TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TRỰC NINH TỈNH NAM ĐỊNH Bản án số: 14/2025/HS-ST Ngày: 27-02-2025 | CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TRỰC NINH, TỈNH NAM ĐỊNH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Vũ Hoàng Giang
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Đình Thanh
Bà Đoàn Thị Dịu
- Thư ký phiên toà: Bà Trần Thanh Hiếu - Thư ký viên Toà án nhân dân huyện Trực Ninh, tỉnh Nam Định.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Trực Ninh, tỉnh Nam Định tham gia phiên tòa: Bà Phạm Thị Duyên - Kiểm sát viên
Ngày 27 tháng 02 năm 2025, tại trụ sở, Tòa án nhân dân huyện Trực Ninh, tỉnh Nam Định xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 01/2025/TLST-HS ngày 15 tháng 01 năm 2025, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 01/2025/QĐXXST-HS ngày 14 tháng 02 năm 2025 đối với bị cáo:
Họ và tên: Nguyễn Thị N, sinh năm 1960
Nơi thường trú: Thôn V, xã T, huyện T, tỉnh Nam Định; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Giới tính: Nữ; Trình độ học vấn: 3/10; Nghề nghiệp trước khi phạm tội: Kinh doanh nhà nghỉ; Con ông: Nguyễn Văn N1 (Đã chết); Con bà: Vũ Thị C (Đã chết); Gia đình có 05 anh em, bị cáolà con thứ tư; Chồng: Tăng Văn H, sinh năm 1958; Có 03 con: Con lớn nhất sinh năm 1980, con nhỏ nhất sinh năm 1988; Tiền án, tiền sự: Không.
Bị cáo bị bắt tạm giam từ ngày 21/10/2024 đến ngày 13/01/2025 được thay thế biện pháp tạm giam bằng biện pháp Bảo lĩnh (có mặt).
* Người có quyền và nghĩa vụ liên quan:
- Ông Tăng Văn H, sinh năm 1958; nơi thường trú: Thôn V, xã T, huyện T, tỉnh Nam Định. (Có mặt)
- Chị Vũ Thị D, sinh năm 1986: nơi thường trú: Xóm B, xã H, huyện H, tỉnh Nam Định. (Vắng mặt)
* Người làm chứng: Anh Nguyễn Văn T, anh Nguyễn Văn B, anh Lê Văn H1 (vắng mặt), bà Vũ Thị C1 (có mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Năm 2013, Nguyễn Thị N cùng chồng là ông Tăng Văn H mở nhà nghỉ kinh doanh cho thuê lưu trú (nhà nghỉ A, địa điểm ở tổ dân phố H, thị trấn C, huyện T, tỉnh Nam Định, giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh hộ kinh doanh số 07F002301 đăng ký lần đầu ngày 19/12/2013 mang tên ông Tăng Văn H). N thường xuyên ở nhà nghỉ, trực tiếp làm quản lý và có thuê bà Vũ Thị C1 làm nhân viên dọn dẹp, phục vụ tại nhà nghỉ. Hàng ngày N và bà C1 thay nhau ở quầy lễ tân để nhận khách đến thuê phòng.
Khoảng 06 giờ 30 phút ngày 24/02/2024, N đi vắng nên giao cho bà C1 ở nhà nghỉ T2, nhận khách đến thuê phòng. Khoảng 07 giờ cùng ngày, Nguyễn Văn T, Nguyễn Văn B và Lê Văn H1 đến nhà nghỉ gặp bà C1 hỏi thuê phòng nghỉ. Bà C1 bảo nhóm T lên phòng 501 nghỉ. Tuy nhiên, T, H1, Ba lên tầng 5 lại đi vào phòng 504 nghỉ.
Khoảng 8 giờ 30 phút cùng ngày, Vũ Thị D cùng một người đàn ông (không xác định được là ai) đến nhà nghỉ Anh T1 để thuê phòng, D mặc áo khoác, đeo khẩu trang kín. Đúng lúc này N cũng đi chợ về. Người đàn ông gặp N hỏi thuê phòng nghỉ, N đồng ý bảo lên phòng 301. Người đàn ông và D đi lên phòng 301. Theo D khai: D và người đàn ông này lên phòng mua bán dâm với nhau và người đàn ông trả cho D 300.000 đồng. (N không biết việc D quan hệ tình dục với người đàn ông này).
Sau khi mua bán dâm xong, người đàn ông đi về còn D xuống quầy lễ tân ở tầng 2 gặp N để trả tiền thuê phòng, D đưa cho N 50.000 đồng. D ngồi tại ghế giáp quầy lễ tân ăn ổi nói chuyện với N. Khoảng 10 giờ 13 phút cùng ngày, T đi xuống quầy lễ tân gặp N hỏi lấy thuốc lá, bánh và nước ngọt. Biết T ở cùng phòng với Ba nên N đi vào lấy hộp bánh, nước ngọt, thuốc lá để trên bàn nước. T thấy D thì cũng ngồi xuống ghế cạnh D ăn ổi, nói chuyện làm quen. Quá trình nói chuyện T biết D là gái mại dâm nên nói “Em có đi với anh không, anh bao phòng”, ý hỏi mua dâm, quan hệ tình dục với D. N không nghe cụ thể cuộc nói chuyện giữa T và D nhưng hiểu ý T và D trao đổi mua bán dâm nên N nói với T “Chúng mày làm gì có tiền, tiền phòng của tao còn chưa có đâu đấy, lên đấy đánh nhau gây mất trật tự tao báo công an”. D nói với T: “Ba trăm anh ạ, anh có tiền không mà rủ em đi chơi" thì bà N nói luôn: “Kệ mẹ chúng mày, việc chúng mày thỏa thuận tao không biết, tao chỉ lấy tiền phòng”. T đồng ý bảo D lên phòng 504 và nói với bà N “Tí cháu về vay tiền trả cô” rồi đi lên phòng. N và D tiếp tục ngồi ăn ổi, nói chuyện. T lên phòng 504 gặp H1 nói ở dưới có gái bán dâm, H1 bảo Toàn xuống gọi D lên phòng để quan hệ tình dục. T liền đi xuống tầng 2, thấy D và N vẫn ngồi ở ghế uống nước. T nói với D “Đi lên em ơi", D đồng ý đứng dậy, nói với N “Bà cho con cái bao". N biết là D đồng ý bán dâm cho T, hỏi xin bao cao su để quan hệ tình dục; N đồng ý cho D quan hệ tình dục bán dâm cho T tại nhà nghỉ của mình, N đi vào quầy lễ tân lấy 02 chiếc bao cao su đưa cho D. D cầm bao cao su bỏ vào túi quần, đi theo T lên phòng. T và D đi lên phòng 504 gặp Ba và H1. H1 hỏi tên nhưng do không muốn người khác biết tên thật của mình nên D nói dối tên là H2 ở huyện H. H1 hỏi giá mua dâm thì D nói 300.000 đồng/1 lần nên bảo D lấy rẻ tý, đồng thời T lấy trong ví ra 505.000 đồng đưa cho D để cả T, H1, Ba mua dâm với D, D đồng ý. Sau đó lần lượt H1, T, B tự ý vào phòng 502 trống của nhà nghỉ, quan hệ tình dục với D. N không biết việc D mua bán dâm với Ba, H1. Khi quan hệ tình dục có Hiếu, Ba sử dụng bao cao su sau đó vất bao cao su vào bồn vệ sinh rồi xả nước. Sau khi quan hệ tình dục xong thì D ra về, bà N không biết D về lúc nào và T, H1, B tiếp tục nằm ngủ tại phòng 504. Đến khoảng 14 giờ cùng ngày, T ngủ dậy một mình đi ra ngoài ban công phía sau tòa nhà, T mặc quần áo phụ nữ mục đích giả gái đi trêu ghẹo người khác. Sau đó, T thấy bà C1 đang đứng ở ban công phía trước của nhà nghỉ, T đã trêu ghẹo bà C1. T dùng tay phải quàng cổ bà C1, tay trái cầm tay của bà C1. Bà C1 thấy vậy hô cứu và vùng ra, dùng chân dẫm lên chân T. T bị đau bỏ bà C1 ra, bà C1 chạy xuống tầng dưới. T thấy vậy chạy vào phòng 501, chốt khóa trốn trong phòng.
Cùng lúc này, N nghe thấy tiếng kêu cứu, N cùng 01 người khách vừa đến thuê phòng nhà nghỉ (chưa xác định là ai) chạy lên tầng 5, gõ cửa phòng 501 gọi T ra. Bất ngờ T mở cửa phòng 501 đẩy N ngã ra hành lang rồi dùng tay đấm vào đầu mặt N. Người khách đi cùng thấy vậy thì bỏ chạy. N vùng dậy bỏ chạy xuống tầng 1 hô hoán mọi người và C1 đi ra ngoài đóng cửa nhà nghỉ lại, không cho T bỏ chạy và gọi điện báo Công an thị trấn C đến giải quyết.
*Vật chứng thu giữ:
- Tạm giữ của Nguyễn Thị N: 01 đầu ghi camera, nhãn hiệu Dahua Technology, S: 3A001F5PAEXMEHE, đã qua sử dụng.
- Tạm giữ của Vũ Thị D số tiền 755.000 đồng (Bảy trăm lăm mươi năm nghìn đồng) là tiền ngày 24/02/2024 D bán dâm mà có.
Nguyễn Thị N cung cấp tài liệu bệnh án: Ngày 20/8/2007, N vào điều trị tại bệnh viện tâm thần tỉnh H ngày 14/9/2007 ra viện được chẩn đoán rối loạn cảm xúc lưỡng cực F31.
* Bản kết luận giám định pháp y tâm thần theo trưng cầu số 239/KLGĐ ngày 09/9/2024 của V1 kết luận:
- Tại thời điểm thực hiện hành vi chứa mại dâm ngày 24/02/2024 và tại thời điểm giám định đối tượng Nguyễn Thị N bị bệnh rối loạn hỗn hợp lo âu và trầm cảm. Theo phân loại quốc tế lần thứ 10 năm 1992, bệnh có mã F41.2.
- Tại thời điểm thực hiện hành vi chứa mại dâm ngày 24/02/2024, bệnh ở giai đoạn ổn định. Đối tượng đủ khả năng nhận thức và điều khiển hành vi.
- Tại thời điểm giám định bệnh ở giai đoạn thuyên giảm. Đối tượng đủ khả năng nhận thức và điều khiển hành vi.
*Xử lý vật chứng:
- Đối với 01 đầu ghi camera, cơ quan CSĐT đã trích xuất video hình ảnh khu vực nhà để xe, quầy lễ tân thời điểm ngày 24/02/2024, in ra bản giấy và trích xuất lưu ra 01 đĩa DVD chuyển theo cùng hồ sơ vụ án.
- Đối với số tiền 755.000 đồng là tiền D bán dâm mà có ngày 24/02/2024 tại nhà nghỉ của N, chuyển Chi cục thi thi hành án dân sự huyện T chờ xử lý.
Về trách nhiệm dân sự: Nguyễn Thị N không yêu cầu Nguyễn Văn T phải bồi thường.
Tại phiên tòa, bị cáo đã khai nhận hành vi phạm tội nêu trên.
Cáo trạng số 01/CT-VKS-TN ngày15/01/2025, Viện kiểm sát nhân dân huyện Trực Ninh, tỉnh Nam Định đã truy tố bị cáo Nguyễn Thị N về tội “Chứa mại dâm” theo khoản 1 Điều 327 Bộ luật hình sự.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Trực Ninh, tỉnh Nam Định luận tội: Giữ nguyên nội dung cáo trạng và quyết định truy tố. Sau khi xem xét vị trí, vai trò, đánh giá tính chất mức độ hành vi phạm tội, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ, Viện kiểm sát nhân dân huyện Trực Ninh, tỉnh Nam Định đề nghị HĐXX: Tuyên bố bị cáo Nguyễn Thị N phạm tội “Chứa mại dâm”.
- Căn cứ khoản 1 Điều 327, các điểm s khoản 1 Điều 51; khoản 2 Điều 51, Điều 65 BLHS:
Xử phạt bị cáo Nguyễn Thị N từ 12 (mười hai) tháng đến 15 (mười lăm) tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách từ 24 (hai mươi tư) tháng đến 30 (ba mươi) tháng.
Căn cứ khoản 5 Điều 327 Bộ luật hình sự, Phạt bị cáo Nguyễn Thị N 10.000.000 (mười triệu) đến 20.000.000 (hai mươi triệu) đồng.
- Về xử lý vật chứng và áp dụng các biện pháp tư pháp khác: Căn cứ Điều 46, Điều 47 BLHS và Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự: Đề nghị HĐXX xử lý theo quy định của pháp luật.
- Về án phí: Căn cứ Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội, quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Buộc bị cáo phải nộp án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Bị cáo nói lời sau cùng, xin Hội đồng xét xử xem xét cho bị cáo được hưởng mức án thấp nhất theo quy định của pháp luật và miễn hình phạt tiền.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an huyện T, tỉnh Nam Định, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Trực Ninh, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của BLTTHS. Quá trình điều tra và tại phiên toà, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, xác định các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện trong vụ án đều hợp pháp.
[2] Về việc vắng mặt của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là Vũ Thị D tại phiên tòa: Hồ sơ vụ án đã có đủ lời khai cần thiết cho việc giải quyết xét xử nên căn cứ khoản 1 Điều 292 Bộ luật Tố tụng hình sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan.
[3] Về tội danh: Hành vi phạm tội của bị cáo đã được chứng minh bằng lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra và tại phiên tòa; lời khai của người làm chứng, người liên quan; biên bản thu giữ vật chứng và các tài liệu chứng cứ khác đã được thu giữ trong quá trình điều tra, thấy có đủ cơ sở kết luận: Ngày 24/02/2024, Nguyễn Thị N là quản lý nhà nghỉ Anh T1 tại TDP H, thị trấn C, huyện T, tỉnh Nam Định. N biết Vũ Thị D và Nguyễn Văn T có thoả thuận mua bán dâm, N đã có hành vi cung cấp bao cao su và cho sử dụng phòng đã thuê tại nhà nghỉ của mình để T và D thực hiện hành vi mua bán dâm đã có đủ yếu tố cấu thành tội “Chứa mại dâm” quy định tại Điều 327 BLHS.
Hành vi phạm tội của bị cáo xâm phạm đến trật tự công cộng, tác động xấu đến môi trường văn hóa, thuần phong mỹ tục, ảnh hưởng xấu đến trật tự an toàn xã hội gây bức xúc trong nhân dân. Tệ nạn mại dâm đã và đang gây nhiều hệ lụy cho xã hội, có nguy cơ lây lan các bệnh xã hội qua đường tình dục và các tệ nạn xã hội khác. VKSND huyện Trực Ninh truy tố bị cáo Nguyễn Thị N về hành vi “Chứa mại dâm” theo quy định tại khoản 1 Điều 327 BLHS tại bản cáo trạng số 01/CT-VKS-TN ngày 15 tháng 01 năm 2025 là có căn cứ, đúng pháp luật. Vì vậy, để đảm bảo trật tự pháp luật, phòng ngừa chung tình hình tội phạm, việc áp dụng biện pháp trách nhiệm hình sự đối với bị cáo là điều cần thiết.
[4] Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nào tại Điều 52 Bộ luật hình sự.
[5] Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong giai đoạn điều tra, truy tố cũng như tại phiên tòa bị cáo đã ăn năn hối cải, thành khẩn khai nhận hành vi phạm tội; bị cáo bị bệnh rối loạn hỗn hợp lo âu và trầm cảm, theo phân loại quốc tế lần thứ 10 năm 1992, bệnh có mã F41.2. Vì vậy, HĐXX áp dụng điểm s khoản 1 Điều 51, khoản 2 Điều 51 BLHS để giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo.
[6] Về hình phạt:
[6.1] Về hình phạt chính:
Xét tính chất mức độ hành vi, nhân thân của bị cáo thì bị cáo không có tiền án, tiền sự và có nơi cư trú ổn định rõ ràng, có nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự. Hội đồng xét xử đối chiếu với các quy định của BLHS và Nghị quyết số 01/2022/NQ-HĐTP ngày 15/4/2022 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao, thấy không cần cách ly bị cáo ra khỏi xã hội, mà sẽ cân nhắc tính chất mức độ hành vi nên áp dụng khoản 1, 2 Điều 65 BLHS năm 2015 phạt tù nhưng cho hưởng án treo đối với bị cáo. Như vậy mới tương xứng với tính chất mức độ hành vi phạm tội của bị cáo, đáp ứng được công cuộc đấu tranh phòng chống tội phạm mà Đảng và Nhà nước đã đề ra, đồng thời cũng thể hiện tính chất khoan hồng của pháp luật Việt Nam đối với người phạm tội đã biết ăn năn hối cải về hành vi sai phạm của mình.
[6.2] Hình phạt bổ sung: HĐXX xét thấy bị cáo kinh doanh nhà nghỉ, thu lời bất chính từ việc chứa mại dâm nên cần áp dụng mức phạt tiền bổ sung như đề nghị của đại diện Viện kiểm sát là hoàn toàn có căn cứ.
[7] Các vấn đề khác liên quan đến vụ án:
- Đối với ông Tăng Văn H là chủ cơ sở kinh doanh nhà nghỉ Anh T1 cho thuê lưu trú. Ông H giao toàn bộ việc quản lý, kinh doanh nhà nghỉ cho N, không biết N cho D mua bán dâm với T, B, H1 tại nhà nghỉ nên cơ quan điều tra không đề cập xử lý hình sự.
- Đối với bà Vũ Thị C1 được N thuê làm nhân viên dọn dẹp, phục vụ tại nhà nghỉ. Hàng ngày N và bà C1 thay nhau ở quầy lễ tân để nhận khách đến thuê phòng. Ngày 24/02/2024, bà C1 không biết N cho D mua bán dâm với T, H1, Ba tại nhà nghỉ nên không phạm tội.
- Đối với hành vi ngày 24/02/2024, Nguyễn Văn T, Nguyễn Văn B, Lê Văn H1 mua bán dâm với Vũ Thị D. Công an huyện T ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính đối với T, Ba, H1 về hành vi “mua dâm”; đối với D về hành vi “bán dâm" theo quy định tại khoản 1 Điều 24, khoản 1 Điều 25 Nghị Định 144/2021/NĐ-CP ngày 31/12/2021 của Chính Phủ.
- Đối với hành vi Nguyễn Văn T dùng tay quàng cổ, ôm, giữ bà Vũ Thị C1 mục đích để trêu ghẹo, không nhằm mục đích ép buộc bà C1 quan hệ tình dục. Hành vi này của T không cấu thành tội phạm. Sau khi trêu bà C1, T trốn vào phòng 501 khóa chốt cửa, khi N lên phòng 501 gọi cửa, T chạy ra, dùng tay đẩy, đấm làm N ngã đau phần mềm. Công an huyện T ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính đối với T về hành vi “trêu ghẹo người khác”, “Gây thương tích nhưng không bị truy cứu trách nhiệm hình sự” theo quy định tại Điểm a Khoản 3, Điểm a Khoản 5 Điều 7 Nghị Định 144/2021/NĐ-CP ngày 31/12/2021 của Chính Phủ.
- Khoảng 8 giờ 30 phút ngày 24/02/2024, người đàn ông không xác định là ai và D thuê phòng 301 tại nhà nghỉ A, thị trấn C. Sau đó D và người đàn ông này mua bán dâm tại nhà nghỉ. Lúc này N không nhận ra D và không biết người đàn ông và D thuê phòng nghỉ để mua bán dâm nên không xem xét xử lý N về hành vi này.
- Đối với người đàn ông (chưa xác định là ai) mua bán dâm với Vũ Thị D ngày 24/02/2024 tại nhà nghỉ Anh T1. Theo D khai người đàn ông này tên V, khoảng 50 tuổi ở thị trấn C, huyện T làm nghề khoan giếng ở H. Cơ quan điều tra đã tiến hành xác minh, truy tìm nhưng không xác định được là ai.
HĐXX xét thấy, Cơ quan điều tra đã xử lý các hành vi nêu trên là đúng quy định pháp luật nên HĐXX không xem xét.
[8] Xử lý vật chứng:
- Đối với 01 đầu ghi camera, nhãn hiệu Dahua Technology, S: 3A001F5PAEXMEHE, đã qua sử dụngthu giữ của Nguyễn Thị N. Cơ quan CSĐT đã trích xuất video hình ảnh khu vực nhà để xe, quầy lễ tân thời điểm ng ày 24/02/2024, in ra bản giấy và trích xuất lưu ra 01 đĩa DVD chuyển theo cùng hồ sơ vụ án. Vì vậy, HĐXX trả lại 01 đầu ghi camera, nhãn hiệu Dahua Technology, S: 3A001F5PAEXMEHE, đã qua sử dụng cho Nguyễn Thị N.
- Đối với số tiền 755.000 (Bảy trăm lăm mươi năm nghìn) đồng là tiền ngày 24/02/2024 D bán dâm mà có. HĐXX xét thấy số tiền trên liên quan đến hành vi phạm tội nên cần tịch thu sung ngân sách nhà nước.
[9] Về án phí: Bị cáo bị kết án nên phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Tuyên bố bị cáo Nguyễn Thị N phạm tội “Chứa mại dâm”.
- Căn cứ khoản 1 Điều 327; khoản 5 Điều 327; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 65 BLHS, Nghị quyết số 01/2022/NQ-HĐTP ngày 15/4/2022 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao:
Xử phạt bị cáo Nguyễn Thị N 12 (mười hai) tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 24 (hai mươi bốn) tháng tính từ ngày tuyên án sơ thẩm. (Bị cáo bị tạm giam từ ngày 21/10/2024 đến ngày 13/01/2025).
Phạt bị cáo Nguyễn Thị N 10.000.000 (Mười triệu) đồng, sung ngân sách Nhà nước.
Giao bị cáo Nguyễn Thị N cho Ủy ban nhân dân xã T, huyện T, tỉnh Nam Định quản lý và giáo dục trong thời gian thử thách. Trong trường hợp bị cáo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại khoản 1 Điều 69 của Luật Thi hành án hình sự. Trong thời gian thử thách, nếu bị cáo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên, thì Toà án có thể quyết định buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.
- Căn cứ vào Điều 121; điểm d khoản 1 Điều 125 của Bộ luật tố tụng hình sự: hủy bỏ biện pháp ngăn chặn “Bảo lĩnh” của Tòa án nhân dân huyện Trực Ninh, tỉnh Nam Định đang được áp dụng đối với bị cáo Nguyễn Thị N.
Căn cứ Điều 36, điểm b khoản 1 Điều 38 Luật xuất cảnh, nhập cảnh của công dân Việt Nam năm 2019, bị cáo Nguyễn Thị N không được xuất cảnh trong thời gian thử thách.
- Xử lý vật chứng và các biện pháp tư pháp: Căn cứ Điều 47 của BLHS; điểm b khoản 2, khoản 3 Điều 106 của BLTTHS:
Tịch thu sung ngân sách nhà nước số tiền 755.000 (Bảy trăm lăm mươi năm nghìn) đồng - (Chi tiết theo ủy nhiệm chi ngày 17/01/2025 giữa Công an huyện T và Kho bạc nhà nước huyện T).
Trả lại 01 đầu ghi camera, nhãn hiệu Dahua Technology, S: 3A001F5PAEXMEHE, đã qua sử dụng cho bị cáo Nguyễn Thị N.
- Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 của BLTTHS, Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội khóa XIV về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án. Bị cáo Nguyễn Thị N phải nộp 200.000 (Hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm.
Bị cáo; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có mặt tại phiên toà được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc được tống đạt hợp lệ theo quy định của pháp luật.
Trường hợp bản án quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sựngười được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự. Thời hiệu thi hành án dân sự được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Vũ Hoàng Giang |
Bản án số 14/2025/HS-ST ngày 27/02/2025 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TRỰC NINH, TỈNH NAM ĐỊNH về hình sự (chứa mại dâm)
- Số bản án: 14/2025/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Hình sự (Chứa mại dâm)
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 27/02/2025
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TRỰC NINH, TỈNH NAM ĐỊNH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Nguyễn Thị N - Chứa mại dâm
