|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TRI TÔN TỈNH AN GIANG |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 14/2025/HNGĐ-ST
Ngày: 07/3/2025
“V/v Ly hôn, tranh chấp về nuôi con"
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TRI TÔN, TỈNH AN GIANG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Chau Dau.
Các Hội thẩm nhân dân.
1. Ông Hồ Văn Dũng.
2. Bà Trần Thị Ngọc Phượng.
- Thư ký phiên tòa: Bà Đặng Thị Thúy Duy - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Tri Tôn.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tri Tôn tham gia phiên toà:
Chau Pho Ly - Kiểm sát viên.
Ngày 07 tháng 3 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Tri Tôn xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân và gia đình thụ lý số: 02/2025/TLST-HNGĐ ngày 03 tháng 01 năm 2025 về việc “Tranh chấp ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 08/2025/QĐXXST-HNGĐ ngày 05 tháng 02 năm 2025, giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: Bà Phạm Thị D, sinh năm 1969; địa chỉ: Tổ B, ấp P, xã Ô, huyện T, tỉnh An Giang, có đơn xin xét xử vắng mặt.
2. Bị đơn: Ông Huỳnh Công C, sinh năm 1962; địa chỉ: Tổ G, ấp T, xã N, huyện T, tỉnh An Giang, vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện ngày 26/12/2024 và quá trình tố tụng, cũng như tại phiên tòa nguyên đơn bà Phạm Thị D trình bày:
Về quan hệ hôn nhân: Bà Phạm Thị D và ông Huỳnh Công C tự tìm hiểu trước thời gian và tự nguyện đi đến xác lập quan hệ hôn nhân, có đăng ký kết hôn tại UBND xã Ô, huyện T, tỉnh An Giang năm 2004. Sau khi kết hôn, vợ chồng chung sống hạnh phúc thời gian ngắn thì thường xuyên xảy ra mâu thuẩn, cự cãi, bất đồng quan điểm, không tìm được tiếng nói chung. Trong quá trình chung sống vợ chồng cũng đã cố gắng hàn gắn nhưng không thành, không còn hòa hợp và mâu thuẩn ngày càng trầm trọng và từ nguyên nhân trên vợ chồng đã sống ly thân từ năm 2005 cho đến nay, không ai quan tâm đến ai. Từ đó, bà D nhận thấy không còn tình cảm với ông C nữa, cuộc sống hôn nhân không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt nên bà D yêu cầu ly hôn đối với ông Huỳnh Công C;
Về quan hệ con chung: Không có nên không yêu cầu giải quyết.
Về hệ tài sản chung, nợ chung: Không có nên không yêu cầu giải quyết.
Bị đơn ông Huỳnh Công C vắng mặt trong suốt quá trình tố tụng và vắng mặt tại phiên tòa.
* Quan điểm của Kiểm sát viên:
Về tố tụng: Tòa án thụ lý, giải quyết vụ án đúng theo trình tự, thủ tục, xác định đúng quan hệ tranh chấp và thẩm quyền xét xử. Trong quá trình tiến hành tố tụng, Thẩm phán cũng như Hội đồng xét xử, Thư ký đã tuân thủ đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự, đương sự trong vụ án đã thực hiện đúng quyền và nghĩa vụ của mình.
Về nội dung: Về quan hệ hôn nhân đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu ly hôn của bà Phạm Thị D đối với ông Huỳnh Công C; về con chung, tài sản chung và nợ chung: Không yêu cầu giải quyết nên không đặt ra xem xét.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ đã được xem xét tại phiên tòa, kết quả tranh tụng tại phiên tòa và các quy định của pháp luật, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về tố tụng:
[1.1] Về thẩm quyển giải quyết vụ án và quan hệ pháp luật tranh chấp: Nguyên đơn bà Phạm Thị D khởi kiện yêu cầu ly hôn với bị đơn ông Huỳnh Công C, tranh chấp giữa các đương sự về ly hôn; bị đơn có địa chỉ cư trú tại địa bàn huyện T nên thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Tri Tôn theo quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.
[1.2] Về sự vắng của các đương sự: Toà án đã triệu tập hợp lệ lần thứ bị đơn ông Huỳnh Công C vắng mặt không rõ lý do; nguyên đơn có đơn đề nghị xét xử vắng mặt nên Toà án căn cứ vào Điều 227 và Điều 228 vẫn tiến hành xét xử vắng mặt họ theo thủ tục chung.
[2] Về nội dung vụ án:
Bà D và ông C tự nguyện đi đến xác lập quan hệ hôn nhân và có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã Ô, huyện T, tỉnh An Giang theo giấy chứng nhận đăng ký kết hôn số: 63, ngày 25/5/2004 là phù hợp theo quy định tại Điều 9 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014, quan hệ hôn nhân giữa bà D và ông C là hôn nhân hợp pháp nên được pháp luật bảo vệ.
Xét yêu cầu khởi kiện ly hôn của bà D đối với ông C, bà D cho rằng vợ chồng chung sống hạnh phúc thời gian ngắn thì thường xuyên xảy ra mâu thuẫn, cự cãi, bất đồng quan điểm, không tìm được tiếng nói chung. Trong quá trình chung sống vợ chồng cũng đã cố gắng hàn gắn nhưng không thành, không còn hòa hợp và mâu thuẩn ngày càng trầm trọng và từ nguyên nhân trên vợ chồng đã sống ly thân từ năm 2005 cho đến nay, không ai quan tâm đến ai. Bà D kiên quyết ly hôn với ông C. Xét thấy, từ quá trình giải quyết vụ án và cũng như tại phiên toà cho thấy mâu thuẩn giữa bà D và ông C ngày càng trầm trọng, không thể tiếp tục đời sống chung nên đã ly thân từ năm 2005 đến nay, mục đích hôn nhân không đạt, nên bà D yêu cầu ly hôn với ông C.
Hội đồng xét xử xét thấy, sau khi thụ lý đơn yêu cầu ly hôn của bà D, Tòa án đã cấp, tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng cho ông C nhưng ông C không gửi văn bản trình bày ý kiến đối với yêu cầu khởi kiện của bà D và Tòa án đã triệu tập các đương sự để tiến hành hòa giải, mục đích tạo điều kiện cho nhau hòa giải, động viên cho các bên được đoàn tụ. Tuy nhiên, ông C cố tình né tránh và đều vắng mặt tại các phiên hòa giải và phiên tòa không rõ lý do. Từ đó cho thấy ông chính không quan tâm, lo lắng gì đến hôn nhân và gia đình của mình, mặc cho cuộc hôn nhân có kết quả như thế nào.
Tòa án đã tiến hành xác minh tình trạng hôn nhân giữa bà D và ông C. Tại biên bản xác minh do Tòa án lập ngày 14/02/2025, địa phương cho biết về tình trạng hôn nhân giữa bà D và ông C thì địa phương không nắm rõ.
Từ những nguyên nhân, cơ sở trên xét thấy, giữa bà D và ông C không còn tình nghĩa vợ chồng, mâu thuẫn kéo dài, ngày càng trầm trọng và dù ông C, bà D đã nhiều lần nói chuyện để hàn gắn mối quan hệ vợ chồng nhưng không thành. Bà D và ông C đã sống ly thân từ năm 2005 đến nay, trong thời gian ly thân không ai quan tâm đến ai, cũng không có biện pháp để đoàn tụ nên Hội đồng xét xử nhận định hôn nhân giữa bà D và ông C đã lâm vào tình trạng mâu thuẩn trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Do đó, bà D yêu cầu ly hôn với ông C là có căn cứ chấp nhận.
[3] Về quan hệ con chung: Không yêu cầu nên không đặt ra xem xét.
[4] Về tài sản chung, nợ chung: Không yêu cầu nên không đặt ra xem xét.
[5] Về án phí: Bà D phải chịu án phí hôn nhân sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147, Điều 227, Điều 228, Điều 271 và Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015;
Căn cứ vào Điều 9 và Điều 56 của Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014;
Căn cứ điểm a khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
1. Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện ly hôn của bà Phạm Thị D.
Bà Phạm Thị D được ly hôn với ông Huỳnh Công C.
2. Về án phí: Bà Phạm Thị D phải chịu 300.000đ (ba trăm nghìn đồng) án phí hôn nhân sơ thẩm, được trừ vào số tiền tạm ứng án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm 300.000đ (ba trăm nghìn đồng) đã nộp theo biên lai thu số 0012950 ngày 02 tháng 01 năm 2025 của Chi Cục Thi hành án dân sự huyện Tri Tôn, tỉnh An Giang.
3. Về quyền kháng cáo: Các đương sự có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc tống đạt hợp lệ.
4. Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN-CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (Đã ký) Chau Dau |
| THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ | TP – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA |
|
Hồ Văn Dũng Trần Thị Ngọc Phượng |
Chau Dau |
Bản án số 14/2025/HNGĐ-ST ngày 07/03/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TRI TÔN, TỈNH AN GIANG về ly hôn, tranh chấp về nuôi con
- Số bản án: 14/2025/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Ly hôn, tranh chấp về nuôi con
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 07/03/2025
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TRI TÔN, TỈNH AN GIANG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Bà Dĩnh yêu cầu ly hôn với ông Chính
