|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒNG NGỰ TỈNH ĐỒNG THÁP |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 14/2025/HS-ST
Ngày 05-3-2025
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒNG NGỰ, TỈNH ĐỒNG THÁP
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Đặng Mai Trinh.
Các Hội thẩm nhân dân:
- Bà Ngô Thị Diễm Thúy;
- Ông Lê Thành Trung.
- Thư ký phiên tòa: Bà Ngô Thị Kim Lài - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Hồng Ngự, tỉnh Đồng Tháp.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hồng Ngự, tỉnh Đồng Tháp tham gia phiên tòa: Ông Trần Lam Điền - Kiểm sát viên.
Ngày 05 tháng 3 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Hồng Ngự tiến hành xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 04/2025/TLST-HS, ngày 06 tháng 02 năm 2025, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 09/2025/QĐXXST-HS, ngày 20 tháng 02 năm 2025, đối với bị cáo:
Trần Thanh T, sinh 26/11/1999 tại Thành phố Hồ Chí Minh; nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: 94M, đường H, khu phố A, phường H, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh; Nơi ở hiện nay: nhà không số, đường T, khu phố A, phường H, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh; nghề nghiệp: Làm thuê; trình độ học vấn: 10/12; Quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; giới tính: Nam; con ông Trần Thanh S, sinh năm 1978 và bà Trần Thị Thu H, sinh năm 1982; gia đình có 02 anh, em, bị cáo là con thứ nhất trong gia đình; vợ chị Trần Tú A, sinh năm: 2000 (đang sống ly thân); con: Trần Ngọc Bảo H1, sinh năm 2021; tiền sự, tiền án: Chưa có; tạm giữ từ ngày 12/11/2024 đến ngày 21/22/2024, tạm giam: Không. Hiện bị can đang bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú và tạm hoãn xuất cảnh (bị cáo có mặt tại phiên tòa).
- Bị hại: Nguy Thị Thảo E, sinh năm 1998. Nơi cư trú: Khóm E, phường A, thành phố H, tỉnh Đồng Tháp.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Nguyễn Thị H2, sinh năm 1983. Nơi cư trú: 1 Khu phố F, phường T, Quận A, thành phố Hồ Chí Minh
- Người làm chứng: Chung Hữu A1, sinh năm 2001. Nơi cư trú: Ấp S, xã T, huyện L, tỉnh Sóc Trăng. Nơi ở hiện tại: H94M, đường H, khu phố A, phường H, Quận A, thành phố Hồ Chí Minh.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào lúc 11 giờ 30 phút ngày 12/11/2024 Công an phường A nhận được tin báo của chị Nguy Thị Thảo E về việc bị mất trộm tài sản là điện thoại di động loại Iphone 13 Promax tại nhà ở khóm E, phường A, thành phố H, tỉnh Đồng Tháp, phát hiện sau khi bạn trai của Thảo E là Chung Hữu A1 và bạn của A1 là Trần Thanh T rời khỏi nhà. Công an phường A đã tiếp nhận kiểm tra, xác minh, xác định có dấu hiệu tội phạm nên chuyển Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố H giải quyết theo thẩm quyền.
Quá trình điều tra, Trần Thanh T khai nhận: Vào khoảng 03 giờ 20 phút, ngày 12/11/2024 T từ thành phố Hồ Chí Minh đi đến thành phố H để đón Chung Hữu A1 (là bạn làm chung sơn gỗ). Sau khi đến thành phố H, T điện thoại cho A1, A1 chỉ đường T đến nhà của Nguy Thị Thảo E. Khi đến nơi, T vào nhà Thảo E rửa mặt nghỉ ngơi, nằm ngủ nghỉ đến 07 giờ 15 phút cùng ngày thì thức dậy, T đến phòng gõ cửa gọi A1 về thành phố Hồ Chí Minh, A1 kêu T chờ một chút. Trong lúc chờ A1, T nhìn thấy 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Apple, loại Iphone 13 Promax, màu vàng để trên bàn trong nhà của Thảo E, không ai trong coi, T nảy sinh ý định trộm cắp tài sản nên lấy điện thoại bỏ vào cốp xe mô tô biển số 59G1 - 347.27 của mình để cất giấu, sau đó dẫn xe đi ra khỏi nhà của Thảo E đợi A1. Đến khoảng 09 giờ 30 phút cùng ngày, khi T chở A1 đến địa phận huyện T thì A1 nhận cuộc gọi từ Thảo E nói bị mất điện thoại kêu T và A1 quay lại. Khi đi đến trạm xăng M, khóm A, phường A, thành phố H thì T giả vờ dừng xe lại vào đổ xăng, mở cốp xe lấy điện thoại trộm được đi vào nhà vệ sinh cất giấu bên trong, rồi tiếp tục chở A1 đi. Khi về đến nhà của Thảo E, gia đình Thảo E hỏi “bây giờ có lấy điện thoại thì đưa ra không thì để Công an giải quyết”, T nói “không có lấy” nhưng khi được mời về trụ sở Công an phường làm việc, T thừa nhận mình có lấy trộm điện thoại của Thảo E và chỉ dẫn lực lượng Công an đến nhà vệ sinh của trạm xăng M tìm kiếm lấy lại điện thoại.
- Bản kết luận định giá tài sản số 60/KL-HĐĐG ngày 14/11/2024 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự, UBND thành phố H kết luận: Giá trị 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Apple, loại Iphone 13 Promax, có mặt lưng và viền màu vàng, màn hình cảm ứng màu đen, đã qua sử dụng là 13.200.000 đồng (Mười ba triệu hai trăm ngàn đồng).
Quá trình điều tra bị can Trần Thanh T thừa nhận hành vi phạm tội, lời khai của bị can phù hợp với lời khai của bị hại, người làm chứng và các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án.
Vật chứng thu giữ và xử lý:
- 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Apple, loại Iphone 13 Promax, có mặt lưng và viền màu vàng, màn hình cảm ứng màu đen, đã qua sử dụng. Đây là tài sản của bị hại Nguy Thị Thảo E, xét thấy việc trả lại tài sản không làm ảnh hưởng đến quá trình điều tra, truy tố, xét xử nên Cơ quan Cảnh sát điều tra đã quyết định xử lý vật chứng trả lại cho bị hại.
- 01 (một) xe mô tô biển số 59G1-347.27, nhãn hiệu Honda, màu đỏ-đen, xe đã qua sử dụng, không kiểm tra chất lượng bên trong.
Xe mô tô đứng tên chủ sở hữu là Nguyễn Thị H2, qua điều tra xe mô tô được chị H2 bán lại cho người khác, Trần Thanh T mua xe không làm giấy tờ mua bán, T dùng xe mô tô mục đích để di chuyển, không dùng làm phương tiện để trộm cắp tài sản.
- Về trách nhiệm dân sự: Bị hại Nguy Thị Thảo E đã nhận lại tài sản, không yêu cầu bồi thường.
Trong quá trình điều tra, Trần Thanh T đã phạm tội lần đầu thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; Bị hại có đơn không yêu cầu xử lý đối với bị can
Tại bản cáo trạng số: 07/CT-VKSTPHN, ngày 03 tháng 02 năm 2025 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hồng Ngự, tỉnh Đồng Tháp truy tố bị cáo Trần Thanh T về tội “Trộm cắp tài sản” quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự.
Tại phiên toà, Kiểm sát viên đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hồng Ngự thực hành quyền công tố khẳng định hành vi của bị cáo Trần Thanh T đã phạm tội “Trộm cắp tài sản” quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự. Do đó, Viện kiểm sát giữ nguyên quyết định truy tố bị cáo Trần Thanh T về tội “Trộm cắp tài sản”. Đề nghị Hội đồng xét xử: Áp dụng khoản 1 Điều 173, điểm i, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Nguyễn Văn N mức hình phạt từ 06 tháng đến 09 tháng tù.
Về hình phạt bổ sung: Xét thấy bị cáo sống bằng nghề làm thuê, thu nhập không ổn định nên đề nghị Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo theo quy định tại khoản 5 Điều 173 Bộ luật Hình sự.
Về vật chứng vụ án: Trong quá trình điều tra, Cơ quan Cảnh sát điều tra đã ra quyết định xử lý vật chứng, trả lại cho bị hại Nguy Thị Thảo E 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Apple, loại Iphone 13 Promax, có mặt lưng và viền màu vàng, màn hình cảm ứng màu đen, đã qua sử dụng. Xét thấy, việc xử lý vật chứng của Cơ quan điều tra phù hợp với quy định tại Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự nên không đề nghị Hội đồng xét xử xem xét xử lý.
Trả lại cho Trần Thanh T: 01 (một) xe mô tô biển số 59G1-347.27, nhãn hiệu Honda, màu đỏ-đen, xe đã qua sử dụng, không kiểm tra chất lượng bên trong.
Về trách nhiệm dân sự: Bị hại Nguy Thị Thảo E không yêu cầu bồi thường về mặt dân sự đối với bị cáo Trần Thanh T, nên không đề nghị Hội đồng xét xử xem xét xử lý.
Tại phiên tòa, bị cáo Trần Thanh T đã thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình đã thực hiện như cáo trạng truy tố của Viện kiểm sát, lời nhận tội của bị cáo phù hợp với lời khai bị hại và các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Bị cáo thống nhất với nội dung luận tội của Kiểm sát viên và xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan, người tiến hành trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Tại phiên tòa, bị cáo Trần Thanh T đã thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội mà mình đã thực hiện. Bị cáo là người có đủ năng lực trách nhiệm hình sự, nhận thức được hành vi của mình là nguy hiểm cho xã hội, nhưng vì muốn nhanh có tiền tiêu xái cá nhân để thoả mãn nhu cầu của bản thân nên bị cáo đã đi vào con đường phạm tội. Cụ thể là: Vào lúc khoảng 07 giờ 15 phút ngày 12/11/2024 tại nhà bị hại Thảo E, bị cáo T đã nảy sinh hành vi lấy trộm điện thoại di động loại Iphone 13 Promax của bị hại rồi đem cất giấu vào cốp xe. Sau khi biết bị hại phát hiện tài sản bị mất trộm thì bị cáo T tiếp tục cất giấu điện thoại tại nhà vệ sinh của trạm xăng M, phường A, thành phố H. Mục đích lấy trộm điện thoại của bị cáo là đem đi bán có tiền tiêu xài cá nhân, khi bị Cơ quan Công an phát hiện mời làm việc thì T đã thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội đã thực hiện.
Căn cứ Biên bản kết luận định giá tài sản số: 60/KL-HĐĐG, ngày 14 tháng 11 năm 2024 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự hành phố H. Kết luận: Giá trị 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Apple, loại Iphone 13 Promax, có mặt lưng và viền màu vàng, màn hình cảm ứng màu đen, đã qua sử dụng là 13.200.000 đồng (Mười ba triệu hai trăm ngàn đồng).
Căn cứ vào lời thừa nhận của bị cáo; lời khai của bị hại và các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án.
Như vậy đã có đủ căn cứ để kết luận hành vi của bị cáo Trần Thanh T đã phạm tội: “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự như cáo trạng truy tố của Viện kiểm sát.
Điều 173. Tội trộm cắp tài sản:
“1. Người nào trộm cắp tài sản của người khác trị giá từ 2.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng hoặc dưới 2.000.000 đồng nhưng thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm”.
Tội phạm mà bị cáo gây ra đã xâm hại đến quyền sở hữu tài sản của người khác, mặt khác còn làm ảnh hưởng đến tình hình trật tự trị an ở địa phương. Hiện nay tình hình trộm cắp trên cả nước nói chung và trên địa bàn thành phố H nói riêng xảy ra ngày càng nhiều với thủ đoạn hết sức tinh vi. Nhằm để ổn định trật tự trị an ở địa phương, góp phần vào công cuộc phòng, chống và ngăn ngừa tội phạm, Hội đồng xét xử xét thấy phải xử phạt bị cáo mức hình phạt nghiêm khắc để thể hiện tính nghiêm minh của pháp luật.
[3] Về nhân thân của bị cáo: Bị cáo có nhân thân tốt, chưa có tiền sự, tiển án. Đáng ra, với tuổi đời còn trẻ. Bị cáo phải ra sức lao động để tìm cho mình một việc làm hợp pháp để có thu nhập chính đáng từ công sức lao động của mình, nhưng bị cáo không làm được điều đó mà ngược lại do không chí thú làm ăn nhưng lại muốn nhanh có tiền để thoả mãn nhu cầu của bản thân, bị cáo đã thực hiện hành vi trộm cắp tài sản của người khác. Hành vi phạm tội của bị cáo thể hiện sự thiếu ý thức trong tu dưỡng rèn luyện nhân cách, thể hiện bản chất xem thường pháp luật.
[4] Về tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng trách nhiệm hình sự:
Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, trong quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo thành khẩn khai báo hành vi phạm tội đã thực hiện và bị hại có đơn xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo. Đây là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm i, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự, Hội đồng xét xử áp dụng để giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo thể hiện tính nhân đạo của pháp luật xã hội chủ nghĩa.
Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Không có.
[5] Căn cứ vào tính chất, mức độ, hậu quả do hành vi phạm tội của bị cáo gây ra, căn cứ vào các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự áp dụng đối với bị cáo, Hội đồng xét xử xét thấy, phải xử phạt bị cáo mức hình phạt nghiêm khắc, cách ly bị cáo ra khỏi đời sống cộng đồng một thời gian nhất định, để có đủ điều kiện cải tạo, giáo dục cho bị cáo thấy được lỗi lầm của mình, phấn đấu trở thành con người tốt có ích cho gia đình và xã hội. Có như thế mới thể hiện tính nghiêm minh của pháp luật, đồng thời cũng nhằm răn đe, giáo dục và phòng ngừa chung cho những ai có ý định phạm tội như bị cáo.
[6] Đối với Chung Hữu A1 là người gọi bị cáo T đến nhà bị hại Nguy Thị Thảo E, đồng thời đi chung xe mô tô sau khi T trộm điện thoại của bị hại. Qua điều tra, xác định mục đích A1 gọi T đến để chở mình đi thành phố Hồ Chí Minh, A1 không biết T lấy trộm điện thoại của Thảo E, do đó không có căn cứ xem xét xử lý A1 với vai trò đồng phạm về tội Trộm cắp tài sản nên Hội đồng xét xử không xem xét xử lý.
[7] Về vật chứng vụ án: Trong quá trình điều tra, Cơ quan Cảnh sát điều tra đã ra quyết định xử lý vật chứng, trả lại cho bị hại Nguy Thị Thảo E 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Apple, loại Iphone 13 Promax, có mặt lưng và viền màu vàng, màn hình cảm ứng màu đen, đã qua sử dụng. Xét thấy, việc xử lý vật chứng của Cơ quan điều tra phù hợp với quy định tại Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự nên Hội đồng xét xử không xem xét xử lý.
Đối với 01 (một) xe mô tô biển số 59G1-347.27, nhãn hiệu Honda, màu đỏ-đen, xe đã qua sử dụng, không kiểm tra chất lượng bên trong. Xe mô tô đứng tên chủ sở hữu là Nguyễn Thị H2, qua điều tra xe mô tô được chị H2 bán lại cho người khác, Trần Thanh T mua xe không làm giấy tờ mua bán. Xét thấy T dùng xe mô tô mục đích để di chuyển, không dùng làm phương tiện để vào việc phạm tội, nên Hội đồng xét xử căn cứ Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự trả lại cho Trần Thanh T: 01 (một) xe mô tô biển số 59G1-347.27, nhãn hiệu Honda, màu đỏ-đen, xe đã qua sử dụng, không kiểm tra chất lượng bên trong.
[8] Về trách nhiệm dân sự: Bị hại Nguy Thị Thảo E đã nhận lại tài sản và không yêu cầu bồi thường về mặt dân sự đối với bị cáo Trần Thanh T nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.
[9] Về hình phạt bổ sung: Xét thấy bị cáo sống bằng nghề làm thuê, thu nhập không ổn định nên Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung đối với các bị cáo theo quy định tại khoản 5 Điều 173 Bộ luật Hình sự.
Từ các phân tích nêu trên, Hội đồng xét xử nhận thấy nội dung luận tội của Kiểm sát viên là có căn cứ và phù hợp pháp luật.
[10] Về án phí hình sự sơ thẩm: Căn cứ Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 của Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án để buộc bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- Căn cứ khoản 1 Điều 173, điểm i, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.
Tuyên bố bị cáo Trần Thanh T phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
Xử phạt bị cáo Trần Thanh T 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo chấp hành hình phạt tù nhưng được trừ đi các ngày bị tạm giữ từ ngày 12/11/2024 đến ngày 21/11/2024.
- Về vật chứng: Căn cứ Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự:
Trả lại cho Trần Thanh T: 01 (một) xe mô tô biển số 59G1-347.27, nhãn hiệu Honda, màu đỏ-đen, xe đã qua sử dụng, không kiểm tra chất lượng bên trong.
(Vật chứng trên hiện Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Hồng Ngự đang quản lý theo Biên bản giao nhận vật chứng, tài sản ngày 05/02/2025).
- Về án phí hình sự sơ thẩm: Căn cứ Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 của Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Buộc bị cáo Trần Thanh T phải chịu 200.000đồng tiền án phí hình sự sơ thẩm.
- Về quyền kháng cáo: Bị cáo được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án (ngày 05/3/2025). Riêng bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày được tống đạt hợp lệ.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN- CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Đặng Mai Trinh |
Bản án số 14/2025/HS-ST ngày 05/03/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒNG NGỰ, TỈNH ĐỒNG THÁP về trộm cắp tài sản
- Số bản án: 14/2025/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 05/03/2025
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒNG NGỰ, TỈNH ĐỒNG THÁP
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: BẢN ÁN
