10/2024 đến nay. Hiện đang bị tạm giam tại Phân trại tạm giam khu vực thành phố Q, tỉnh Quảng Ngãi. Có mặt.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

  • + Chị Phạm Thị D, sinh năm 2005; trú tại: Thôn A, xã N, huyện T, tỉnh Quảng Ngãi. Vắng mặt.
  • + Chị Đinh Thị L, sinh năm 2005; trú tại: Thôn Đ, xã S, huyện S, tỉnh Quảng Ngãi. Vắng mặt.
  • + Chị Võ Thị Mỹ H1, sinh năm 1980; trú tại: Tổ A, phường L, thành phố Q, tỉnh Quảng Ngãi. Có mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng hơn 10 giờ 30 phút ngày 07/6/2024, Phan Văn T điều khiển xe mô tô biển kiểm soát 76G1-560.46 chở Phạm Thị D (sinh năm 2005) đến nhà Lê Anh H tại địa chỉ tổ A, phường L, thành phố Q, tỉnh Quảng Ngãi. Sau đó, H rủ T đi đến xã N, thành phố Q gặp người tên V (là bạn bè xã hội với H, H không biết thông tin lai lịch). T đồng ý, điều khiển xe 76G1-56046 chở H đến một quán cà phê (không xác định được địa chỉ) ở xã N gặp V. Trong lúc nói chuyện, V lấy từ trong túi áo ra một nắp nhựa màu vàng có gắn ống nhựa màu hồng và một nỏ thuỷ tinh, bên trong nỏ thuỷ tinh có ma tuý “đá” để trên bàn. V nói với H, T “đứa nào chơi thì lấy về chơi chứ anh không dám chơi nữa, sợ bị công an bắt”. Sau đó, T lấy nắp nhựa màu vàng có gắn ống nhựa màu hồng và nỏ thuỷ tinh chứa ma tuý đá rồi điều khiển xe mô tô chở H về nhà H. Thương để nắp nhựa có ma tuý ở bàn kính tại phòng khách rồi đi ra ngoài sân. Lúc này, H và D đang ở trong phòng khách. H lấy nắp nhựa màu vàng (nắp nhựa có gắn nỏ thuỷ tinh chứa ma tuý đá) gắn vào chai nhựa có sẵn ở phòng khách tạo thành bộ dụng cụ sử dụng ma tuý “đá”. H dùng bật lửa đốt ma tuý đá để sử dụng rồi đưa bộ dụng cụ sử dụng ma tuý đá cho D cùng sử dụng. Sau khi sử dụng ma tuý, Hữu tháo rời bộ dụng cụ sử dụng ma tuý để dưới bàn, D đi ra ngoài, T điều khiển xe mô tô chở D đi về nhà mình.

Khoảng 19 giờ ngày 07/6/2024, D điều khiển xe mô tô 76G1-560.46 quay lại nhà H. Khoảng 22 giờ cùng ngày, T điều khiển xe mô tô 59N3-215.19 đến nhà H để gặp D. Tại đây có D, H, Đinh Thị L (sinh năm 2005, bạn của H) đang ngồi ở phòng khách. Thấy T, H nói “còn đồ dưới bàn, chơi thì lấy chơi”. T lấy nắp nhựa (có chứa ma tuý) gắn vào chai nhựa (dưới bàn kính) tạo thành bộ dụng cụ sử dụng ma tuý “đá”. H, T, D thay phiên nhau lần lượt sử dụng số ma tuý có trong bộ D2 sử dụng ma tuý đá; riêng L không sử dụng ma tuý mà lấy xe mô tô 76G1-560.46 đi ra ngoài. Sau khi sử dụng ma tuý, T tháo nắp nhựa rồi cất giấu trong hộp nhựa dưới bàn kính và để chai nhựa dưới nền nhà sát bàn kính thì bị Cơ quan CSĐT Công an thành phố Q phát hiện, bắt quả tang thu giữ, niêm phong bộ dụng cụ sử dụng ma tuý đá cùng các đồ vật, tài liệu có liên quan.

* Kết quả trưng cầu giám định:

Kết luận giám định ma tuý: Tại kết luận giám định số 581/KL-KTHS ngày 15/6/2024 của Phòng K1 Công an tỉnh Q kết luận: Chất rắn màu trắng – xám bám dính trong ống thuỷ tinh gửi giám định là ma tuý; loại Methamphetamine; Mẫu ở dạng vết nên không cân khối lượng.

Kết luận giám định dữ liệu điện tử: Tại kết luận giám định số: 669/KL-KTHS, ngày 14/9/2024, Phòng K1 Công an tỉnh Q kết luận:

  • Điện thoại di động loại cảm ứng, không rõ màu, bên ngoài có dòng chữ “OPPO”. Dữ liệu trích xuất theo yêu cầu giám định, xác định: Có: 44 tên, số điện thoại trong ứng dụng danh bạ; Không có nội dung dữ liệu cuộc gọi thông thường và tin nhắn SMS; Có: 05 cuộc gọi đi và 09 tin nhắn đi trong ứng dụng; không có cuộc gọi đến, cuộc gọi nhỡ và tin nhắn đến trong ứng dụng messenger; Điện thoại không cài đặt ứng dụng zalo; Điện thoại không gắn thẻ sim. Không có dữ liệu liên quan đến hành vi phạm tội.
  • Điện thoại di động loại cảm ứng, mặt sau có dòng chữ “iPhone”, bên trong thân máy có gắn thẻ sim có dãy số 8984012305241190244. Dữ liệu trích xuất theo yêu cầu giám định, xác định: có 116 tên, số điện thoại trong ứng dụng danh bạ; có 01 cuộc gọi đến, 03 cuộc gọi nhỡ; không tìm thấy cuộc gọi đi; Có 17 tin nhắn SMS đến, không tìm thấy tin nhắn SMS đi; Có 15 cuộc gọi đến, 13 cuộc gọi đi, 07 cuộc gọi nhỡ trong ứng dụng messenger; không tìm thấy dữ liệu tin nhắn; Có 02 tin nhắn đi, 06 tin nhắn đến trong ứng dụng zalo; không tìm thấy dữ liệu cuộc gọi; Số thuê bao của thẻ sim: 0762589716. Không có dữ liệu liên quan đến hành vi phạm tội.
  • Điện thoại di động loại cảm ứng, không rõ màu, bên ngoài có dòng chữ “SAMSUNG”: Điện thoại bị khoá nên không trích xuất dữ liệu theo yêu cầu giám định.

Cáo trạng số 185/CT-VKSTPQN ngày 23/11/2024 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Q, tỉnh Quảng Ngãi truy tố bị cáo Lê Anh H về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm a, b khoản 2 Điều 255 Bộ luật Hình sự; bị cáo Phan Văn T về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 255 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Q, tỉnh Quảng Ngãi vẫn giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử:

  • Bị cáo Lê Anh H: Áp dụng điểm a, b khoản 2 Điều 255; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 17; Điều 58; Điều 38 Bộ luật Hình sự, đề nghị xử phạt bị cáo H từ 07 năm 06 tháng đến 08 năm tù.
  • Bị cáo Phan Văn T: Áp dụng điểm b khoản 2 Điều 255; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 17; Điều 58; Điều 38 Bộ luật Hình sự, đề nghị xử phạt bị cáo T từ từ 07 năm đến 07 năm 06 tháng tù.

* Về xử lý vật chứng, đề nghị: Căn cứ Điều 47 Bộ luật Hình sự, Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự đề nghị Hội đồng xét xử tuyên:

- Tịch thu, tiêu hủy:

  • 01 (một) nắp nhựa màu vàng, trên nắp gắn 01 (một) ống nhựa màu hồng và 01 (một) ống thuỷ tinh uốn cong, bên trong bám dính chất màu xám – đen.
  • 01 (một) hộp nhựa không màu, không có nắp đậy;
  • 01 (một) chai nhựa có dòng chữ “TEA+PLUS";
  • 01 (một) cái kéo có phần lưỡi kim loại, phần cán bằng nhựa màu xanh;
  • 01 (một) bật lửa ga màu đỏ; 01 (một) bật lửa ga màu hồng; 03 (ba) bật lửa ga màu xanh.

- Trả lại cho chủ sở hữu:

  • 01 (một) điện thoại di động loại cảm ứng, không rõ màu, bên ngoài có dòng chữ “OPPO”; điện thoại đã qua sử dụng, không kiểm tra chất lượng và 01 (một) điện thoại di động loại cảm ứng, không rõ màu, bên ngoài có dòng chữ “SAM SUNG”; điện thoại đã qua sử dụng, không kiểm tra chất lượng cho Lê Anh Hữu .

- Đã trả lại cho chủ sở hữu:

  • 01 (một) điện thoại di động, loại cảm ứng, mặt sau có dòng chữ “iPhone”. Điện thoại đã qua sử dụng, không kiểm tra chất lượng. Đây là điện thoại của Phạm Thị Diễm K liên quan đến hành vi phạm tội của các bị cáo. Cơ quan điều tra đã trả lại cho chị D.
  • 01 (một) xe mô tô loại Vision, gắn biển số 76G1-560.46. Đây là tài sản của Phạm Thị Diễm .1 Việc T sử dụng xe mô tô chở H đến xã N lấy ma tuý đưa về nhà H, D không biết. Cơ quan điều tra đã trả lại xe mô tô này cho chị D.

Đối với 01 (một) xe mô tô nhãn hiệu Honda Vision, gắn biển số 59N3-215.19. Kết quả điều tra xác định: T mua xe mô tô này từ một người đàn ông không rõ nhân thân, lai lịch tại Thành phố Hồ Chí Minh vào cuối năm 2023, không có Giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô, xe máy. Tối ngày 07/6/2024, T sử dụng xe mô tô này đi đến nhà H để gặp D, sau đó tổ chức sử dụng trái phép chất ma tuý. Kết quả tra cứu trên hệ thống đăng ký xe thể hiện: chủ sở hữu xe mô tô biển số 59N3-215.19 là ông Nguyễn Văn N1, địa chỉ: D ấp D, T, B, TP Hồ Chí Minh. Ngày 15/10/2024, Cơ quan điều tra uỷ thác cho Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện B xác minh thông tin xe mô tô biển số 59N3-215.19 nhưng đến nay vẫn chưa có kết quả trả lời. Cơ quan điều tra tiếp tục xác minh, đề nghị xử lý sau.

Ý kiến tranh luận của các bị cáo: Các bị cáo Lê Anh H, Phan Văn T thống nhất với đề nghị của Viện kiểm sát, không tranh luận gì.

Lời nói sau cùng của các bị cáo: Các bị cáo Lê Anh H, Phan Văn T rất hối hận về hành vi phạm tội của mình, xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo để các bị cáo sớm trở lại xã hội làm lại cuộc đời.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Q, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Q, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã được thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo và những người tham gia tố tụng đều không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng và người có thẩm quyền tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Về sự vắng mặt của những người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan tại phiên tòa: Các bị cáo, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan và Kiểm sát viên tham gia phiên tòa đều đề nghị Hội đồng xét xử tiến hành xét xử, không đề nghị hoãn phiên tòa. Xét những người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan trong quá trình điều tra đã có lời khai, do đó Hội đồng xét xử căn cứ vào Điều 292 Bộ luật Tố tụng hình sự quyết định tiếp tục xét xử.

[3] Về hành vi phạm tội của các bị cáo:

Tại phiên tòa, các bị cáo Lê Anh H, Phan Văn T đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Quảng Ngãi, tỉnh Quảng Ngãi đã truy tố. Lời khai của các bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của tại giai đoạn điều tra, truy tố và phù hợp với các tài liệu, chứng cứ khác có tại hồ sơ vụ án, nên có cơ sở xác định:

Trưa ngày 07/6/2024, Phan Văn T điều khiển xe mô tô biển số 76G1-560.46 chở Lê Anh H đi đến xã N, thành phố Q gặp đối tượng V (không rõ nhân thân, lai lịch) lấy một nắp nhựa màu vàng có gắn ống nhựa màu hồng và một nỏ thuỷ tinh, bên trong nỏ thuỷ tinh có ma tuý “đá” (Methamphetamine) đưa về nhà H tại Tổ A, phường L, thành phố Q. Tại đây, trưa ngày 07/6/2024, Lê Anh H đã tổ chức để H và Phan Thị D1 sử dụng trái phép chất ma tuý; khoảng 22 giờ cùng ngày, Lê Anh H và Phan Văn T tổ chức để H, T, D1 cùng nhau sử dụng trái phép chất ma tuý thì bị Công an thành phố Q phát hiện bắt quả tang, thu giữ bộ dụng cụ sử dụng ma tuý có chứa dấu vết ma túy loại Methamphetamine.

Tại kết luận giám định số 581/KL-KTHS ngày 15/6/2024 của Phòng K1 Công an tỉnh Q kết luận: Chất rắn màu trắng – xám bám dính trong ống thuỷ tinh gửi giám định là ma tuý; loại Methamphetamine.

Do đó, hành vi của bị cáo Lê Anh H đủ yếu tố cấu thành tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma tuý” theo quy định tại điểm a, b khoản 2 Điều 255 Bộ luật Hình sự; hành vi của bị cáo Phan Văn T đủ yếu tố cấu thành tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma tuý” theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 255 Bộ luật Hình sự như Cáo trạng của Viện kiểm sát đã truy tố là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

[4] Các bị cáo Lê Anh H, Phan Văn T đều là công dân có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, nhận thức được việc tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy là vi phạm pháp luật, song do lối sống buông thả, ăn chơi, và để thỏa mãn nhu cầu bản thân, các bị cáo vẫn thực hiện hành vi phạm tội, sử dụng nhà ông Lê Thành C và bà Võ Thị Mỹ H1 (là bố, mẹ của H) tại Tổ A, phường L, thành phố Q để tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy. Do đó, các bị cáo Lê Anh H, Phan Văn T đều phạm tội với lỗi cố ý. Hành vi phạm tội của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm chế độ độc quyền quản lý các chất ma túy của Nhà nước, gây mất trật tự an toàn xã hội.

[5] Xét vị trí, vai trò của từng bị cáo: Đây là vụ án có tính chất đồng phạm, thuộc trường hợp đồng phạm giản đơn, vai trò của từng bị cáo như sau:

  • Đối với bị cáo Lê Anh H có vai trò là người tạo dụng cụ sử dụng má túy; chuẩn bị địa điểm, chuẩn bị chất ma túy; rủ đối tượng Phạm Thị D và bị cáo T sử dụng ma túy.
  • Đối với bị cáo Phan Văn T, là người tạo dụng cụ sử dụng má túy, chuẩn bị chất ma túy, rủ đối tượng Phạm Thị D và bị cáo H sử dụng ma túy.

[6] Khi quyết định hình phạt, Hội đồng xét xử cần phải đánh giá tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, tiền án, tiền sự, nhân thân của bị cáo.

[6.1] Về nhân thân: Các bị cáo có nhân thân tốt.

[6.2] Tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Không có.

[6.3] Tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Các bị cáo Lê Anh H, Phan Văn T đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

[7] Về xử lý vật chứng vụ án: Căn cứ Điều 47 Bộ luật Hình sự và Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự:

  • Tịch thu, tiêu hủy gồm: 01 (một) nắp nhựa màu vàng được đục 02 lỗ: 01 lỗ gắn 01 ống nhựa màu hồng, lỗ còn lại được gắn 01 ống thủy tinh cùng vỏ bao gói gửi giám định được niêm phong trong cùng một túi niêm phong có mã số PS3 2027686, bên ngoài có chữ ký của người tham gia đóng gói niêm phong; 01 (một) bật lửa màu hồng; 01 (một) bật lửa màu đỏ; 03 (ba) bật lửa màu xanh; 01 (một) hộp nhựa không màu, không có nắp đậy; 01 (một) chai nhựa có dòng chữ “TEA+PLUS”; 01 (một) cái kéo có phần lưỡi kim loại, phần cán bằng nhựa màu xanh; 01 (một) đoạn ống kim loại (9).
  • Trả lại cho chủ sở hữu hợp pháp: 01 điện thoại di động cảm ứng, không rõ màu, trên thân có dòng chữ “SAMSUNG”, điện thoại được niêm phong trong túi niêm phong mã số PS3A 076722, bên ngoài có đóng dấu của Phòng K1 Công an tỉnh Q và chữ ký của ông Nguyễn Phương Đ; 01 điện thoại di động cảm ứng, không rõ màu, trên thân có dòng chữ “OPPO”, điện thoại được niêm phong trong túi niêm phong mã số PS3A 076722, bên ngoài có đóng dấu của Phòng K1 Công an tỉnh Q và chữ ký của ông Nguyễn Phương Đ cho Lê Anh Hữu .

Đối với 01 (một) xe mô tô nhãn hiệu Honda Vision, gắn biển số 59N3-215.19. Kết quả điều tra xác định: T mua xe mô tô này từ một người đàn ông không rõ nhân thân, lai lịch tại Thành phố Hồ Chí Minh vào cuối năm 2023, không có Giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô, xe máy. Tối ngày 07/6/2024, T sử dụng xe mô tô này đi đến nhà H để gặp D, sau đó tổ chức sử dụng trái phép chất ma tuý. Kết quả tra cứu trên hệ thống đăng ký xe thể hiện: chủ sở hữu xe mô tô biển số 59N3-215.19 là ông Nguyễn Văn N1, địa chỉ: D ấp D, T, B, TP Hồ Chí Minh. Ngày 15/10/2024, Cơ quan điều tra uỷ thác cho Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện B xác minh thông tin xe mô tô biển số 59N3-215.19 nhưng đến nay vẫn chưa có kết quả trả lời. Cơ quan điều tra tiếp tục xác minh, đề nghị xử lý sau.

[8] Về các vấn đề khác:

  • Đối với đối tượng tên V là người đưa ma tuý cho H và T: T, H khai nhận không biết nhân thân, lai lịch, nơi ở của đối tượng V nên Cơ quan điều tra không đủ thông tin để xác minh, làm rõ.
  • Đối với Phạm Thị D: D cùng tham gia sử dụng ma tuý Methamphetamine với H và T tại nhà H vào ngày 07/6/2024. Tuy nhiên, D không có các hành vi tổ chức sử dụng trái phép chất ma tuý nên cơ quan điều tra không xem xét truy cứu trách nhiệm hình sự đối với D. Cơ quan điều tra đã ra Quyết định xử phạt hành chính đối với D về hành vi sử dụng trái phép chất ma tuý là có căn cứ.
  • Đối với Đinh Thị L: L không phải là người sử dụng ma tuý; không biết dụng cụ các bị can H, T đang sử dụng là chất ma tuý nên không phạm tội “Không tố giác tội phạm” quy định tại Điều 390 Bộ luật hình sự; L không có các hành vi tổ chức sử dụng trái phép chất ma tuý nên không đồng phạm với các H, T về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma tuý” quy định tại Điều 255 Bộ luật hình sự. Do đó, cơ quan điều tra không xem xét truy cứu trách nhiệm hình sự đối với L là có căn cứ.

[9] Đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Q, tỉnh Quảng Ngãi tại phiên tòa phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên chấp nhận.

[10] Các bị cáo Lê Anh H, Phan Văn T phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Về tội danh và hình phạt:

Tuyên bố: Các bị cáo Lê Anh H, Phan Văn T phạm tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”.

1.1 Căn cứ vào điểm a, b khoản 2 Điều 255; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 17; Điều 58 và Điều 38 Bộ luật Hình sự.

Xử phạt: Bị cáo Lê Anh H 07 (bảy) năm 06 (sáu) tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 08/6/2024.

1.2 Căn cứ vào điểm b khoản 2 Điều 255; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 17; Điều 58 và Điều 38 Bộ luật Hình sự.

Xử phạt: Bị cáo Phan Văn T 07 (bảy) năm tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 05/10/2024.

2. Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 47 Bộ luật Hình sự, Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.

  • Tịch thu tiêu hủy: 01 (một) nắp nhựa màu vàng được đục 02 lỗ: 01 lỗ gắn 01 ống nhựa màu hồng, lỗ còn lại được gắn 01 ống thủy tinh cùng vỏ bao gói gửi giám định được niêm phong trong cùng một túi niêm phong có mã số PS3 2027686, bên ngoài có chữ ký của người tham gia đóng gói niêm phong; 01 (một) bật lửa màu hồng; 01 (một) bật lửa màu đỏ; 03 (ba) bật lửa màu xanh; 01 (một) hộp nhựa không màu, không có nắp đậy; 01 (một) chai nhựa có dòng chữ “TEA+PLUS”; 01 (một) cái kéo có phần lưỡi kim loại, phần cán bằng nhựa màu xanh; 01 (một) đoạn ống kim loại (9).
  • Trả lại cho Lê Anh H: 01 điện thoại di động cảm ứng, không rõ màu, trên thân có dòng chữ “SAMSUNG”, điện thoại được niêm phong trong túi niêm phong mã số PS3A 076722, bên ngoài có đóng dấu của Phòng K1 Công an tỉnh Q và chữ ký của ông Nguyễn Phương Đ; 01 điện thoại di động cảm ứng, không rõ màu, trên thân có dòng chữ “OPPO”, điện thoại được niêm phong trong túi niêm phong mã số PS3A 076722, bên ngoài có đóng dấu của Phòng K1 Công an tỉnh Q và chữ ký của ông Nguyễn Phương Đ.

(Theo Biên bản giao nhận vật chứng ngày 27/11/2024 giữa Công an thành phố Q, tỉnh Quảng Ngãi và Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Quảng Ngãi, tỉnh Quảng Ngãi).

3. Về án phí: Căn cứ Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Các bị cáo Lê Anh H, Phan Văn T, mỗi bị cáo phải nộp 200.000 (hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 của Luật Thi hành án dân sự, thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo qui định tại Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 của Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo qui định tại Điều 30 của Luật Thi hành án dân sự.

4. Về quyền kháng cáo: Các bị cáo, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày, thời hạn kháng cáo tính từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Quảng Ngãi;
  • - VKSND tỉnh Quảng Ngãi;
  • - Sở Tư pháp tỉnh Quảng Ngãi;
  • - VKSND thành phố Q;
  • - Phân trại tạm giam khu vực TP. Q;
  • - Phân trại tạm giam khu vực huyện S;
  • - Cơ quan CSĐT Công an tỉnh Quảng Ngãi;
  • - Cơ quan THAHS Công an tỉnh Quảng Ngãi;
  • - Chi Cục THADS TP. Q;
  • - Các bị cáo;
  • - Những người tham gia tố tụng khác;
  • - Lưu: Hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

(Đã ký)

Trần Mến

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 14/2025/HS-ST ngày 11/03/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ Q, TỈNH QUẢNG NGÃI về tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy (hình sự sơ thẩm)

  • Số bản án: 14/2025/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy (Hình sự sơ thẩm)
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 11/03/2025
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ Q, TỈNH QUẢNG NGÃI
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Trưa ngày 07/6/2024, Phan Văn Th điều khiển xe mô tô biển số 76G1-560.46 chở Lê Anh H đi đến xã Ngh, thành phố Q gặp đối tượng V (không rõ nhân thân, lai lịch) lấy một nắp nhựa màu vàng có gắn ống nhựa màu hồng và một nỏ thuỷ tinh, bên trong nỏ thuỷ tinh có ma tuý “đá” (Methamphetamine) đưa về nhà H tại Tổ 1, phường L, thành phố Q. Tại đây, trưa ngày 07/6/2024, Lê Anh H đã tổ chức để H và Phan Thị D sử dụng trái phép chất ma tuý; khoảng 22 giờ cùng ngày, Lê Anh H và Phan Văn Th tổ chức để H, Th, D cùng nhau sử dụng trái phép chất ma tuý thì bị Công an thành phố Q phát hiện bắt quả tang, thu giữ bộ dụng cụ sử dụng ma tuý có chứa dấu vết ma túy loại Methamphetamine.
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger