Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TÂN YÊN

TỈNH BẮC GIANG

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 14/2025/HS-ST

Ngày 07-03-2025

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TÂN YÊN, TỈNH BẮC GIANG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Nguyễn Mai Hương

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Lâm Giang

Ông Trần Anh Dũng

- Thư ký phiên tòa: Bà Vi Thị Lan Phương, Thư ký Toà án nhân dân huyện Tân Yên, tỉnh Bắc Giang.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tân Yên tham gia phiên toà: Bà Nguyễn Thị Huệ - Kiểm sát viên.

Ngày 07 tháng 3 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Tân Yên xét xử sơ thẩm, công khai vụ án hình sự thụ lý số: 14/2025/TLST-HS ngày 10 tháng 02 năm 2025 theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 20/2025/QĐXXST-HS ngày 12 tháng 02 năm 2025, Quyết định hoãn phiên toà số 14/2025/QĐST-HS ngày 26 tháng 02 năm 2025 đối với các bị cáo:

1. Nguyễn Thanh M;

sinh ngày 08 tháng 9 năm 1990 tại huyện T; nơi thường trú: Thôn Đ, xã Q, huyện T, tỉnh Bắc Giang (nay là thôn Đ, xã Q, huyện T, tỉnh Bắc Giang); nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: 11/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn M1 và bà Phạm Thị M2; có vợ Bùi Thị C và 02 con; Tiền án, tiền sự: không có; Nhân thân: 1. Tại Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 88/QĐ-XPHC ngày 30/10/2015 của Công an huyện Y xử phạt 1.500.000đ về hành vi đánh bạc, đã nộp phạt ngày 02/11/2015; 2. Tại Bản án hình sự phúc thẩm số 20/2016/HSPT ngày 28/11/2016 của Toà án nhân dân tỉnh Bắc Giang xử phạt 4 tháng tù nhưng cho hưởng án treo về tội “Đánh bạc” theo quy định tại khoản 1 Điều 248 Bộ luật hình năm năm 1999, chấp hành xong án phí và tiền phạt bổ sung ngày 08/10/2015; 3. Tại Bản án hình sự sơ thẩm số 37/2021/HSST ngày 30/6/2021 của Tòa án nhân dân huyện Tân Yên xử phạt 14 tháng tù nhưng cho hưởng án treo về tội “Tàng trữ hàng cấm”, chấp hành xong thời gian thử thách ngày 30/10/2023, đã chấp hành xong án phí và tiền phạt bổ sung ngày 24/7/2024; Bị cáo đầu thú, bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 27/11/2024, hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh B, có mặt tại phiên toà.

2. Đặng Tiến H;

sinh ngày 22 tháng 04 năm 1987 tại huyện T; nơi thường trú: Thôn T, xã L, huyện T, tỉnh Bắc Giang (nay là thôn T, xã L, huyện T, tỉnh Bắc Giang); nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: 9/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Đặng Văn T và bà Phạm Thị S; có vợ Từ Thị T1 và 02 con; Tiền án, tiền sự, nhân thân: không có; Bị

cáo đầu thú, bị tạm giữ từ ngày 27/11/2024 đến ngày 06/12/2024, được áp dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú, có mặt tại phiên toà.

- Bị hại: Anh Bùi Quang N, sinh năm 1990 và chị Dương Thị Q, sinh năm 1991; cùng địa chỉ: Tổ dân phố Đ, thị trấn C, huyện T, tỉnh Bắc Giang. (vắng mặt)

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

  1. Anh Nguyễn Quang T2, sinh năm 1988; địa chỉ: Thôn B, xã H, huyện Y, tỉnh Bắc Giang. (vắng mặt)
  2. Anh Phạm Văn P, sinh năm 1988; địa chỉ: Thôn D, xã N, huyện L, tỉnh Bắc Giang. (vắng mặt)
  3. Anh Bùi Văn C1, sinh năm 1999; địa chỉ: Số nhà B, tổ dân phố số B, M, M, quận N, thành phố Hà Nội. (vắng mặt)
  4. Chị Bùi Thị C, sinh năm 1995; địa chỉ: Thôn Đ, xã Q, huyện T, tỉnh Bắc Giang. (có mặt)
  5. Anh Nguyễn Đức Q1, sinh năm 1978; địa chỉ: Thôn Đ, xã Q, huyện T, tỉnh Bắc Giang. (có mặt)
  6. Chị Nguyễn Thị D, sinh năm 1983; địa chỉ: Thôn Đ, xã Q, huyện T, tỉnh Bắc Giang. (vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Nguyễn Thanh M thường xuyên đi qua khu vực khu đô thị Đ, Đ, thuộc tổ dân phố T, thị trấn C, huyện T, tỉnh Bắc Giang nên nhìn thấy chiếc thùng container được cải tiến thành văn phòng môi giới bất động sản của anh Bùi Quang N để gần đường. Do khu dân cư này ít nhà dân sinh sống nên M nảy sinh ý định trộm cắp đem bán lấy tiền chi tiêu cá nhân. Khoảng 19 giờ ngày 13/11/2024, Nguyễn Thanh M sử dụng số điện thoại 0971.617.xxx gọi điện thoại cho Đặng Tiến H (M và H quen biết nhau từ trước) bảo “có người đặt mua cái công anh có đi nhấc cùng em không”, H hỏi M “Công của ai”, M nói “Công này không biết của ai để đấy lâu lắm rồi”, H hiểu là M rủ H đi trộm cắp tài sản, M bảo H mang máy bắt vít đi, H đồng ý. Đến khoảng 20 giờ cùng ngày, M điều khiển xe cẩu tự hành biển kiểm soát 98C-240.51 đến chở H, H cầm theo máy bắt vít và lên xe Mừng chở cùng đi đến vị trí để chiếc thùng container. Khi đến nơi, M đứng dưới cảnh giới, M bảo Hữu trèo lên đỉnh thùng container tháo khung sắt, H bám vào các gờ sắt bên sườn container trèo lên đỉnh thùng dùng máy bắt vít tháo khung sắt ở trên đỉnh thùng container vứt xuống đất cạnh đó rồi H trèo xuống và ra chỗ M chở đi về nhà. Trên đường đi M bảo “Bây giờ có người đặt cái công này thì đi nhấc để bán”, H bảo “ừ”, M bảo “để đêm vắng người thì đến nhấc”. Đến khoảng 23 giờ ngày 13/11/2024, M gọi điện cho H bảo “đi móc cáp cho em” H hiểu là M bảo đi trộm cắp container vừa tháo khung sắt nên H bảo “lúc nào đến nơi thì gọi”. Khoảng 15 phút sau, M điều khiển xe cẩu tự hành biển kiểm soát 98C-240.51 sang nhà H đón H đi trộm cắp tài sản, đến nơi thấy không có ai M bảo H lên móc dây cáp vào 4 góc của container, còn M điểu khiển cần cẩu của xe cẩu tự hành nhấc chiếc container lên xe rồi chở về cất giấu tại vườn nhà H, còn khung sắt để tại chỗ thùng container, sau đó M điều khiển xe cẩu tự hành đi về nhà. Đến khoảng 08 giờ sáng 14/11/2024, M sang nhà H cùng H để mở chiếc container ra kiểm tra, H dùng máy cắt cắt khoá cửa

container và vứt khoá đi (H không nhớ vứt khoá ở vị trí nào), M và H vào mở cửa vào bên trong thấy có gắn 01 điều hoà nhãn hiệu Casper 9000BTU, 01 bàn gỗ, mặt bàn bằng gỗ ép màu vàng, chân bàn bằng kim loại, 01 bàn gỗ ép màu nâu, 05 ghế gập khung bằng kim loại, phần ngồi, tựa lưng bằng nhựa màu đỏ, M lấy chiếc điều hoà và 01 chiếc bàn mặt bàn bằng gỗ ép màu vàng mang về nhà, còn 01 bàn gỗ ép màu nâu và 5 chiếc ghế thì để ở nhà H. Sáng cùng ngày, M gọi điện cho anh Nguyễn Quang T2 là người mua đồng nát, đồ cũ, M đặt vấn đề bán chiếc container cho anh T2 thì anh T2 đồng ý mua với giá 31.000.000đồng (đ), thoả thuận M chở đến nhà cho anh T2 nhưng sau đó M sợ chở đi sẽ bị phát hiện nên yêu cầu anh T2 xuống T chở về thì M bớt cho T2 1.000.000đ, anh T2 đồng ý. Đến khoảng 20 giờ cùng ngày, M điều khiển xe cẩu tự hành chở chiếc container từ nhà H ra điểm hẹn với anh T2. Khi gặp anh T2 thì M cẩu thùng container sang xe của anh T2 để anh T2 chở về, sau đó anh T2 chuyển khoản vào tài khoản ngân hàng TMCP Q2 số 9991990999 của Mừng số tiền 30.000.000đ. M nói với H bán được số tiền 30.000.000đ người mua nợ 6.000.000đ. Do trước đó M nợ tiền của anh Bùi Văn C1 nên M chuyển trả nợ anh C1 25.000.000đ. Sau đó M lại vay lại anh C1 24.000.000đ và nhờ anh C1 chuyển tiền cho H số tiền 24.000.000đ và bảo anh C1 ghi nội dung chuyển tiền là “Hoang Van T3 chuyen tien mua content 20f” vào số tài khoản ngân hàng TMCP Q2 số 1987236236236 của H. Sau khi nhận được tiền H chuyển khoản chia cho M 13.000.000₫ Hữu giữ lại 11.000.000đ. Ngày 24/11/2024, anh Nguyễn Quang T2 đã bán thùng container mua của M cho anh Phạm Văn P với giá 33.000.000₫.

Ngày 27/11/2024, sau khi phát hiện bị mất thùng container anh Bùi Quang N trình báo Công an huyện T về việc ngày 13/11/2024 anh bị mất trộm chiếc thùng container loại 20 feet, chiều dài, rộng, cao lần lượt là (06 x 2,5 x 2,5)m để tại khu đất thuộc khu đô thị Đ - Đ được cải tạo để làm văn phòng môi giới bất động sản, bên trong có 01 chiếc điều hoà, 02 chiếc bàn và 5 chiếc ghế, bên ngoài thùng container được khoá bằng 01 khoá chống cắt nhãn hiệu Việt Tiệp.

Cùng ngày 27/11/2024, Nguyễn Thanh Mvà Đặng Tiến Hđến Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện T đầu thú. Quá trình đầu thú Đặng Tiến H giao nộp: 01 chiếc điện thoại Redmi 13 lắp 01 sim viettel có dãy số 8984 04800 09352 17097 và 01 sim viettel có dãy số 8984 04800 09352 17720”. Nguyễn Thanh M giao nộp 01 điện thoại di động nhãn hiệu Readmi 12, màu đen, lắp sim số 0917.617.222 (Bút lục 154, 216)

Ngày 27/11/2024, Cơ quan điều tra tiến hành khám xét nơi ở của Mừng kết quả thu giữ: Thu giữ tại phòng để đồ 01 chiếc bàn kích thước 140x70cm, mặt bàn làm bằng gỗ ép, chân bàn làm bằng kim loại mầu đen, 01 máy điều hoà (cục nóng, cục L) mầu trắng, hiệu casper, công suất 9000BTU/h. Thu giữ tại nhà để xe của M 01 chiếc ô tô cẩu biển kiểm soát 98C-240.51.

Cùng ngày 27/11/2024, Cơ quan điều tra khám xét và thu giữ tại nơi ở của Đặng Tiến H: Thu giữ tại sân nhà H 02 chiếc ghế gấp có đặc điểm tương tự nhau phần khung bằng kim loại sơn màu trắng phần ngồi, tựa lưng bằng nhựa màu đỏ, bốn chân ghế bọc nhựa màu đen. Thu giữ tại gian nhà để đồ trong cùng phía bên tay phải theo hướng từ cổng vào 03 chiếc ghế gấp có đặc điểm tương tự nhau, phần khung bằng kim loại sơn màu trắng phần ngồi tựa lưng bằng nhựa màu đỏ,

bốn chân ghế bọc nhựa màu đen. Thu giữ tại phòng ngủ đầu tiên trong nhà bên tay phải theo hướng từ cửa đi vào 01 chiếc bàn bằng gỗ ép sơn màu kích thước (0,75x1,2x0,6)m. Thu giữ tại nhà để đồ trong cùng phía bên tay phải theo hướng từ cổng vào 01 chiếc máy bắn vít nhãn hiệu HUKAN màu vàng đen. Thu giữ tại cốp trước trong cabin xe ô tô gắn biển kiểm soát 98C-343.07 01 chiếc tôvit bằng kim loại có chiều dài tổng thể 30cm, phần cán bằng nhựa màu đen-cam dài 11,5cm.

Ngày 27/11/2024, anh Phạm Văn P giao nộp cho Cơ quan điều tra Công an huyện T 01 thùng container màu ghi loại 20 feet đã qua sử dụng. Cơ quan điều tra đã tiến hành kiểm tra trọng lượng của thùng container xác định thùng container nặng 1.790 kg. (Bút lục 284, 307)

Ngày 20/01/2025, chị Bùi Thị C (là vợ của M) giao nộp cho Cơ quan điều tra: 04 dây cáp màu vàng, mỗi dây dài 3,95m là 4 dây cáp M dùng để cẩu container trộm cắp. (Bút lục 315)

Cơ quan điều tra đã thu thập sao kê tài khoản ngân hàng TMCP Q2 số 9991990999 của M và sao kê tài khoản ngân hàng TMCP Q2 số 1987236236236 của Hữu xác định: Ngày 14/11/2024, có giao dịch M nhận tổng số tiền 30.000.000đ từ tài khoản ngân hàng của anh T2 và có giao dịch Mừng chuyển khoản số tiền 25.000.000đ cho anh C1. Kết quả sao kê tài khoản ngân hàng của H có giao dịch ngày 15/11/2024, H nhận được số tiền 24.000.000đ từ tài khoản ngân hàng của anh C1 và có giao dịch ngày 15/11/2024 H chuyển cho M tổng số tiền 13.000.000đ. (Bút lục 95-96, 98)

Ngày 27/11/2024, Cơ quan điều tra Công an huyện T có yêu cầu định giá số 2357 đề nghị Hội đồng định giá trong tố tụng hình sự định giá đối với các tài sản mà M và H trộm cắp.

Tại Kết luận định giá tài sản số 42/KL-ĐGTS ngày 02/12/2024 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện T kết luận:

“- 01 thùng xe container bằng kim loại cải tiến thành nhà ở, kích thước dài 6m, rộng 2,5m, cao 2,5m, cũ đã qua sử dụng trọng lượng 1790kg x 10.000đ/kg = 17.900.000₫ (Mười bảy triệu, chín trăm nghìn đồng chẵn).

  • - 01 điều hoà nhãn hiệu Casper 9000BTU (gồm cả cục nóng và cục L), cũ đã qua sử dụng có giá: 3.500.000₫ (Ba triệu, năm trăm nghìn đòng chẵn)
  • - 01 bàn gỗ không nhãn hiệu, mặt bàn bằng gỗ ép màu vàng kích thước dài 140cm, rộng 70cm, bàn cao 60cm, chân bàn bằng kim loại, cũ đã qua sử dụng có giá 200.000₫ (Hai trăm nghìn đồng chẵn).
  • - 01 bàn gỗ ép màu nâu, không nhãn hiệu kích thước dài 120cm, rộng 75cm, cao 60cm, cũ đã qua sử dụng có giá 200.000₫ (Hai trăm nghìn đồng chẵn)
  • - Ghế gập không nhãn hiệu, khung bằng kim loại, cao 40cm, phần ngồi, tựa lưng bằng nhựa màu đỏ có giá: 50.000đ/ chiếc x 5 chiếc = 250.000₫ (Hai trăm năm mươi nghìn đồng chẵn).
  • - 01 khoá chống cắt nhãn hiệu Việt Tiệp, càng rộng 60mm, cao 95mm, cũ đã qua sử dụng có giá: 20.000đ (Hai mươi nghìn đồng chẵn).
  • - K hộp vuông 14 gồm: 02 thanh dài 6m, 4 thành dài 2,5m, 04 thanh dài 01m, cũ đã qua sử dụng có giá 150.000đ (Một trăm năm mươi nghìn đồng chẵn)” (BL 57-58)

Đối với anh Nguyễn Quang T2 khi mua thùng container của M sau đó bán cho anh Phạm Văn P, tuy nhiên khi mua cả anh T2 và anh P đều không biết đây là tài sản do M trộm cắp mà có nên anh T2, anh P không vi phạm pháp luật. Đến nay, anh T2 đã trả lại anh P số tiền bán thùng container là 33.000.000đ. Bị cáo M đã tác động gia đình M cùng bị cáo H trả lại cho anh T2 số tiền 30.000.000đ (gia đình Mừng trả 19.000.000đ, Hữu trả 11.000.000₫), anh T2, anh P không yêu cầu đề nghị gì về việc bồi thường thiệt hại.

Đối với Bùi Văn C1 khi nhận tiền M trả nợ 25.000.000đ và cho M vay 24.000.000đ rồi chuyển số tiền này cho H nhưng anh C1 không biết đây là tiền do M bán container trộm cắp có được và không biết mục đích M bảo chuyển tiền cho H để làm gì nên anh C1 không vi phạm pháp luật. Đến nay anh Chính xác Đ việc cho M vay tiền 24.000.000đ là giao dịch dân sự anh C1 không yêu cầu đề nghị giải quyết trong vụ án này.

Đối với 01 thùng xe container bằng kim loại cải tiến thành nhà ở; 01 điều hoà nhãn hiệu Casper 9000BTU; 02 bàn gỗ; 05 Ghế gập không nhãn hiệu là tài sản của vợ chồng anh Bùi Quang N. Ngày 20/01/2025, Cơ quan điều tra đã xử lý vật chứng bằng hình thức trả lại cho anh N. Đối với khung sắt lắp trên nóc thùng container, bị cáo H và M tháo vứt tại vị trí thùng container, anh N xác định không bị mất, hư hỏng.

Đối với chiếc khoá Việt T4 dùng để khoá cửa thùng container sau khi Hữu cắt khóa đã vứt đi không nhớ vứt ở vị trí nào nên Cơ quan điều tra không thu giữ được. Đến nay anh N không yêu cầu M và H bồi thường về dân sự đồng thời xin giảm nhẹ hình phạt cho M và H.

Đối với chiếc máy cắt khoá bị cáo H sử dụng để cắt khoá cửa thùng container là máy cắt bị cáo mượn của anh Đặng Văn T5 – sinh năm 1991 trú tại thôn T, xã L, huyện T, tỉnh Bắc Giang vào ngày 12/11/2024. Khi mượn anh T5 không biết H sử dụng để làm gì nên anh T5 không vi phạm pháp luật. Sau khi H trả máy cắt anh T5 đã bán cho người qua đường không quen biết nên Cơ quan điều tra không thu giữ được.

Đối với 01 máy bắt vít nhãn hiệu HUKAN màu vàng, đen, 01 tovit bằng kim loại dài 30cm là tài sản của H sử dụng để trộm cắp tài sản.

Đối với 01 ô tô cẩu tự biển kiểm soát 98C-240.51 đăng ký chủ xe Bùi Thị C và 4 dây cáp màu vàng mỗi dây dài 3,95m quá trình điều tra xác định là tài sản chung của vợ chồng M và anh Nguyễn Đức Q1. Năm 2022, vợ chồng M và anh Q1 đã thoả thuận góp vốn chung mua xe cẩu này với tỉ lệ góp vốn vợ chồng M là 25% còn anh Q1 là 75%. Hai bên thoả thuận để chị Bùi Thị C là vợ M đứng tên chủ sở hữu chiếc xe. Ngày 13/11/2024, M sử dụng chiếc xe và dây cáp đi trộm cắp tài sản thì chị C và anh Q1 không biết.

Đối với 01 chiếc điện thoại Redmi 13 lắp 2 sim thu giữ của H và 01 điện thoại di động nhãn hiệu Readmi 12, màu đen, lắp sim số 0917.617.222 thu giữ của M là điện thoại M và H sử dụng liên lạc rủ nhau đi trộm cắp tài sản.

Tại bản Cáo trạng số: 16/CT-VKS ngày 07/02/2025 Viện kiểm sát nhân dân huyện Tân Yên đã truy tố các bị cáo Nguyễn Thanh M, Đặng Tiến H về tội “Trộm cắp tài sản”, theo khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự.

Sau khi kết thúc việc xét hỏi, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tân

Yên đã trình bày luận tội đối với các bị cáo, phân tích tính chất mức độ nguy hiểm của hành vi mà bị cáo đã thực hiện, giữ nguyên quan điểm như Cáo trạng đã truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử:

Căn cứ khoản 1 Điều 173, điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 38, Điều 17, Điều 58 Bộ luật Hình sự.

Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Thanh M từ 12 (mười hai) đến 14 (mười bốn) tù về tội “Trộm cắp tài sản”. Thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ, tạm giam 27/11/2024.

Căn cứ khoản 1 Điều 173, điểm b, i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 17, Điều 58, Điều 65 Bộ luật Hình sự.

Xử phạt: Bị cáo Đặng Tiến H từ 10 (mười) đến 12 (mười hai) tháng tù cho hưởng án treo. Thời gian thử thách từ 20 (hai mươi) đến 24 (hai mươi bốn) tính từ ngày tuyên án sơ thẩm. Giao bị cáo Đặng Tiến H cho Ủy ban nhân dân xã L, huyện T, tỉnh Bắc Giang giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách.

Về vật chứng: Tịch thu nộp ngân sách Nhà nước: 01 chiếc điện thoại Redmi 13; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Redmi 12; 01 chiếc máy bắn vít nhãn hiệu HUKAN màu vàng đen, loại cũ đã qua sử dụng; 01 chiếc tôvit bằng kim loại có chiều dài tổng thể 30cm phần cán bằng nhựa màu đen - cam dài 11,5cm, loại cũ đã qua sử dụng. Tịch thu nộp ngân sách nhà nước 12,5% giá trị xe ô tô cẩu biển kiểm soát 98C-240.51, xe cũ đã qua sử dụng và 04 dây cáp màu vàng, mỗi dây dài 3,95m, dây cũ đã qua sử dụng (phần của bị cáo Nguyễn Thanh M). Trả lại chị Bùi Thị C 12,5% giá trị xe ô tô và dây cáp, trả lại vợ chồng anh Nguyễn Đức Q1, chị Nguyễn Thị D 75% giá trị xe ô tô và dây cáp.

Án phí: Mỗi bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

Các bị cáo thừa nhận cáo trạng của Viện kiểm sát truy tố là đúng người đúng tội, các bị cáo không bị oan và đề nghị Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố, xét xử bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại gì về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đúng quy định của pháp luật.

[2] Về việc người tham gia tố tụng vắng mặt: Tại phiên tòa, bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đã được Tòa án đã triệu tập hợp lệ nhưng vắng mặt. Xét thấy người này đã có lời khai thể hiện quan điểm trong hồ sơ vụ án, căn cứ vào Điều 292 của Bộ luật Tố tụng hình sự Tòa án vẫn tiến hành xét xử vụ án.

[3] Tại phiên toà, các bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình đúng như bản cáo trạng đã truy tố; Lời khai nhận của các bị cáo phù hợp với biên bản bắt người phạm tội đầu thú và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án đã được xem xét, thẩm tra tại phiên tòa. Có đủ cơ sở kết luận:

Khoảng 23 giờ ngày 13/11/2024, tại khu đô thị Đ, Đ thuộc tổ dân phố T, thị trấn C, huyện T, tỉnh Bắc Giang, Nguyễn Thanh M và Đặng Tiến H đã có hành vi trộm cắp 01 thùng xe container bằng kim loại cải tiến thành nhà ở trị giá 17.900.000đ. Bên trong thùng container có: 01 điều hoà nhãn hiệu Casper 9000BTU trị giá 3.500.000đ, 01 bàn gỗ, mặt bàn bằng gỗ ép màu vàng, chân bàn bằng kim loại trị giá 200.000đ, 01 bàn gỗ ép màu nâu trị giá 200.000đ, 05 ghế gập khung bằng kim loại, phần ngồi, tựa lưng bằng nhựa màu đỏ trị giá 250.000đ. Bên ngoài thùng container được khoá bằng 01 khoá chống cắt nhãn hiệu Việt Tiệp trị giá 20.000đ. Tổng giá trị tài sản M và H trộm cắp là 22.070.000đ.

Bị cáo M và bị cáo H đều là người có năng lực trách nhiệm hình sự, đủ tuổi chịu trách nhiệm hình sự; hành vi của các bị cáo thực hiện với lỗi cố ý trực tiếp; đã xâm phạm đến khách thể là quyền sở hữu tài sản được pháp luật hìnhsự bảo vệ.

Do vậy, đã có đủ căn cứ kết luận bị cáo Nguyễn Thanh M và Đặng Tiến H phạm tội “Trộm cắp tài sản”, tội phạm và hình phạt được quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự. Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Tân Yên truy tố bị cáo là có căn cứ, đúng người đúng tội.

[4] Xét về tính chất, mức độ hành vi phạm tội của các bị cáo: Hành vi phạm tội của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã trực tiếp xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của người khác được pháp luật bảo vệ, gây hoang mang trong quần chúng nhân dân, ảnh hưởng xấu đến trật tự trị an tại địa phương. Do vậy, cần phải xử lý nghiêm các bị cáo bằng pháp luật hình sự mới đảm bảo tính giáo dục riêng và phòng ngừa chung đối với loại tội này.

[5] Xét vai trò của từng bị cáo trong vụ án: Các bị cáo cùng thực hiện hành vi phạm tội nhưng không có sự cấu kết chặt chẽ nên vụ án có tính chấp đồng phạm giản đơn. Trong vụ án này bị cáo M là người khởi xướng, chuẩn bị công cụ phương tiện phạm tội là xe cẩu tự hành, trực tiếp thực hiện hành vi phạm tội, đồng thời M cũng là người tiêu thụ tài sản do trộm cắp mà có và tự chia cho mình số tiền nhiều hơn sau khi tiêu thụ tài sản. Bị cáo H là người chuẩn bị công cụ phương tiện phạm tội là máy bắt vít, máy cắt khoá, thực hiện hành vi giúp sức cho bị cáo M và cất giấu tài sản do phạm tội mà có tại nhà mình. Như vậy xác định bị cáo M giữ vai trò chính và phải chịu mức hình phạt cao hơn bị cáo H.

[4] Tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

Tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Không có.

Tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong quá trình điều tra cũng như tại phiên toà hôm nay các bị cáo đều thành khẩn khai báo, tỏ ra ăn năn hối cải, bị cáo M tác động gia đình cùng bị cáo H khắc phục hậu quả trả tiền cho anh T2 số tiền 30.000.000đ, sau khi phạm tội các bị cáo đã đầu thú, bị hại xin giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo, các bị cáo có thời gian tham gia quân ngũ, bị cáo H phạm tội lần đầu thuộc trường hợp ít nghiêm trọng nên bị cáo M được áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự, bị cáo H được áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm b, i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

[5] Hình phạt: Trên cơ sở đánh giá tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội, nhân thân, tình tiết tăng nặng, tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự

của bị cáo, Hội đồng xét xử nhận thấy bị cáo M là người có nhân thân xấu, có vai trò chính nên cần cần áp dụng hình phạt tù có thời hạn đối với bị cáo để đảm bảo được tính giáo dục riêng và phòng ngừa chung. Bị cáo H có nhân thân tốt, có vai trò giúp sức, có nhiều tình tiết giảm nhẹ và có địa chỉ cư trú rõ ràng nên Hội đồng xét xử nhận thấy không cần buộc bị cáo chấp hành hình phạt tù mà cho bị cáo được hưởng án treo với một thời gian thử thách nhất định vẫn đảm bảo tính răn đe, giáo dục, phòng ngừa chung và cũng thể hiện được sự khoan hồng của pháp luật. Hình phạt và mức hình phạt như vị đại diện Viện kiểm sát đề nghị là nghiêm khắc so với tính chất, mức độ hành vi phạm tội của các bị cáo.

Các bị cáo là lao động tự do, không có thu nhập ổn định nên Hội đồng xét xử miễn không áp dụng hình phạt bổ sung bằng tiền.

[6] Về trách nhiệm dân sự: Bị hại và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không có yêu cầu nên không đặt ra xem xét.

[7] Đối với anh Nguyễn Quang T2 là người mua thùng container của M sau đó bán cho anh Phạm Văn P, khi mua cả anh T2 và anh P đều không biết đây là tài sản do M trộm cắp mà có, anh Đặng Văn T5 khi cho bị cáo Hữu mượn máy cắt khoá không biết H sử dụng để làm gì, chị Bùi Thị C, anh Nguyễn Đức Q1, chị Nguyễn Thị D không biết việc bị cáo M dùng chiếc xe thuộc sở hữu của mình làm công cụ phương tiện thực hiện hành vi phạm tội, anh Bùi Văn C1 khi nhận số tiền M trả nợ 25.000.000đ và cho M vay 24.000.000đ rồi chuyển số tiền này cho H nhưng anh C1 không biết đây là tiền do phạm tội mà có và không biết mục đích M bảo chuyển tiền cho H để làm gì nên những người này không vi phạm pháp luật.

[8] Về xử lý vật chứng:

- Đối với 01 thùng xe container bằng kim loại cải tiến thành nhà ở, 01 điều hoà nhãn hiệu Casper 9000BTU, 02 bàn gỗ, 05 Ghế gập là tài sản của bị hại, Cơ quan điều tra đã xử lý vật chứng bằng hình thức trả lại cho bị hại là phù hợp với quy định tại khoản 2 Điều 47 Bộ luật Hình sự và điểm a, b khoản 3 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.

- Đối với 01 máy bắt vít nhãn hiệu HUKAN màu vàng, đen, 01 tovit bằng kim loại dài 30cm là tài sản của H sử dụng để trộm cắp tài sản, 01 chiếc điện thoại Redmi 13 lắp 2 sim thu giữ của H và 01 điện thoại di động nhãn hiệu Readmi 12, màu đen, lắp sim số 0917.617.222 thu giữ của M là điện thoại M và H sử dụng liên lạc rủ nhau đi trộm cắp tài sản nên cần tịch thu nộp ngân sách Nhà nước là phù hợp với điểm a khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự, điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.

- Đối với 01 ô tô cẩu tự hành biển kiểm soát 98C-240.51 đăng ký chủ xe Bùi Thị C và 4 dây cáp màu vàng mỗi dây dài 3,95m là tài sản các bị cáo sử dụng làm công cụ, phương tiện phạm tội, chiếc xe ô tô này là tài sản chung của bị cáo M và vợ chị Bùi Thị C và vợ chồng anh Nguyễn Đức Q1, chị Nguyễn Thị D cùng góp vốn mua để sử dụng chung, trong đó vợ chồng bị cáo góp 25%, vợ chồng anh Q1 chị H1 góp 75% giá trị chiếc xe. Phần góp vốn của vợ chồng bị cáo M là tài sản chung của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân. Khi bị cáo M sử dụng xe ô tô để thực hiện hành vi phạm tội thì chị C và vợ chồng anh Q1, chị D không biết nên không có lỗi. Để đảm bảo quyền lợi của chị C, anh Q1, chị D nên chỉ tịch thu 12,5% giá trị xe ô tô và dây cáp (phần của bị cáo M) để nộp ngân sách Nhà nước. Trả lại cho

chị C 12,5% giá trị xe ô tô và dây cáp, trả lại anh Q1, chị D 75% giá trị xe ô tô và dây cáp là phù hợp với quy định tại điểm a khoản 1, khoản 2 Điều 47 Bộ luật Hình sự, điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.

[9] Về án phí: Các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định tại các điều136 Bộ luật Tố tụng hình sự và điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội.

[10] Về quyền kháng cáo: Bị cáo, bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan được quyền kháng cáo bản án theo quy định tại các điều331, 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Về hình phạt:

Căn cứ khoản 1 Điều 173, điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 17, Điều 58, Điều 38, Bộ luật Hình sự.

Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Thanh M 11 (mười một) tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”, thời hạn tù tính từ ngày 27/11/2024.

Căn cứ khoản 1 Điều 173, điểm b, i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 17, Điều 58, Điều 65 Bộ luật Hình sự.

Xử phạt: Bị cáo Đặng Tiến H 09 (chín) tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”, cho hưởng án treo, thời gian thử thách 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tính từ ngày 07/3/2025. Giao bị cáo Đặng Tiến H cho Ủy ban nhân dân xã L, huyện T, tỉnh Bắc Giang giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách.

Trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo qui định tại Điều 92 Luật thi hành án Hình sự.

Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo qui định của Luật Thi hành án Hình sự hai lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.

2. Về việc xử lý vật chứng:

Căn cứ điểm a khoản 1, khoản 2 Điều 47 Bộ luật Hình sự, điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.

- Tịch thu nộp ngân sách Nhà nước: 01 chiếc điện thoại Redmi 13, imei (khe căm thẻ sim 1): 862109074942380, imei (khe cắm thẻ sim 2): 862109074942398 lắp 01 sim V có dãy số 8984 04800 09352 17079 và 01 sim viettel có dãy số 8984 04800 09352 17720", điện thoại cũ, màn hình có vết nứt; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Redmi 12, màu đen, số imeil: 861043073237842, số imei 2: 861043073237859 lắp sim số 0971.617.222, điện thoại cũ; 01 chiếc máy bắn vít nhãn hiệu HUKAN màu vàng đen, loại cũ đã qua sử dụng; 01 chiếc tôvit bằng kim loại có chiều dài tổng thể 30cm phần cán bằng nhựa màu đen - cam dài 11,5cm, loại cũ đã qua sử dụng;

- Tịch thu nộp ngân sách nhà nước 12,5% giá trị xe ô tô loại xe tải có cần cẩu nhãn hiệu FOTON THACO (AUMAN C1500), biển kiểm soát 98C-240.51, số khung: RNHC2400DGC001927, số máy: PHASER230TIHC519184BA05, màu sơn trắng, xe cũ đã qua sử dụng và 04 dây cáp màu vàng, mỗi dây dài 3,95m, dây cũ đã qua sử dụng. Trả lại chị Bùi Thị C 12,5% giá trị xe ô tô và dây cáp, trả

lại vợ chồng anh Nguyễn Đức Q1, chị Nguyễn Thị D 75% giá trị xe ô tô và dây cáp nêu trên. Giá trị chiếc xe và dây cáp được xác định tại thời điểm thi hành án.

(Vật chứng của vụ án như trong biên bản giao nhận vật chứng giữa Cơ quan Cảnhđiều tra và Chi cục Thían dân sự huyện T.)

3. Về án phí:

Căn cứ Điều 135, Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Buộc bị cáo Nguyễn Thanh M, Đặng Tiến H mỗi bị cáo phải chịu 200.000₫ án phí hình sự sơ thẩm.

4. Về quyền kháng cáo:

Căn cứ Điều 331, Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự.

Các bị cáo, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có mặt tại phiên toà có quyền kháng cáo bản án trong hạn là 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên toà có quyền kháng cáo bản án trong hạn là 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và Điều 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Bắc Giang;
  • - VKSND tỉnh Bắc Giang;
  • - VKSND huyện Tân Yên;
  • - Chi Cục THADS huyện Tân Yên;
  • - CQCSĐT, CQTHAHS Công an tỉnh Bắc Giang;
  • - Trại tạm giam Công an tỉnh Bắc Giang;
  • - UBND xã, phường nơi bị cáo cư trú;
  • - Bị cáo, người tham gia tố tụng;
  • - Lưu: VP, hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ

Nguyễn Mai Hương

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 14/2025/HS-ST ngày 07/03/2025 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TÂN YÊN, TỈNH BẮC GIANG về trộm cắp tài sản

  • Số bản án: 14/2025/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 07/03/2025
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TÂN YÊN, TỈNH BẮC GIANG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Nguyễn Thanh Mừng và đồng phạm phạm tội Trộm cắp tài sản
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger