Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN TRÀ CÚ

TỈNH TRÀ VINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 14/2025/HNGĐ-ST

Ngày: 11/3/2025

V/v "Ly hôn”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TRÀ CÚ, TỈNH TRÀ VINH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Kiên Thị Minh Hiếu.

Các Hội thẩm nhân dân:

  1. Ông Võ Văn Đầy
  2. Bà Phước Thị Kim Huê.

- Thư ký phiên tòa: Bà Ngô Đào Trang, Thư ký Tòa án Tòa án nhân dân huyện Trà Cú, tỉnh Trà Vinh.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Trà Cú, tỉnh Trà Vinh: Ông Dương Văn Nhẹ, Kiểm sát viên.

Ngày 11 tháng 3 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Trà Cú, tỉnh Trà Vinh mở phiên tòa xét xử công khai sơ thẩm vụ án dân sự thụ lý số: 419/2024/TLST-HNGĐ ngày 23 tháng 12 năm 2024 về việc “Ly hôn”. Theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 19/2025/QĐXXST-HNGĐ ngày 28 tháng 02 năm 2025 giữa:

- Nguyên đơn: Ông Phạm Quốc H, sinh năm 1979 (vắng, có đơn xin vắng mặt)

Địa chỉ: Số E, đường C, phường A, quận A, thành phố Hồ Chí Minh.

- Bị đơn: Chị Cao Thị Mỹ L, sinh năm 1979; (vắng)

Địa chỉ: Ấp N, huyện L, huyện T, tỉnh Trà Vinh.

NỘI DUNG VỤ ÁN

* Theo đơn khởi kiện đề ngày 30/10/2024 cũng như bản tự khai trong quá trình giải quyết vụ án nguyên đơn anh Phạm Quốc H trình bày: Anh và chị Cao Thị Mỹ L do được người thân mai mối nên tự nguyện tiến tới hôn nhân và có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân phường A, Quận A, thành phố Hồ Chí Minh vào ngày 15/01/2003. Thời gian đầu, vợ chồng anh sống hạnh phúc nhưng chỉ được 05 tháng thì vợ chồng anh thường phát sinh mâu thuẫn do tính tình không hợp nhau, vợ chồng luôn bất đồng quan điểm nên anh và chị Cao Thị Mỹ L đã ly thân với nhau từ giữa năm 2003 cho đến nay đã hơn 20 năm. Thời gian ly thân chị Cao Thị Mỹ L về ở nhà mẹ ruột chị L tại ấp N, xã L, huyện T, tỉnh Trà Vinh, còn anh H vẫn tiếp tục sinh sống ở Quận A, thành phố Hồ Chí Minh nên anh và chị Cao Thị Mỹ L không còn liên lạc, quan tâm tới nhau và cũng không còn tình cảm yêu thương để vợ chồng hàn gắn lại.

Nay nhận thấy tình cảm vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân không đạt được nên anh yêu cầu được ly hôn với chị Cao Thị Mỹ L. Về con chung, tài sản chung, nợ chung: anh Phạm Quốc H trình bày không có, không yêu cầu giải quyết.

* Bị đơn chị Cao Thị Mỹ L vắng mặt không lý do và không có văn bản trình bày ý kiến.

Tại phiên tòa hôm nay, nguyên đơn anh Phạm Quốc H vắng mặt nhưng có đơn yêu cầu Tòa án giải quyết vắng mặt, bị đơn chị Cao Thị Mỹ L đã được triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai nhưng vẫn vắng mặt không lý do. Đối với nguyên đơn Phạm Quốc H giữ nguyên yêu cầu khởi kiện yêu cầu ly hôn với chị Cao Thị Mỹ L; về con chung, về tài sản chung, nợ chung: Không có, không yêu cầu giải quyết.

Vị đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Trà Cú, tỉnh Trà Vinh phát biểu quan điểm:

Về tố tụng: Thẩm phán được phân công thụ lý giải quyết vụ án đã thực hiện đúng, đầy đủ quy định của Bộ luật tố tụng dân sự từ khi thụ lý đến khi đưa vụ án ra xét xử. Hội đồng xét xử, thư ký phiên tòa hôm nay đã tuân thủ đúng theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Đối với đương sự trong vụ án: Từ khi thụ lý đến thời điểm này nguyên đơn đã thực hiện đúng theo quy định tại các Điều 70, 71 Bộ luật tố tụng dân sự, bị đơn chưa thực hiện đúng quy định tại Điều 72 Bộ luật tố tụng dân sự.

Về nội dung giải quyết vụ án: Vị đại diện Viện kiểm sát đã phân tích nội dung vụ án, đánh giá chứng cứ do các bên cung cấp, chứng cứ do Tòa án thu thập. Trên cơ sở các lời khai và chứng cứ có trong hồ sơ; Vị đại diện Viện kiểm sát đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 28; Điều 35, Điều 39, Điều 147, Điều 227, Điều 228, Điều 238 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015; Điều 9, Điều 51, 56 Luật Hôn nhân và gia đình. Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, chấp nhận cho anh Phạm Quốc H được ly hôn với chị Cao Thị Mỹ L. Về con chung, tài sản chung, nợ chung: Không có. Về án phí: Do anh Phạm Quốc H là người khuyết tật nên đề nghị miễn toàn bộ án phí dân sự sơ thẩm cho anh Phạm Quốc H theo quy định.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

[1] Về quan hệ pháp luật tranh chấp và thẩm quyền của Tòa án: Nguyên đơn anh Phạm Quốc H khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết cho anh được ly hôn với bị đơn chị Cao Thị Mỹ L nên Hội đồng xét xử xác định quan hệ tranh chấp là “Ly hôn”; bị đơn chị Cao Thị Mỹ L có địa chỉ tại ấp N, xã L, huyện T, tỉnh Trà Vinh nên căn cứ khoản 1 Điều 28, Điều 35, Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự xác định vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Trà Cú, tỉnh Trà Vinh.

[2] Về tố tụng: Sau khi thụ lý, Tòa án đã ra thông báo về việc thụ lý vụ án và tiến hành tổ chức phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải theo quy định tại Điều 196, 208, 209, 210 và Điều 211 của Bộ luật Tố tụng dân sự. Nhưng bị đơn chị Cao Thị Mỹ L đều vắng mặt không lý do, nguyên đơn Phạm Quốc H có đơn yêu cầu Tòa án không hòa giải vụ án nên Tòa án tiến hành mở phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và lập biên bản không hòa giải được theo quy định. Tại phiên tòa, nguyên đơn Phạm Quốc H có đơn xin vắng mặt; bị đơn chị Cao Thị Mỹ L đã được Tòa án triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai nhưng vẫn vắng mặt không lý do. Căn cứ Điều 227, Điều 228, Điều 238 của Bộ luật Tố tụng dân sự Hội đồng xét xử quyết định xét xử vắng mặt các đương sự theo quy định.

[3] Về nội dung vụ án:

- Về hôn nhân: Anh Phạm Quốc H và chị Cao Thị Mỹ L tự nguyện tiến tới hôn nhân, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân phường A, Quận A, thành phố Hồ Chí Minh vào ngày 15/01/2003. Đây là việc kết hôn hợp pháp theo khoản 1 Điều 9 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014. Sau khi kết hôn, anh Phạm Quốc H cho rằng vợ chồng anh sống hạnh phúc được 05 tháng thì vợ chồng anh thường xảy ra mâu thuẫn do tính tình không hợp nhau, vợ chồng luôn bất đồng quan điểm nên dẫn tới vợ chồng anh phải sống ly thân hơn 20 năm nay. Thời gian ly thân, anh H và chị L đã bỏ mặt nhau, không còn quan tâm đến nhau làm cho cuộc sống hôn nhân không hạnh phúc, vợ chồng không còn yêu thương nhau, mục đích hôn nhân không đạt được.

Toà án đã tiến hành xác minh chị Cao Thị Mỹ L1 là người thân của bị đơn chị Cao Thị Mỹ L (Bút lục 36). Chị L1 cho rằng chị L đã nhận được các thông báo của Tòa án và biết được anh H yêu cầu ly hôn với chị L, chị L đồng ý ly hôn với anh H nhưng do chị L đang đi làm thuê nên không về theo giấy triệu tập của Tòa án, về con chung, tài sản chung, nợ chung đều không có.

Xét thấy, trong thời gian ly thân cho đến nay đã hơn 20 năm nhưng anh H và chị L vẫn không thể hàn gắn lại được, vợ chồng đã bỏ mặt nhau, không còn quan tâm nhau nữa. Tòa án đã mời các bên hòa giải nhưng không được. Đối với bị đơn chị Cao Thị Mỹ L đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhiều lần nhưng đều vắng mặt không lý do và không có văn bản thể hiện ý kiến phản bác đối với yêu cầu xin ly hôn của anh Phạm Quốc H nên chị L đã bỏ mặt, không quan tâm đến mối quan hệ hôn nhân giữa chị với anh H, thể hiện việc chị L không có thiện chí hàn gắn tình cảm vợ chồng với anh H.

Từ các nhận định, phân tích trên có đủ căn cứ xác định tình trạng hôn nhân giữa anh Phạm Quốc H và chị Cao Thị Mỹ L đã lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được. Do đó, anh Phạm Quốc H yêu cầu ly hôn với chị Cao Thị Mỹ L là có căn cứ. Nên Hội đồng xét xử chấp nhận cho anh Phạm Quốc H được ly hôn với chị Cao Thị Mỹ L.

Về con chung, về tài sản chung, nợ chung: Anh Phạm Quốc H đều trình bày không có, không yêu cầu Toà án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết.

[4] Về án phí dân sự sơ thẩm: Do anh Phạm Quốc H là người khuyết tật thuộc trường hợp miễn nộp tạm ứng án phí và án phí theo điểm d khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định mức thu, miễn, giảm, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án. Vì vậy, có căn cứ để Hội đồng xét xử miễn toàn bộ án phí dân sự sơ thẩm cho anh Phạm Quốc H.

[5] Xét đề nghị của Vị đại diện Viện kiểm sát là phù hợp, có căn cứ pháp luật nên Hội đồng xét xử chấp nhận đề nghị của Vị đại diện Viện kiểm sát.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Áp dụng khoản 1 Điều 28, Điều 35, Điều 39, Điều 147, Điều 227, Điều 228, Điều 238 Bộ luật Tố tụng dân sự; Áp dụng Khoản 1 Điều 9, Khoản 1 Điều 51, Khoản 1 Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình; Áp dụng điểm d khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định mức thu, miễn, giảm, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn anh Phạm Quốc H:

  • - Về hôn nhân: Cho anh Phạm Quốc H được ly hôn với chị Cao Thị Mỹ L.
  • - Về con chung, tài sản chung, nợ chung: Anh Phạm Quốc H đều trình bày không có, không yêu cầu giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.
  • - Về án phí dân sự sơ thẩm: Do anh Phạm Quốc H là người khuyết tật nên miễn toàn bộ án phí dân sự sơ thẩm cho anh Phạm Quốc H.
  • - Về quyền kháng cáo: Các đương sự không có mặt tại phiên toà, có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Trà Vinh;
  • - VKSND huyện Trà Cú;
  • - THADS huyện Trà Cú;
  • - UBND xã nơi ĐKKH;
  • - Các đương sự;
  • - Lưu hồ sơ.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Kiên Thị Minh Hiếu

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 14/2025/HNGĐ-ST ngày 11/03/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TRÀ CÚ, TỈNH TRÀ VINH về ly hôn

  • Số bản án: 14/2025/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Ly hôn
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 11/03/2025
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TRÀ CÚ, TỈNH TRÀ VINH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện (cho ly hôn)
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger