Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN CHÂU THÀNH

TỈNH TRÀ VINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 14/2025/HSST

Ngày: 28-02-2025

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHÂU THÀNH, TỈNH TRÀ VINH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Sơn Thị Hồng Nhân

Các Hội thẩm nhân dân: Bà Trần Thanh Duyên

Bà Thi Thị Thanh Trúc

Thư ký phiên tòa: Ông Trần Khánh Duy, Thư ký Tòa án nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh Trà Vinh.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Châu Thành tham gia phiên tòa: Ông Lôi Vĩnh Trí, Kiểm sát viên.

Ngày 28 tháng 02 năm 2025, tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh Trà Vinh xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 29/2025/HSST ngày 21 tháng 01 năm 2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 17/2025/QĐXXST-HS ngày 10 tháng 02 năm 2025 đối với bị cáo:

Võ Văn C, sinh ngày 26 tháng 3 năm 1999; Giới tính: Nam; Nơi sinh: tỉnh Trà Vinh. Nơi cư trú: Ấp Ô, xã L, huyện C, tỉnh Trà Vinh; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: 09/12; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Họ tên cha Võ Văn C1, sinh năm: 1953 (chết); Họ tên mẹ: Phan Thị V, sinh năm: 1980; Bị can đang bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú từ ngày 02/11/2024 đến nay, tại ấp Ô, xã L, huyện C, tỉnh Trà Vinh.

- Bị hại: Ông Huỳnh Văn S, sinh năm 1973 (có đơn xin giải quyết vắng mặt);

Nơi cư trú: Ấp Ô, xã L, huyện C, tỉnh Trà Vinh.

- Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan:

  1. Ông Lâm Thành L, sinh năm 1999 (có đơn xin giải quyết vắng mặt);
  2. Nơi cư trú: Số H N, khóm E, phường H, thành phố T, tỉnh Trà Vinh.

  3. Ông Nguyễn Thanh X, sinh năm 1990 (có đơn xin giải quyết vắng mặt);
  4. Nơi cư trú: Số F, khóm G, phường H, thành phố T, tỉnh Trà Vinh.

  5. Ông Sơn M, sinh năm 1991 (vắng mặt);
  6. Nơi cư trú: Khóm C, phường A, thị xã D, tỉnh Trà Vinh.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào đầu tháng 3 năm 2024, Võ Văn C, bắt đầu chơi game Liên Minh huyền thoại online trên mạng xã hội rồi dần dần C nghiện game. Để chắn vất trong game mạnh hơn thì C cần mua và nạp tiền vào tài khoản bằng thẻ cào điện thoại. Đến sáng ngày 01/4/2024 C không còn tiền chơi game nên C nảy sinh ý định lừa đảo chiếm đoạt tài sản của người quen lấy tiền nạp game tiếp tục chơi. Khoảng 16 giờ ngày 01/4/2024, C một mình đi bộ đến nhà anh Huỳnh Văn S, sinh năm 1973, nơi cư trú ấp Ô, xã L, huyện C, tỉnh Trà Vinh, nói dối với S rằng C mượn xe chở bạn gái Trương Bội N, sinh năm 1994, đi chơi, nhưng ý định C lấy xe đem đi cầm để có tiền nạp game, S tin lời của C là thật nên đồng ý cho C mượn xe mô tô biển số 84B1- 358.96 cùng giấy chứng nhận đăng ký xe, giấy bảo hiểm xe. Sau khi có được xe, C điều khiển xe về nhà nghỉ. Đến khoảng 19 giờ cùng ngày, C điều khiển xe đến nhà N chơi di động, tiếp đó C tiếp tục sử dụng xe của S làm phương tiện đi lại. Đến ngày 03/4/2024, C đem xe của S đến cửa hàng mua bán, trao đổi xe cũ, cầm đồ biển hiệu M thuộc phường H, thành phố T, tỉnh Trà Vinh do Lâm Thành L, sinh năm 1999, làm chủ để cầm xe mô tô trên thời hạn 01 tháng được số tiền 10.000.000 đồng, có được tiền C tiêu tiền xài cá nhân và nạp tiền chơi game hết. Sau khi hết thời hạn cầm cố L đã bán xe mô tô biển số 84B1- 358.96 cho Nguyễn Thanh X với giá 27.500.000 đồng, rồi X bán lại cho anh Sơn M với giá 32.000.000 đồng. Đến ngày 26/6/2024, anh S Công an xã L, huyện C, tỉnh Trà Vinh, tố giác C chiếm đoạt xe của anh S.

Tại cáo trạng số: 07/CT-VKS.HS ngày 21 tháng 01 năm 2025 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh Trà Vinh truy tố bị cáo Võ Văn C về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 174 Bộ luật Hình sự năm 2015, được sửa đổi bổ sung năm 2017.

Tại phiên tòa sơ thẩm:

Trong quá trình xét hỏi tại phiên tòa, bị cáo khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như tại cơ quan điều tra và bản cáo trạng đã truy tố.

Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh Trà Vinh vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố bị cáo về tội danh, điều luật áp dụng như nội dung bản Cáo trạng và phần tóm, đánh giá các tài liệu, chứng cứ, tình tiết, tính chất của vụ án, nhân thân của bị cáo, vị đề nghị áp dụng hình phạt tù giam, cho bị cáo Võ Văn C được áp dụng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm b, i, s khoản 1, 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Vị đề nghị Hội đồng xét xử: tuyên bố bị cáo Võ Văn C phạm tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”, Áp dụng khoản 1 Điều 174 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi bổ sung năm 2017, xử phạt bị cáo Thạch Nhân T 01 năm đến 01 năm 06 tháng tù.

Lời nói sau cùng của bị cáo trước khi Hội đồng xét xử vào nghị án: Bị cáo không trình bày lời nói sau cùng.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan điều tra Công an huyện C, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Châu Thành, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo, bị hại không có ai có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Về thủ tục tố tụng: Quá trình giải quyết vụ án, các đương sự đã được cấp, tống đạt, thông báo hợp lệ các văn bản tố tụng của Tòa án: Bị hại Huỳnh Văn S, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan Lâm Thành L, Nguyễn Thanh X và Sơn M vắng mặt tại phiên tòa nhưng tại cơ quan điều tra đã có lời khai đầy đủ liên quan đến vụ án và không có yêu cầu gì trong vụ án nên Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt những người có tên nêu trên.

[3] Về hành vi phạm tội của bị cáo: Tại phiên tòa bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi mà bị cáo đã thực hiện, lời khai nhận tội của bị cáo phù hợp với các chứng cứ, tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa, qua đó đã chứng minh được: Vào khoảng 16 giờ ngày 01/4/2024, tại ấp Ô, xã L, huyện C, tỉnh Trà Vinh, Võ Văn C nảy sinh ý định chiếm đoạt xe mô tô biển số 84B1- 358.96 để cầm rồi bỏ luôn, lấy tiền nạp vào tài khoản chơi game online nên nói dối Huỳnh Văn S mượn xe mô tô biển số 84B1-358.96 (trị giá 37.750.000 đồng) chở bạn gái đi chơi, S đồng ý. Sau khi nhận được xe, C đem cầm cho Lâm Thành L với số tiền 10.000.000 đồng, C đã tiêu xài cá nhân và chơi game hết số tiền trên. Như vậy, với hành vi hỏi mượn xe của Huỳnh Thanh S1 đem đi cầm cố lấy tiền chơi game như đã nêu trên của bị cáo thì bị cáo đã dùng thủ đoạn gian dối để chiếm đoạt tài sản của người khác. Đối chiếu với quy định của pháp luật thì bị cáo đã phạm vào tội: Lừa đảo chiếm đoạt tài sản, tội phạm và hình phạt được quy định tại khoản 1 Điều 174 của Bộ luật Hình sự năm năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017, vì vậy Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân huyện Châu Thành truy tố bị cáo điều khoản luật áp dụng như nêu trong Bản Cáo trạng là có căn cứ đúng pháp luật.

[4] Xét tính chất, mức độ của vụ án: Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm đã xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của người khác được pháp luật bảo vệ, làm mất trật tự trị an tại địa phương, bất bình trong nhân dân. Do đó, phải xử nghiêm bị cáo bằng pháp luật hình sự nhằm giáo dục riêng và phòng ngừa chung đối với tội phạm này. Do vậy, cần áp dụng hình phạt tù giam, cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian mới đủ giáo dục bị cáo trở thành công dân biết tuân thủ pháp luật.

[5] Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo: Bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cãi; phạm tội lần đầu và ít nghiêm trọng. Người bị hại có đơn xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo; tài sản đã được bị cáo chuộc lại cho người bị hại. Ngoài ra, bị cáo có ông ngoại tên Phan Văn M1 được nhà nước trao phong tặng Huy chương kháng chiến hạng nhì. Đây là những tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm b, s, i khoản 1, 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự mà Hội đồng xét xử áp dụng khi quyết định hình phạt. Bị cáo không có tình tiết tăng nặng.

[6] Về trách nhiệm dân sự: Ông Huỳnh Thanh S1 đã nhận lại tài sản không có yêu cầu bồi thường nên không đặt ra xem xét giải quyết.

[7] Đối với anh Lâm Thành L có cầm chiếc xe mô tô hai bánh biển số 84B1-358.96 của Võ Văn C chiếm đoạt của Huỳnh Văn S. Quá trình điều tra, anh L hoàn toàn không biết rõ nguồn gốc tài sản này là do C phạm tội mà có nên không đặt ra vấn đề xử lý.

Đối với anh Nguyễn Thanh X có mua chiếc xe mô tô hai bánh biển số 84B1-358.9 của Lâm Thành L bán lại, anh X hoàn toàn không biết đây là tài sản do người khác phạm tội mà có nên không đặt ra vấn đề xử lý.

Đối với anh Sơn M có mua chiếc xe mô tô hai bánh biển số 84B1-358.9 của Nguyễn Thanh X bán lại, anh Sơn M hoàn toàn không biết đây là tài sản do người khác phạm tội mà có nên không đặt ra vấn đề xử lý.

[8] Về quan điểm và đề nghị của vị kiểm sát viên có căn cứ nên Hội đồng xét xử chấp nhận.

[9] Về án phí sơ thẩm: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định.

[10] Về quyền kháng cáo: Bị cáo, bị hại và người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo bản án sơ thẩm theo quy định.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào điểm b,i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; khoản 1 Điều 174, Điều 38 Bộ luật Hình sự năm 2015, được sửa đổi bổ sung năm 2017.

  1. Tuyên bố bị cáo Võ Văn C phạm tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”.
  2. Xử phạt bị cáo Võ Văn C 01 (một) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày bắt bị cáo chấp hành hình phạt.
  3. Về trách nhiệm dân sự: Ông Huỳnh Thanh S1 đã nhận lại tài sản, không có yêu cầu bồi thường thêm nên không đặt ra xem xét giải quyết.
  4. Về án phí sơ thẩm: Áp dụng Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015; điểm a, khoản 1, Điều 23; Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí. Buộc bị cáo Võ Văn C phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
  5. Về quyền kháng cáo đối với bản án: Bị cáo có mặt được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị hại và người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết hợp lệ.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Trà Vinh;
  • - Sở tư pháp tỉnh Trà Vinh;
  • - VKSND huyện Châu Thành;
  • - CC THADS huyện Châu Thành;
  • - Công an huyện Châu Thành;
  • - Các đương sự;
  • - Lưu VP, HS (...)

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TOẠ PHIÊN TÒA

Sơn Thị Hồng Nhân

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 14/2025/HSST ngày 28/02/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHÂU THÀNH, TỈNH TRÀ VINH về lừa đảo chiếm đoạt tài sản

  • Số bản án: 14/2025/HSST
  • Quan hệ pháp luật: Lừa đảo chiếm đoạt tài sản
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 28/02/2025
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHÂU THÀNH, TỈNH TRÀ VINH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Xử phạt bị cáo Võ Văn C 01 (một) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày bắt bị cáo chấp hành hình phạt.
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger