Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN NAM ĐÀN

TỈNH NGHỆ AN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 14/2025/HS-ST

Ngày: 11- 3- 2025

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NAM ĐÀN, TỈNH NGHỆ AN

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Thế Anh.

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Lê Huệ và ông Nguyễn Xuân Huế.

- Thư ký phiên tòa: Bà Phạm Thị Huyền Trang - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Nam Đàn, tỉnh Nghệ An.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Nam Đàn, tỉnh Nghệ An tham gia phiên tòa: Ông Đặng Trường Sơn – Kiểm sát viên.

Ngày 11 tháng 3 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Nam Đàn, tỉnh Nghệ An xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 21/2025/TLST-HS ngày 26 tháng 02 năm 2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 13/2025/QĐXXST-HS ngày 28 tháng 02 năm 2025 đối với bị cáo:

Nguyễn Hữu H, sinh ngày 08 tháng 8 năm 1977 tại huyện N, tỉnh Nghệ An; Nơi cư trú: Xóm B, xã N, huyện N, tỉnh Nghệ An; nghề nghiệp: Làm ruộng; trình độ học vấn: 03/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Công giáo; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Hữu L và bà Nguyễn Thị H1; vợ: Nguyễn Thị V; con: có 04 con; tiền án, tiền sự: Không; Bị cáo không bị tạm giữ, tạm giam, hiện bị áp dụng biện pháp “Tạm hoãn xuất cảnh”, “Cấm đi khỏi nơi cư trú” từ ngày 08/01/2025; có mặt.

- Bị hại: Ông Trần Văn T, sinh năm 1968; nơi cư trú: Xóm B, xã N, huyện N, tỉnh Nghệ An (vắng mặt).

- Người làm chứng:

  1. Chị Nguyễn Thị L1, sinh năm 1975; nơi cư trú: Xóm B, xã N, huyện N, tỉnh Nghệ An (vắng mặt);
  2. Anh Nguyễn Hữu H2, sinh năm 1975; nơi cư trú: Xóm B, xã N, huyện N, tỉnh Nghệ An (vắng mặt);
  3. Anh Nguyễn Hữu H3, sinh năm 1965; nơi cư trú: Xóm B, xã N, huyện N, tỉnh Nghệ An (vắng mặt);
  4. Chị Nguyễn Thị V, sinh năm 1978; nơi cư trú: Xóm B, xã N, huyện N, tỉnh Nghệ An (vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 20 giờ 30 phút ngày 16/12/2024, chị Nguyễn Thị V (sinh năm 1978, trú tại: xóm B, xã N, huyện N, tỉnh Nghệ An) đi kiểm tra khu vực buộc trâu tại trang trại của gia đình ở xóm B, xã N, huyện N, tỉnh Nghệ An nhưng không thấy trâu nên đã gọi điện để thông báo cho chồng là Nguyễn Hữu H. Đến khoảng 21 giờ cùng ngày, Nguyễn Hữu H về đến trang trại và lấy một con dao có sẵn trên chiếc xe bò lốp để đi tìm trâu. Do trước đó đã uống rượu nên H vừa đi vừa chửi “Cha thằng mô mà bắt trâu tau thì tau giết”. Sau đó, H đi đến trang trại nhà ông Trần Văn T (sinh năm 1968) ở cùng xóm (cách trang trại của Huấn khoảng 200m). Khi đến nơi, H đạp cửa nhà ông T và tiếp tục chửi bới, dọa đánh ông T. Lúc này ông T cầm trên tay một chiếc gậy tre dài 153cm đánh H nhưng không trúng, H dùng con dao mang theo đâm nhiều phát vào người ông T thì chị Nguyễn Thị L1 (sinh năm 1975 - vợ ông T) và anh Nguyễn Hữu H2 (sinh năm 1975 - anh trai H) trú cùng xóm vào can ngăn. Sau đó, H đi về trang trại của mình, ông T được đưa đi cấp cứu tại Bệnh viện Hữu nghị Đa khoa tỉnh N. Hậu quả: ông Trần Văn T bị 01 (một) vết thương đuôi cung lông mày bên trái, kích thước (3x0,1)cm; 01 (một) vết thương ngoài đùi bên trái kích thước (10,5x0,1)cm; 01 (một) vết thương lưng bên trái nằm trên đường nách sau tương ứng khoang liên sườn VI bên trái, kích thước (0,5x0,5)cm; 01 (một) vết thương lưng bên trái cách cột sống lưng 05cm, kích thước (0,5x0,1)cm; 01 (một) vết thương lưng bên phải cách cột sống lưng 7,5cm, kích thước (1x 0,1)cm; 01 (một) vết thương lưng bên phải, cách cột sống lưng 02cm, kích thước (1x0,1)cm; 01 (một) vết mổ dẫn lưu khoang màng phổi bên phải nằm trên đường nách giữa, tương ứng khoang liên sườn V bên phải, kích thước (1x1)cm.

Tại bản Kết luận giám định số 721/KLTTCT-TTPY ngày 30/12/2024 của Trung tâm pháp y tỉnh N kết luận: “- Tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể của Trần Văn T tại thời điểm giám định là 14% (mười bốn phần trăm).

Tại bản Kết luận giám định bổ sung số 44/KLTTCT-TTPY ngày 18/02/2025 của Trung tâm pháp y tỉnh N kết luận: “Tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể của Trần Văn T tại thời điểm giám định là 27% (hai mươi bảy phần trăm)”.

Cáo trạng số 21/CT-VKSNĐ ngày 24 tháng 02 năm 2025 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Nam Đàn, tỉnh Nghệ An truy tố Nguyễn Hữu H về tội “Cố ý gây thương tích” theo quy định tại điểm đ khoản 2 Điều 134 của Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên nội dung cáo trạng, luận tội và đề nghị Hội đồng xét xử: Tuyên bố bị cáo Nguyễn Hữu H phạm tội “Cố ý gây thương tích”; áp dụng điểm đ khoản 2 Điều 134; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 65 Bộ luật Hình sự; xử phạt bị cáo Nguyễn Hữu H 24 tháng đến 27 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 48 tháng đến 54 tháng; miễn hình phạt bổ sung cho bị cáo.

Về vật chứng: Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự, điểm a, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự: Tịch thu tiêu huỷ 01 (một) chiếc áo khoác màu đen; 01 (một) chiếc áo sơ mi sọc xanh cổ trắng; 01 (một) chiếc áo phông màu đen; 01 (một) chiếc quần dài ka ki màu đỏ sẫm; 01 (một) chiếc gậy tre dài 153cm; 01 (một) con dao dài 21,5cm, cán dao bằng nhựa màu đen dài 10,5cm, lưỡi dao bằng kim loại màu sẫm dài 11cm, mũi dao nhọn, phần rộng nhất của lưỡi dao rộng 2,5cm.

Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Tại phiên tòa, bị cáo Nguyễn Hữu H đồng ý với nội dung bản cáo trạng và luận tội của đại diện Viện kiểm sát, bị cáo không có tranh luận gì.

Lời nói sau cùng của bị cáo: Bị cáo đã nhận thấy hành vi của mình là vi phạm pháp luật và rất hối hận. Xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

  1. Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện N, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện N, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, không ai có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
  2. Về sự vắng mặt của người tham gia tố tụng: Tại phiên tòa, bị hại và người làm chứng vắng mặt nhưng đã có đầy đủ lời khai tại hồ sơ, bị hại có đơn xin xét xử vắng mặt. Xét sự vắng mặt của bị hại, người làm chứng không ảnh hưởng đến việc xét xử nên Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vụ án theo quy định tại Điều 292, Điều 293 của Bộ luật Tố tụng Hình sự.
  3. Về tội danh và khung hình phạt: Tại phiên tòa bị cáo Nguyễn Hữu H2 đã khai nhận hành vi của mình như nội dung bản Cáo trạng truy tố. Lời khai của bị cáo phù hợp với các tài liệu khác có tại hồ sơ vụ án, đủ cơ sở kết luận:

Khoảng 20 giờ 30 phút ngày 16/12/2024, Nguyễn Hữu H mang theo 01 (một) con dao đến nhà ông Trần Văn T để tìm con trâu của gia đình bị thất lạc. Do trước đó đã uống rượu nên H xảy ra tranh cãi, ẩu đả với ông T; sau đó H sử dụng con dao mang theo đâm 06 (sáu) phát vào người ông T khiến ông T bị thương tích với tỷ lệ 27% (Hai mươi bảy phần trăm). Hành vi của bị cáo đủ yếu tố cấu thành tội “Cố ý gây thương tích” theo quy định tại điểm đ khoản 2 Điều 134 của Bộ luật Hình sự. Bản cáo trạng số 21/CT-VKSNĐ ngày 24 tháng 02 năm 2025 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Nam Đàn, tỉnh Nghệ An truy tố bị cáo là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

  1. Về hình phạt chính:

Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến sức khoẻ của người khác được pháp luật bảo vệ, ảnh hưởng xấu đến tình hình an ninh, trật tự tại địa phương, gây tâm lý hoang mang, lo lắng trong quần chúng nhân dân nên phải xử lý nghiêm nhằm giáo dục riêng và phòng ngừa chung. Tuy nhiên, tại Cơ quan điều tra cũng như tại phiên tòa, bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải. Sau khi thực hiện hành vi phạm tội bị cáo đã tự nguyện bồi thường thiệt hại, bị hại có đơn xin giảm nhẹ hình phạt. Bị cáo có bác ruột ông Nguyễn Hữu Đ là Liệt sỹ. Đây là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.

Xét bị cáo không có tình tiết tăng nặng nặng trách nhiệm hình sự, có nhiều tình tiết giảm nhẹ, có nhân thân tốt, có nơi cư trú rõ ràng, có khả năng tự cải tạo nên không cần thiết phải cách ly bị cáo khỏi đời sống xã hội mà giao bị cáo cho chính quyền địa phương quản lý, giám sát, giáo dục cũng đủ nghiêm, thể hiện sự khoan hồng của pháp luật.

  1. Về trách nhiệm dân sự: Bị hại đã nhận bồi thường, không có yêu cầu gì khác nên Hội đồng xét xử không xem xét.
  2. Về xử lý vật chứng:
  • 01 (một) chiếc áo khoác màu đen; 01 (một) chiếc áo sơ mi sọc xanh cổ trắng; 01 (một) chiếc áo phông màu đen; 01 (một) chiếc quần dài ka ki màu đỏ sẫm không còn giá trị sử dụng, bị hại không yêu cầu nhận lại nên tịch thu tiêu huỷ.
  • 01 (một) chiếc gậy tre dài 153cm là vật không có giá trị nên tịch thu tiêu huỷ.
  • 01 (một) con dao dài 21,5cm, cán dao bằng nhựa màu đen dài 10,5cm, lưỡi dao bằng kim loại màu sẫm dài 11cm, mũi dao nhọn, phần rộng nhất của lưỡi dao rộng 2,5cm là hung khí sử dụng vào việc phạm tội nên tịch thu tiêu huỷ.
  1. Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
  2. Các đề nghị của kiểm sát viên tại phiên tòa phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Tuyên bố bị cáo Nguyễn Hữu H phạm tội “Cố ý gây thương tích”.

  1. Căn cứ vào điểm đ khoản 2 Điều 134; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 65 của Bộ luật Hình sự; xử phạt bị cáo Nguyễn Hữu H 24 (hai mươi bốn) tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 48 tháng kể từ ngày tuyên án sơ thẩm (11/3/2025).

Giao bị cáo Nguyễn Hữu H cho Ủy ban nhân dân xã N, huyện N, tỉnh Nghệ An giám sát và giáo dục trong thời gian thử thách. Gia đình bị cáo có trách nhiệm phối hợp với Ủy ban nhân dân xã N trong việc giám sát, giáo dục bị cáo. Bị cáo được hưởng án treo phải thực hiện các nghĩa vụ trong thời gian thử thách theo quy định của Luật Thi hành án hình sự, nếu cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật Thi hành án hình sự 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo. Trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại Điều 92 của Luật Thi hành án hình sự.

  1. Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 của Bộ luật Hình sự và Điều 106 của Bộ luật Tố tụng Hình sự: Tịch thu, tiêu huỷ: 01 (một) chiếc áo khoác màu đen; 01 (một) chiếc áo sơ mi sọc xanh cổ trắng; 01 (một) chiếc áo phông màu đen; 01 (một) chiếc quần dài ka ki màu đỏ sẫm; 01 (một) chiếc gậy tre dài 153cm, đầu rộng có kích thước 5cm và một đầu vát nhọn; 01 (một) con dao dài 21,5cm, cán dao bằng nhựa màu đen dài 10,5cm, lưỡi dao bằng kim loại màu sẫm dài 11cm, mũi dao nhọn, phần rộng nhất của lưỡi dao rộng 2,5cm.

(Vật chứng hiện đang được bảo quản tại kho vật chứng của Chi cục Thi hành án dân sự huyên Nam Đàn theo Biên bản giao nhận đồ vật, tài liệu, vật chứng ngày 26/02/2025).

  1. Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng Hình sự, điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án: Buộc bị cáo Nguyễn Hữu H phải chịu 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) tiền án phí hình sự sơ thẩm.
  2. Về quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án sơ thẩm; bị hại vắng mặt tại phiên toà có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.

Nơi nhận:

  • - VKSND tỉnh Nghệ An;
  • - VKSND huyện Nam Đàn;
  • - Sở tư pháp Nghệ An;
  • - Chi cục THADS huyện Nam Đàn;
  • - Bị cáo;
  • - Bị hại;
  • - Lưu hồ sơ vụ án; VP.TA.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Thế Anh

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 14/2025/HS-ST ngày 11/03/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NAM ĐÀN, TỈNH NGHỆ AN về cố ý gây thương tích

  • Số bản án: 14/2025/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Cố ý gây thương tích
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 11/03/2025
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NAM ĐÀN, TỈNH NGHỆ AN
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Cố ý gây thương tích
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger