TOÀ ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ SÔNG CẦU TỈNH PHÚ YÊN Số: 14/2025/HS-ST Ngày: 10/3/2025 | CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc Lập - Tự Do - Hạnh Phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ SÔNG CẦU – TỈNH PHÚ YÊN
Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Lò Nhật Chuyên
Các Hội thẩm nhân dân:
- 1/ Ông Lê Văn Long
- 2/ Ông Nguyễn Ngọc Chẩn
Thư ký ghi biên bản phiên tòa: Ông Lê Văn Minh – Thư ký Tòa án nhân dân thị xã Sông Cầu.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Sông Cầu tham gia phiên tòa: Ông Trương Minh Sang - Kiểm sát viên.
Ngày 10 tháng 3 năm 2025, tại Trụ sở Tòa án nhân dân thị xã Sông Cầu, tỉnh Phú Yên xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số 06/2025/HSST ngày 23 tháng 01 năm 2025, theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 04/2025/QÐST-HS ngày 06 tháng 02 năm 2025, đối với bị cáo:
1/. Trương Thế H, (tên gọi khác: “không”) sinh ngày 09/4/1980; Giới tính: Nam. Nơi sinh: Q, Bình Định; Nơi cư trú: Số A Đường B, phường Q, thành phố Q, tỉnh Bình Định; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Số CCCD: [...] cấp ngày 28/6/2021; Trình độ học vấn: 05/12; Nghề nghiệp: Lái xe tải; Con ông Trương Văn M (chết) và bà Nguyễn Thị Hồng M1, sinh năm 1960; Có vợ tên Trần Thị Bích L, sinh năm 1980; con ruột 02 người lớn nhất sinh năm 2010 và nhỏ nhất sinh năm 2014; Tiền án, tiền sự: Không.
Bị cáo tại ngoại, có mặt.
2/. Nguyễn S, (tên gọi khác: “không”) sinh ngày 01/02/1937; Giới tính: Nam. Nơi sinh: Sông C, Phú Yên. Nơi cư trú: Thôn T, xã X, thị xã S, tỉnh Phú Yên; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Số CCCD: [...] cấp ngày 11/8/2021; Trình độ học vấn: 06/12; Nghề nghiệp: Chạy xe thồ; Con ông Nguyễn K (chết) và bà Nguyễn Thị M2 (chết); Vợ: Nguyễn Thị B, sinh năm 1951; Con: 07 người, lớn nhất sinh năm 1972 và nhỏ nhất sinh năm1993; Tiền án, tiền sự: Không.
Nhân thân: Ngày 16/3/2000, bị Công an huyện S (nay là Công an thị xã S) ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số tiền 1.000.000 đồng về hành vi đánh bạc (chưa nộp phạt, đã hết thời hiệu thi hành).
Bị cáo tại ngoại, có mặt.
- Người bào chữa cho bị cáo Nguyễn S: Ông Ngô Tấn H1 – Trợ giúp viên pháp lý Trung tâm trợ giúp viên Pháp lý Nhà Nước tỉnh P. Có mặt.
* Bị hại:
- - Ông Nguyễn Thành S (Chết).
Đại diện theo pháp luật của bị hại:
- + Bà Nguyễn Thị Đ, sinh năm 1960. (Là vợ bị hại).
- + Ông Nguyễn Thành H2, sinh năm 1979. (Là con ruột bị hại).
- + Ông Nguyễn Thành P, sinh năm 1985. (Là con ruột bị hại).
- + Ông Nguyễn Thành P1, sinh năm 1983. (Là con ruột bị hại).
Cùng địa chỉ: Thôn H, xã X, thị xã S, tỉnh Phú Yên (bà Đ, ông H2, ông P đều uỷ quyền cho ông P1 theo văn bản uỷ quyền ngày 05/02/2024). Đều vắng mặt và có đơn xin xét xử vắng mặt.
* Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan:
- - Ông Lê Quang T, sinh năm 1983. Địa chỉ: Thôn C, xã M, huyện P, tỉnh Bình Định. Vắng mặt và có đơn xin xét xử vắng mặt.
- - Ông Lê Văn T1, sinh năm 1987. Địa chỉ: Tổ E, Khu phố F, phường Q, thành phố Q, tỉnh Bình Định. Vắng mặt và có đơn xin xét xử vắng mặt.
- - Bà Nguyễn Thị Kim H3, sinh năm 1986. Địa chỉ: Thôn T, xã X, thị xã S, tỉnh Phú Yên. Có mặt.
- - Công ty TNHH V – Người đại diện theo pháp luật: bà Hồ Thị Bích H4, chức danh – Giám đốc. Người đại diện theo uỷ quyền: Ông Nguyễn Tấn P2, sinh năm 1979. Địa chỉ: Tổ A, Khu V, phường G, thành phố Q, tỉnh Bình Định. Có mặt.
* Người làm chứng:
- - Nguyễn Thị Kim T2, sinh năm 1977. Địa chỉ: Thôn H, xã X, thị xã S, tỉnh Phú Yên. Vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào sáng ngày 16/01/2024, Trương Thế H (có giấy phép lái xe hạng C theo quy định) điều khiển xe ô tô tải biển kiểm soát 77C-166.51 theo lộ trình từ thành phố Hồ Chí Minh đến tỉnh Bình Định, trên xe còn có Lê Văn T1 và Lê Quang T. Đến khoảng 06 giờ 50 phút cùng ngày, H điều khiển xe ô tô tải 77C-166.51 lưu hành hướng Nam – Bắc trên làn đường xe cơ giới giáp với làn xe thô sơ đến đoạn Km1265+100m Quốc lộ A thuộc thôn H, xã X, thị xã S (đoạn đường gần đến điểm giao nhau với đường liên thôn H, xã X, có đoạn mở dải phân cách, vạch kẻ sơn dành cho người đi bộ qua đường, gờ giảm tốc, biển cảnh báo nguy hiểm giao nhau với đường không ưu tiên, biển báo chỉ dẫn quay đầu xe), lúc này Nguyễn S (có giấy phép lái xe hạng A1 theo quy định) điều khiển xe mô tô biển kiểm soát 78D1-434.38 chở ông Nguyễn Thành S ngồi sau lưu hành theo hướng Nam - Bắc và đang dừng trên làn đường xe thô sơ phía Đông Quốc lộ A, bật đèn tín hiệu rẽ trái để chờ qua đường. Trương Thế H nhìn thấy xe mô tô của Nguyễn S nên H điều khiển xe ô tô tải 77C-166.51 lách qua trái, tiếp tục lưu hành hướng N – Bắc trên làn đường dành cho xe cơ giới giáp dải phân cách cố định thuộc phần đường phía Đông Quốc lộ A, đồng thời bóp còi ra tín hiệu. Khi xe ô tô tải 77C-166.51 đến gần thì Nguyễn S bắt đầu điều khiển xe đi qua đường theo hướng Đ - T đến giữa làn đường cho xe cơ giới giáp dải phân cách cố định thuộc phần đường phía Đông Quốc lộ A thì H đạp phanh, bóp còi ra tín hiệu, đồng thời đánh lái sang bên phải để né tránh nhưng vì khoảng cách gần nên xe ô tô tải 77C-166.51 tông vào phía sau bên phải xe mô tô 78D1-434.38 của Nguyễn S gây ra tai nạn giao thông, làm cho xe mô tô 78D1-434.38 cùng Nguyễn S và ông Nguyễn Thành S té ngã ra đường trên đoạn mở dải phân cách; xe ô tô tải 77C-166.51 cùng với H, T1, T tiếp tục chạy xuống taluy đường P Quốc lộ A. Hậu quả: Ông Nguyễn Thành S chết trong khi cấp cứu tại Bệnh viện đa khoa tỉnh B; N, Lê Văn T1, Lê Quang T bị xây xát nhẹ; xe mô tô 78D1-434.38 và xe ô tô 77C-166.51 bị hư hỏng. (bút lục số: 30 - 41, 99 – 104, 234 – 248, 318 – 322, 369 – 420)
Tại Bản Kết luận giám định tử thi số 11/KLGĐTT- PYPY ngày 01/02/2024 của Trung tâm pháp y tỉnh P kết luận: Nguyên nhân chết của Nguyễn Thành S là do: Chấn thương ngực phổi nặng. (bút lục số 106 – 107)
Tại Bản Kết luận định giá tài sản số 21/KL-HĐĐG ngày 15/5/2024 của Hội đồng định giá tài sản trong Tố tụng hình sự thị xã S kết luận giá trị thiệt hại về tài sản của xe mô tô biển kiểm soát 78D1-434.38 bị hư hỏng thời điểm ngày 16/01/2024 là: 3.770.520 đồng. (bút lục số 172 – 173)
Tại Bản Kết luận định giá tài sản số 56/KL-HĐĐGTS ngày 01/10/2024 của Hội đồng định giá tài sản trong Tố tụng hình sự thị xã S kết luận giá trị thiệt hại về tài sản của xe ô tô tải biển kiểm soát 77C-166.51 bị hư hỏng thời điểm ngày 16/01/2024 là: 71.621.136 đồng. (bút lục số 154 – 155).
Bản Cáo trạng số 06/CT-VKSSC ngày 22/01/2025 của Viện kiểm sát nhân dân thị xã Sông Cầu truy tố các bị cáo Trương Thế H, Nguyễn S về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” theo điểm a khoản 1 Điều 260 Bộ luật hình sự.
Kiểm sát viên giữ quyền công tố tại phiên tòa: Khẳng định bản Cáo trạng số 06/CT-VKSSC ngày 22/01/2025 của Viện kiểm sát nhân dân thị xã Sông Cầu truy tố các bị cáo Trương Thế H, Nguyễn S về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” là có căn cứ, nên giữ nguyên bản Cáo trạng số 06/CT-VKSSC ngày 22/01/2025. Căn cứ tính chất, mức độ, hậu quả của hành vi phạm tội của bị cáo, các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nhân thân bị cáo, đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố các bị cáo Trương Thế H, Nguyễn S phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”.
Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 260; điểm b, s khoản 1 Điều 51, Điều 65 BLHS đối với Trương Thế H, đề nghị xử phạt bị cáo 01 năm đến 01 năm 03 tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách từ 02 năm đến 02 năm 06 tháng, tính từ ngày tuyên án sơ thẩm. Giao bị cáo cho UBND phường Q, thành phố Q, tỉnh Bình Định giám sát, giáo dục bị cáo trong thời gian thử thách. Gia đình bị cáo có trách nhiệm phối hợp cùng chính quyền địa phương trong việc giám sát, giáo dục bị cáo.
Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 260; điểm b, s, o khoản 1 Điều 51, Điều 65 BLHS đối với Nguyễn S, đề nghị xử phạt bị cáo 01 năm đến 01 năm 03 tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách từ 02 năm đến 02 năm 06 tháng, tính từ ngày tuyên án sơ thẩm. Giao bị cáo cho UBND xã X, thị xã S, tỉnh Phú Yên giám sát, giáo dục bị cáo trong thời gian thử thách. Gia đình bị cáo có trách nhiệm phối hợp cùng chính quyền địa phương trong việc giám sát, giáo dục bị cáo.
Về hình phạt bổ sung: Đề nghị HĐXX không áp dụng hình phạt bổ sung đối với các bị cáo.
Vật chứng vụ án:
- - 01 xe ô tô biển kiểm soát 77C-166.51 cùng giấy tờ xe; 01 xe mô tô biển kiểm soát 78D1-438.38 cùng giấy đăng ký xe, quá trình điều tra Cơ quan điều tra đã trả lại chủ sở hữu hợp pháp nên đề nghị HĐXX không xét.
- - 01 giấy phép lái xe hạng C đứng tên Trương Thế H và 01 giấy phép lái xe hạng A1 đứng tên Nguyễn S đề nghị HĐXX trả lại cho bị cáo H, S.
- - 01 đĩa DVD chứa dữ liệu điện tử đề nghị HĐXX lưu cùng hồ sơ vụ án;
* Về trách nhiệm dân sự:
- - Bị cáo Trương Thế H cùng chủ xe 77C-166.51 đã bồi thường số tiền 120.000.000 đồng, bị cáo Nguyễn Sơn bồi T3 số tiền 10.000.000 đồng cho gia đình người bị hại Nguyễn Thành S và được đại diện hợp pháp của người bị hại Nguyễn Thành S bãi nại về dân sự.
- - Bị cáo Trương Thế H đã bồi thường số tiền 5.000.000 đồng cho ông Lê Văn T1, đồng thời hỗ trợ cho ông Nguyễn S số tiền 2.000.000 đồng. Riêng ông Lê Quang T không yêu cầu bồi thường.
- - Đại diện theo uỷ quyền của Công ty TNHH V là ông Nguyễn Tấn P2 đối với xe ô tô tải biển kiểm soát 77C-166.51, công ty và bị cáo Trương Thế H đã tự thoả thuận và không yêu cầu giải quyết.
- - Chủ xe mô tô biển kiểm soát 78D1-434.38 là bà Nguyễn Thị Kim H3 không yêu cầu bồi thường thiệt hại, không có yêu cầu gì khác.
Nên về phần dân sự các bị cáo và người đại diện hợp pháp của bị hại, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan đã tự thỏa thuận bồi thường giải quyết xong vì vậy đề nghị HĐXX không xét.
Tại phiên tòa, các bị cáo Trương Thế H, Nguyễn S khai: Các bị cáo hoàn toàn thừa nhận hành vi phạm tội của các bị cáo đúng như nội dung bản Cáo trạng đã truy tố về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” không oan, sai gì cho các bị cáo.
Tại phiên toà ông Ngô Tấn H1 người bào chữa cho bị cáo trình bày: Thống nhất về tội danh và khung hình phạt như Viện kiểm sát nhân dân thị xã Sông Cầu truy tố, xét về nội dung vụ án đây là vụ án có lỗi hỗn hợp của cả hai bị cáo Nguyễn S và Trương Thế H, bị cáo Nguyễn S được gia đình bị hại bãi nại dân sự và xin giảm nhẹ hình phạt nên đề nghị HXX áp dụng thêm tình tiết giảm nhẹ theo khoản 2 Điều 51 BLHS. Đề nghị HĐXX xem xét điều kiện hoàn cảnh của bị cáo Nguyễn S, các tình tiết giảm nhẹ phạt bị cáo Nguyễn Sơn cải T4 không giam giữ.
Đối với Lê Văn T1, Lê Quang T và Nguyễn S bị thương tích nhẹ trong vụ tai nạn giao thông, không nhập viện điều trị và từ chối giám định thương tích nên không có cơ sở để xem xét, xử lý.
Lời nói sau cùng của bị cáo: Các bị cáo rất ăn năn, hối cải việc các bị cáo đã vi phạm, các bị cáo xin hứa sẽ không tái phạm đồng thời xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:
[1] Trong quá trình điều tra, truy tố, Cơ quan Công an, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân, Kiểm sát viên thị xã S đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo, người đại diện hợp pháp của bị hại và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không có người nào ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
- Về sự vắng mặt của những đại diện hợp pháp của bị hại, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan có đơn xin xét xử vắng mặt, vắng mặt người làm chứng: Quá trình điều tra đã có lời khai của những người đại diện hợp pháp của bị hại, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan, người làm chứng, việc vắng mặt của những người đại diện hợp pháp của bị hại, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan, người làm chứng không gây trở ngại cho việc xét xử, căn cứ quy định tại Điều 292, khoản 1 Điều 293 Bộ luật tố tụng hình sự, Hội đồng xét xử quyết định xét xử vắng mặt đối với người đại diện hợp pháp của bị hại, những người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan, người làm chứng.
[2] Lời khai nhận tội của các bị cáo Trương Thế H, Nguyễn S tại phiên tòa sơ thẩm và tại cơ quan điều tra phù hợp nhau, phù hợp với các tài liệu, chứng cứ khác có tại hồ sơ đã được thẩm tra tại phiên tòa, đủ cơ sở xác định:
Vào khoảng 06 giờ 50 phút ngày 16/01/2024, tại Km1265+100m Quốc lộ A thuộc thôn H, xã X, thị xã S, tỉnh Phú Yên Trương Thế H đã trực tiếp điều khiển xe ô tô tải biển kiểm soát 77C-166.51 lưu hành hướng Nam – B, khi đến đoạn đường có biển cảnh báo nguy hiểm, vạch sơn kẻ đường dành cho người đi bộ qua đường... nhưng không giảm tốc độ nên không kịp xử lý né tránh khi thấy Nguyễn S đang điều khiển xe mô tô biển kiểm soát 78D1-434.38 chở ông Nguyễn Thành S qua đường dẫn đến xe ô tô tải 77C-166.51 tông vào phía sau bên phải xe mô tô 78D1-434.38 gây tai nạn. Hậu quả làm ông Nguyễn Thành S chết trên đường đi cấp cứu, xe mô tô biển kiểm soát 78D1-434.38 bị hư hỏng với giá trị thiệt hại là: 3.770.520 đồng; xe ô tô tải biển kiểm soát 77C-166.51 bị hư hỏng với giá trị thiệt hại là: 71.621.136 đồng. Hành vi của bị cáo Trương Thế H đã vi phạm khoản 1 Điều 5 Thông tư số 31/2019/TT-BGTVT ngày 29/8/2029 của Bộ G. Hành vi của bị cáo Nguyễn S điều khiển xe mô tô biển kiểm soát 78D1-434.38 chở ông Nguyễn Thành S qua đường nhưng không đảm bảo quy tắc an toàn là một phần nguyên nhân trực tiếp dẫn đến tai nạn giao thông nói trên là vi phạm khoản 2 Điều 15 Luật giao thông đường bộ, là một phần nguyên nhân dẫn đến tai nạn, hậu quả làm Nguyễn Thành S chết. Hành vi vi phạm của bị cáo Trương Thế H, Nguyễn S đã đủ yếu tố cấu thành tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” theo điểm a khoản 1 Điều 260 Bộ luật hình sự.
[3] Do đó, quyết định truy tố tại Cáo trạng số 06/CT-VKSSC ngày 22/01/2025 của Viện kiểm sát nhân dân thị xã Sông Cầu và lời luận tội của Kiểm sát viên tại phiên tòa là hoàn toàn có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật. Không oan gì cho các bị cáo.
[4] Xét tính chất, mức độ, hậu quả nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội của các bị cáo. Hội đồng xét xử nhận thấy: Hành vi phạm tội của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến trật tự an toàn giao thông đường bộ, gây thiệt hại đến tính mạng của người khác được pháp luật hình sự bảo vệ.
Đối với bị cáo Trương Thế H là người có đủ năng lực và tuổi chịu trách nhiệm hình sự, có giấy phép lại xe hạng C theo quy định, nhưng bị cáo không chấp hành triệt để Luật giao thông đường bộ, dẫn đến tai nạn làm chết một người và thiệt hại về tài sản là lỗi do bị cáo gây ra, nguyên nhân xảy ra tai nạn có một phần lỗi của bị cáo Nguyễn Sơn . Nên cần xử lý đúng với tính chất, mức độ và hậu quả mà bị cáo đã gây ra. Xét bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, kịp thời bồi thường cho người đại diện hợp pháp của bị hại, được người đại diện hợp pháp của bị hại bãi nại dân sự và xin giảm nhẹ hình phạt. Ngoài lần phạm tội này chưa có lần phạm tội nào khác, bị cáo có nơi cư trú rõ ràng, phạm tội với lỗi vô ý. Đây là các tình tiết cần được xem xét khi đánh giá nguyên nhân, điều kiện và tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo. Do đó không nhất thiết cách ly bị cáo ra khỏi xã hội, vẫn đảm bảo tác dụng giáo dục bị cáo.
Đối với bị cáo Nguyễn Sơn L1 người có đủ năng lực và tuổi chịu trách nhiệm hình sự, là người điều khiên xe mô tô trực tiếp chở bị hại và khi qua đường không đảm bảo quy tắc an toàn giao thông là vi phạm Luật giao thông đường bộ, hành vi vi phạm của bị cáo là một phần nguyên nhân dẫn đến tai nạn giao thông hậu quả làm chết một người, là một phần lỗi của bị cáo, sự việc xảy ra là ngoài ý muốn của bị cáo, nên cần xử lý đúng với tính chất, mức độ, hậu quả mà bị cáo đã gây ra. Xét bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, kịp thời bồi thường đầy đủ cho người đại diện hợp pháp của bị hại và được đại diện hợp pháp của người bị hại bãi nại dân sự và xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo, khi phạm tội bị cáo là người trên 70 tuổi. Bản thân bị cáo có nơi cư trú rõ ràng, ngoài lần phạm tội này chưa có lần phạm tội nào khác, nên không nhất thiết cách ly bị cáo ra khỏi xã hội để bị cáo an tâm cải tạo, tu dưỡng, rèn luyện trở thành công dân tốt, có ích cho xã hội.
Về hình phạt bổ sung: Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với các bị cáo.
[5] Xét lời đề nghị của Kiểm sát viên tại phiên tòa là có căn cứ, đúng pháp luật, nên Hội đồng xét xử chấp nhận.
[6] Về trách nhiệm dân sự: Các bị cáo và người đại diện hợp pháp của bị hại, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan đã tự thỏa thuận bồi thường đã tự thoả thuận giải quyết xong, không có yêu cầu gì khác nên Hội đồng xét xử không xét.
[7] Về vật chứng vụ án:
- - 01 xe ô tô biển kiểm soát 77C-166.51 cùng giấy tờ xe; 01 xe mô tô biển kiểm soát 78D1-438.38 cùng giấy đăng ký xe, quá trình điều tra Cơ quan điều tra đã trả lại chủ sở hữu hợp pháp nên HĐXX không xét.
- - Trả lại cho bị cáo Trương Thế H 01 Giấy phép lái xe hạng C, số: [...] do Sở GTVT tỉnh B cấp ngày 24/02/2023 mang tên Trương Thế H.
- - Trả lại cho bị cáo Nguyễn S 01 Giấy phép lái xe hạng A1, do Sở GTVT tỉnh P cấp ngày 04/6/2012 mang tên Nguyễn S.
- - Lưu hồ sơ vụ án 01 đĩa DVD chứa dữ liệu điện tử cùng hồ sơ vụ án
[8] Xét lời bào chữa của trợ giúp viên pháp lý cho bị cáo Nguyễn S: Về việc đề nghị áp dụng khoản 2 Điều 51 BLHS đối với bị cáo Nguyễn Sơn L1 có căn cứ nên HĐXX chấp nhận. Về việc đề nghị HĐXX xử phạt bị cáo Nguyễn Sơn cải T4 không giam giữ, HĐXX xét thấy căn cứ vào nhân thân, tính chất, mức độ, hậu quả hành vi phạm tội của bị cáo Nguyễn Sơn P3 bị cáo Nguyễn Sơn cải T4 không giam giữ sẽ không đủ tác dụng giáo dục, răn đe bị cáo Nguyễn S và phòng ngừa chung loại tội phạm này cho xã hội nên HĐXX không chấp nhận.
[9] Đối với Lê Văn T1, Lê Quang T và Nguyễn S bị thương tích nhẹ trong vụ tai nạn giao thông, không nhập viện điều trị và từ chối giám định thương tích nên không có cơ sở để xem xét, xử lý. Nên Hội đồng xét xử không xét.
[10] Về án phí: Bị cáo Trương Thế H phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật, bị cáo Nguyễn S là người cao tuổi thuộc trường hợp được miễn án phí.
Vì các lẽ trên:
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ:
- - Điểm a khoản 1 Điều 260; điểm b, s khoản 1, 2 Điều 51, Điều 65 BLHS năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) đối với bị cáo Trương Thế H.
- - Điểm a khoản 1 Điều 260; điểm b, o, s khoản 1, 2 Điều 51, Điều 65 BLHS năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) đối với bị cáo Nguyễn Sơn .
- - Điều 106, Điều 136, Điều 331, Điều 333 Bộ Luật tố tụng hình sự.
- - Điều 12, 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án.
1. Tuyên bố: Các bị cáo Trương Thế H, Nguyễn S phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”.
Xử phạt:
- - Bị cáo Trương Thế H 01 (một) năm 03 (ba) tháng tù cho hưởng án treo thời gian thử thách là 02 (hai) năm 06 (sáu) tháng, tính từ ngày tuyên án sơ thẩm. Giao bị cáo cho UBND phường Q, thành phố Q, tỉnh Bình Định giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách; gia đình bị cáo có trách nhiệm phối hợp cùng chính quyền địa phương trong việc giám sát, giáo dục bị cáo.
- - Bị cáo Nguyễn Sơn 0 (một) năm tù cho hưởng án treo thời gian thử thách là 02 (hai) năm, tính từ ngày tuyên án sơ thẩm. Giao bị cáo cho UBND xã X, thị xã S, tỉnh Phú Yên giám sát giáo dục trong thời gian thử thách; gia đình bị cáo có trách nhiệm phối hợp cùng chính quyền địa phương trong việc giám sát, giáo dục bị cáo.
Trường hợp các bị cáo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định pháp luật về thi hành án hình sự.
“Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì có thể bị Tòa án quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo”.
Về hình phạt bổ sung: Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với các bị cáo.
2.Về trách nhiệm dân sự: Không xét.
3. Về vật chứng vụ án:
- - 01 xe ô tô biển kiểm soát 77C-166.51 cùng giấy tờ xe; 01 xe mô tô biển kiểm soát 78D1-438.38 cùng giấy đăng ký xe, quá trình điều tra Cơ quan điều tra đã trả lại chủ sở hữu hợp pháp nên HĐXX không xét.
- - Trả lại cho bị cáo Trương Thế H 01 Giấy phép lái xe hạng C, số: [...] do Sở GTVT tỉnh B cấp ngày 24/02/2023 mang tên Trương Thế H.
- - Trả lại cho bị cáo Nguyễn S 01 Giấy phép lái xe hạng A1, do Sở GTVT tỉnh P cấp ngày 04/6/2012 mang tên Nguyễn S.
- - Lưu hồ sơ vụ án 01 đĩa DVD chứa dữ liệu điện tử.
4. Về án phí: Buộc bị cáo Trương Thế H phải nộp 200.000₫ (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm, miễn án phí hình sự sơ thẩm đối với bị cáo Nguyễn Sơn.
5. Về quyền kháng cáo: Các bị cáo, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan có mặt tại phiên toà có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm. Riêng những người đại diện hợp pháp của bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên toà được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết hợp lệ.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Lò Nhật Chuyên |
13
Bản án số 14/2025/HS-ST ngày 10/03/2025 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ SÔNG CẦU, TỈNH PHÚ YÊN về vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ
- Số bản án: 14/2025/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 10/03/2025
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ SÔNG CẦU, TỈNH PHÚ YÊN
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Trương Thế H, Nguyễn S
