Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THỊ XÃ CAI LẬY

TỈNH TIỀN GIANG

Bản án số: 14/2025/HS-ST

Ngày: 26-02-2025

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ CAI LẬY - TỈNH TIỀN GIANG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Bùi Thị Cẩm Loan

Các Hội thẩm nhân dân.

  1. Ông Huỳnh Ngọc Trứ
  2. Bà Đặng Thị Tiềm

Thư ký Toà án ghi biên bản phiên tòa: Ông Nguyễn Tuấn Tín – Thư ký Tòa án nhân dân thị xã Cai Lậy.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Cai Lậy tham gia phiên tòa: Bà Huỳnh Tiểu My - Kiểm sát viên.

Ngày 26 tháng 02 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân thị xã Cai Lậy tiến hành xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 02/2025/TLST-HS ngày 06 tháng 01 năm 2025 theo quyết định đưa ra vụ án xét xử số 10/2025/QĐXXST-HS ngày 07 tháng 02 năm 2025 đối với bị cáo:

Họ và tên: Trần Quốc H, sinh ngày 10/5/1997, tại tỉnh Tiền Giang.

Tên thường gọi: không.

Nơi đăng ký thường trú và chỗ ở hiện nay: ấp H, xã H, huyện C, tỉnh Tiền Giang.

Dân tộc: Kinh. Quốc tịch: Việt Nam. Tôn giáo: Không

Nghề nghiệp: không. Trình độ học vấn: 6/12.Giới tính: Nam

Số CCCD: [...], cấp ngày 27/05/2023, Nơi cấp: Cục Cảnh sát Quản lý hành chính về trật tự xã hội – Bộ C1.

Con ông Trần Văn B, sinh năm 1976 và bà Nguyễn Thị P, sinh năm 1978;

Bị cáo sống như vợ chồng với Nguyễn Thị Thúy A, sinh năm 2001 và có 01 con chung sinh năm 2017.

Tiền án: 03 lần:

  • + Ngày 27/8/2014, bị Tòa án nhân dân Quận Bình Tân, Thành phố Hồ Chí Minh xử phạt 02 năm 06 tháng tù về tội "Cướp giật tài sản" theo quy định tại điểm d, khoản 2 Điều 136 Bộ luật Hình sự năm 1999 tại Bản án số 266/2014/HS-ST. Chấp hành xong hình phạt tù ngày 31/8/2015, chưa chấp hành xong án phí 200.000đồng. Tại thời điểm phạm tội này, H mới 16 tuổi 10 tháng 03 ngày. Theo qui định tại điểm b khoản 2 Điều 107 Bộ luật Hình sự năm 2015 thì người từ đủ 16 tuổi đến dưới 18 tuổi đương nhiên xóa án tích là 01 năm trong trường hợp bị phạt tù đến 05 năm. H chấp hành xong mức án 02 năm 06 tháng tù vào ngày 31/8/2015. Tuy nhiên, đến ngày 10/7/2016 thì H tiếp tục phạm tội mới (10 tháng 09 ngày). Như vậy, H chưa được xóa án tích đối với bản án này.

  • + Ngày 18/7/2017, bị Tòa án nhân dân huyện Cai Lậy, tỉnh Tiền Giang xử phạt 02 năm 06 tháng tù về tội "Trộm cắp tài sản" theo quy định tại khoản 1 Điều 138, điểm p khoản 1 Điều 46, điểm g khoản 1 Điều 48 Bộ luật Hình sự năm 1999 tại Bản án số 16/2017/HS-ST. Đã chấp hành xong án phí 200.000đồng án phí hình sự sơ thẩm và 300.000đồng án phí dân sự sơ thẩm ngày 21/3/2018 tại biên lai số 3214.

  • + Ngày 13/12/2017, bị Tòa án nhân dân huyện Cai Lậy, tỉnh Tiền Giang xửphạt 06 năm tù về tội “Giao cấu với trẻ em" theo điểm a, d khoản 2 Điều 115, điểm p khoản 1, khoản 2 Điều 46, điểm g khoản 1 Điều 48 (Bị cáo H phạm tội nhiều lần và đã phạm tội rất nghiêm trọng nhưng chưa được xóa án tích) của Bộ luật Hình sự năm 1999, tại Bản án số 29/2017/HS-ST. Tổng hợp hình phạt với Bản án số 16/2017/HS-ST ngày 18/7/2017 của Tòa án nhân dân huyện Cai Lậy, tỉnh Tiền Giang buộc Trần Quốc H phải chịu hình phạt chung của 02 bản án là 08 năm 06 tháng tù. Chấp hành xong hình phạt tù ngày 15/02/2023. Chưa xóa án tích. Tái phạm nguy hiểm (Đã bị kết án về tội rất nghiêm trọng do cố ý, chưa được xóa án tích mà lại thực hiện hành vi phạm tội rất nghiêm trọng do cố ý theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 53 Bộ luật hình sự).

Tiền sự: Không.

Nhân thân:

  • - Ngày 05/7/2013, bị Công an xã H, huyện C, tỉnh Tiền Giang xử phạt số số tiền 750.000đồng về hành vi "Trộm cắp tài sản” theo Quyết định số 0000264/QĐ-XPHC.

  • - Ngày 20/9/2024, bị Công an xã H, huyện C, tỉnh Tiền Giang xử phạt số tiền 1.500.000đồng về hành vi “Sử dụng trái phép chất ma túy" theo Quyết định số 0000031/-XPHC.

  • - Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 21/9/2024, chuyển tạm giam từ ngày 27/9/2024 đến nay tại Nhà tạm giữ Công an thị xã C.

Bị cáo có mặt tại phiên tòa.

* Bị hại: Ngô Công D, sinh năm 1983 (vắng mặt);

Địa chỉ: Ấp P, xã L, thị xã C, tỉnh Tiền Giang.

* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

  1. Vũ Văn D1, sinh năm 1986 (vắng mặt);
  2. Địa chỉ: Số C đường D, B, phường D, thành phố D, tỉnh Bình Dương.

  3. Lê Thị M, sinh năm 1988 (vắng mặt);
  4. Địa chỉ: Số C Đường D, B, phường D, thành phố D, tỉnh Bình Dương.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

* Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Theo lời khai của Trần Quốc H, sáng ngày 09/9/2024 H đón xe khách từ tỉnh Đồng Nai về huyện C, tỉnh Tiền Giang chơi. Khi về đến huyện C, H điện thoại rủ người bạn tên M1 (không rõ họ tên và địa chỉ cụ thể, chỉ biết ở xã L, huyện C, tỉnh Tiền Giang) đến quán nước không tên tại chợ “Ba Dừa” thuộc xã L, huyện C, tỉnh Tiền Giang để uống nước, sau đó cả hai tiếp tục đi uống rượu đến khoảng 22 giờ cùng ngày thì nghỉ. M1 đi về còn H đi bộ đến một nhà nghỉ (không nhớ tên) gần khu vực ngã ba L, huyện C, tỉnh Tiền Giang thuê phòng nghỉ.

Đến khoảng 02 giờ ngày 10/9/2024, do cần tiền tiêu xài cá nhân nên H nảy sinh ý định đi tìm tài sản để trộm cắp. H đi bộ đến khu vực ngã ba L thuộc huyện C, tỉnh Tiền Giang thì nhìn thấy 01 xe đạp của bà Nguyễn Thị Thu H1 đang dựng trước tiệm bánh “Thanh My” thuộc ấp M, xã L, huyện C, tỉnh Tiền Giang không người trông coi nên H đi đến lấy trộm chiếc xe đạp này chạy đi. Đến khoảng 04 giờ 40 phút ngày 10/9/2024, khi H đạp xe đến khu vực ấp P, xã L, thị xã C, tỉnh Tiền Giang thì H nhìn thấy 01 xe mô tô hiệu VARIO màu xanh sọc đỏ biển số 63B2-672.27 của anh Ngô Công D đang đậu trước cửa nhà (quán P1), chìa khóa còn trên xe nên H nảy sinh ý định trộm xe môtô này, lợi dụng lúc không có người trông coi nên H bỏ xe đạp lại cách quán phở D khoảng 06 mét rồi đi đến lấy trộm xe 63B2-672.27. H khởi động máy và điều khiển xe chạy về nhà nghỉ tại ngã ba L, huyện C, tỉnh Tiền Giang lấy ba lô rồi tiếp tục điều khiển xe chạy về tỉnh Đồng Nai. Trên đường đi về tỉnh Đồng Nai, H dừng lại kiểm tra trong cốp xe lấy giấy tờ tùy thân của chị Nguyễn Thị Diệu S (vợ anh D) vứt đi. Khi về đến tỉnh Đồng Nai, H gọi điện thoại rủ người bạn tên C (không rõ họ tên và địa chỉ cụ thể) cùng đi đến tiệm cầm đồ “Minh Quân” do anh Vũ Văn D1 làm chủ nơi H đã cầm căn cước công dân của H trước đó. H mượn C 500.000đồng để chuộc lại căn cước công dân rồi sau đó H dùng căn cước công dân của mình để cầm xe môtô vừa trộm được cho anh D1 với giá 15.000.000đồng và H cho C 3.000.000đồng.

Khi H cầm xe đã trộm cắp cho anh D1 để lấy số tiền 15.000.000đồng thì H có gặp Võ Thị Hồng N, N nói cần mua xe cho người thân thì H nói đang cầm 01 chiếc nếu N mua thì H bán lại nên H và N đi đến cửa hàng của anh D1 làm lại giấy cầm xe từ H chuyển sang tên N. Sau khi đã chuyển tên xong, N lại nói với H người thân không mua nữa nên N bán xe này luôn cho anh D1 với giá 19.000.000đồng. N lấy tiền về đưa cho H 4.000.000đồng và H đã cho N 1.000.000đồng. Đến khuya ngày 17/9/2024, H đón xe khách đi từ tỉnh Đồng Nai về nhà tại xã H, huyện C, tỉnh Tiền Giang thì bị Công an phát hiện bắt giữ.

Vật chứng, dữ liệu điện tử thu giữ:

  • - 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda, loại VARIO biển số 63B2-672.27 và 01 giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô biển số 63B2-672.27 do anh Ngô Công D đứng tên chủ sở hữu.
  • - 02 đoạn video ghi lại diễn biến vụ việc,
  • - 01 hợp đồng cầm đồ số 018644;
  • - 01 giấy mua bán xe ngày 15/9/2024 giữa Võ Thị Hồng N và Vũ Văn D1.
  • - 01 xe đạp hiệu ASAMA của chị Nguyễn Thị Thu H1 lấy trộm tại địa bàn xã L, huyện C, tỉnh Tiền Giang.

Tại Bản kết luận định giá tài sản số 66/KL-HĐĐGTS ngày 24/9/2024 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự Công an thị xã C, tỉnh Tiền Giang kết luận: 01 xe mô tô hiệu VARIO màu xanh sọc đỏ biển số 63B2-672.27 trị giá 26.800.000đồng.

Tại Bản Cáo trạng số 06/CT-VKS ngày 03/01/2025 của Viện kiểm sát nhân dân thị xã Cai Lậy, tỉnh Tiền Giang truy tố bị cáo Trần Quốc H về tội “Trộm cắp tài sản” quy định tại điểm g khoản 2 Điều 173 Bộ luật Hình sự.

* Tại phiên tòa,

* Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Cai Lậy trong phần tranh luận giữ nguyên quyết định truy tố bị cáo Trần Quốc H về tội “Trộm cắp tài sản” quy định tại điểm g khoản 2 Điều 173 Bộ luật Hình sự và phân tích tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội, nhân thân, cùng các tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng trách nhiệm hình sự, đã đề nghị Hội đồng xét xử:

- Tuyên bố bị cáo Trần Quốc H phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

- Áp dụng điểm g khoản 2 Điều 173; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Xử phạt bị cáo Trần Quốc H từ 03 năm đến 03 năm 06 tháng tù.

Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo đã khai nhận hành vi phạm tội như đã nêu trên. Bị cáo không trình bày lời bào chữa. Nói lời nói sau cùng bị cáo trình bày biết ăn năn hối cải về hành vi phạm tội và xin được giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

* Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thị xã C, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thị xã Cai Lậy, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng Hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo, bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không có người nào có ý kiến hoặc khiếu nại hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Về hành vi phạm tội của bị cáo. Xét thấy:

Tại phiên tòa, bị cáo Trần Quốc H đã khai nhận hành vi phạm tội của mình như cáo trạng mà Viện kiểm sát đã truy tố. Lời khai nhận tội trên của bị cáo cơ bản đã phù hợp với lời khai của người bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan và các lời khai trước đây của bị cáo tại cơ quan điều tra, cùng các chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án, đủ cơ sở kết luận khoảng 04 giờ 40 phút ngày 10/9/2024, tại ấp P, xã L, thị xã C, tỉnh Tiền Giang, bị cáo Trần Quốc H đã có hành vi lén lút lấy trộm 01 xe mô tô hiệu VARIO màu xanh sọc đỏ biển số 63B2-672.27 của anh Ngô Công D. Tài sản chiếm đoạt có giá trị là 26.800.000đồng; do đã có tiền án về tội “Trộm cắp tài sản” và tội “Giao cấu với trẻ em" trong trường hợp tái phạm nguy hiểm chưa được xóa án tích mà lại thực hiện hành vi phạm tội do cố ý nên lần phạm tội này của H thuộc trường hợp tái phạm nguy hiểm. Vì vậy đủ cơ sở xác định bị cáo Trần Quốc H phạm tội “Trộm cắp tài sản” quy định tại điểm g khoản 2 Điều 173 Bộ luật Hình sự.

[3] Về tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo:

Xét thấy, bị cáo là người đã thành niên, có đầy đủ sức khoẻ và khả năng nhận thức về hành vi phạm tội của mình là nguy hiểm cho xã hội, bị cáo nhận thức được tài sản hợp pháp của người khác được pháp luật bảo vệ, mọi hành vi trộm cắp tài sản của người khác là vi phạm pháp luật nhưng lại thực hiện hành vi trộm cắp tài sản của người khác với lỗi cố ý.

Bị cáo là người có nhân thân xấu, từng nhiều lần bị xử phạt tù về hành vi chiếm đoạt tài sản, chưa được xóa án tích, tái phạm nguy hiểm. Tuy nhiên, bị cáo vẫn không ăn năn hối cải, mà lại có hành vi phạm tội mới. Điều đó cho thấy bị cáo là người có ý thức xem thường pháp luật. Hành vi phạm tội trên đây của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, nó xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của người khác được pháp luật bảo vệ, hành vi của bị cáo gây tư tưởng hoang mang trong nhân dân, ảnh hưởng đến tình hình an ninh trật tự tại địa phương. Vì vậy cần áp dụng mức hình phạt nghiêm khắc, cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian nhằm giáo dục bị cáo trở thành người có ích cho xã hội, cũng như phòng ngừa chung cho các đối tượng khác.

Tuy nhiên, sau khi phạm tội bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải. Nên bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ theo quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Vì vậy, Hội đồng xét thấy cần xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo khi lượng hình.

Bị cáo không bị áp dụng tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

[4] Về xử lý vật chứng:

  • - Đối với 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda, loại VARIO biển số 63B2-672.27 và 01 giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô biển số 63B2-672.27 do anh Ngô Công D đứng tên chủ sở hữu. Đây là tài sản hợp pháp của anh Ngô Công D nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thị xã C, tỉnh Tiền Giang đã ra quyết định xử lý vật chứng trả lại cho anh D xong là phù hợp quy định pháp luật.
  • - Đối với 02 đoạn video ghi lại diễn biến vụ việc, 01 hợp đồng cầm đồ số 018644; 01 giấy mua bán xe ngày 15/9/2024 giữa Võ Thị Hồng N và Vũ Văn D1 đây là tài liệu có liên quan đến hành vi phạm tội của bị cáo H tiếp tục lưu theo hồ sơ vụ án.
  • - 01 xe đạp hiệu ASAMA của chị Nguyễn Thị Thu H1 lấy trộm tại địa bàn xã L, huyện C, tỉnh Tiền Giang. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thị xã C, tỉnh Tiền Giang bàn giao chiếc xe trên cho Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện C, tỉnh Tiền Giang tiếp tục điều tra, xử lý theo thẩm quyền nên không đặt ra xem xét.

[5] Về trách nhiệm dân sự: Bị hại đã nhận lại xe bị mất và không có yêu cầu nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.

[6] Trần Quốc H khai nhận có hành vi lấy trộm 01 chiếc xe đạp hiệu ASAMA của chị Nguyễn Thị Thu H1 trên địa bàn xã L, huyện C, tỉnh Tiền Giang nên Cơ quan Cảnh sát điều tra, Công an thị xã C, tỉnh Tiền Giang đã chuyển hồ sơ vụ việc, vật chứng đến Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện C, tỉnh Tiền Giang để điều tra, xử lý theo thẩm quyền.

[7] Theo lời khai của H, khi về đến tỉnh Đồng Nai, H gọi điện thoại rủ người bạn tên C (không rõ họ tên và địa chỉ cụ thể) cùng đi đến tiệm cầm đồ “Minh Quân” do anh Vũ Văn D1 làm chủ nơi H đã cầm căn cước công dân của H trước đó. H mượn C 500.000đồng để chuộc lại căn cước công dân rồi sau đó H dùng căn cước công dân của mình để cầm xe môtô vừa trộm được cho anh D1 với giá 15.000.000đồng và H cho C 3.000.000đồng. Do chưa xác định được lai lịch nhân thân của C nên Cơ quan Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thị xã C, tỉnh Tiền Giang tiếp tục xác minh làm rõ, nếu có hành vi phạm tội sẽ xử lý sau.

[8] Theo lời khai của H, sau khi H cầm xe đã trộm cắp cho anh D1 để lấy số tiền 15.000.000đồng thì H có gặp Võ Thị Hồng N, N nói cần mua xe cho người thân thì H nói đang cầm 01 chiếc xe nêu N mua thì H bán lại nên H và N đi đến cửa hàng của anh D1 làm lại giấy cầm xe từ H chuyển sang tên N. Sau khi đã chuyển tên xong, N lại nói với H người thân không mua nữa nên N bán xe này luôn cho anh D1 với giá 19.000.000đồng. N lấy tiền về đưa cho H 4.000.000đồng và H đã cho N 1.000.000đồng. Do chưa làm việc được với N nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thị xã C, tỉnh Tiền Giang tiếp tục xác minh làm rõ, nếu có hành vi phạm tội, sẽ xử lý sau.

[9] Anh Vũ Văn D1 là chủ tiệm cầm đồ “Minh Quân” có nhận cầm của H 01 xe mô tô hiệu VARIO màu xanh sọc đỏ biển số 63B2-672.27 với giá 15.000.000đồng và sau đó D2 mua lại xe này với giá 19.000.000đồng. Khi cầm, mua xe này, anh D1 hoàn toàn không biết xe này do H trộm cắp mà có và H cũng không có nói cho D2 biết nguồn gốc chiếc xe này. Do đó, Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thị xã C, tỉnh Tiền Giang không xem xét trách nhiệm hình sự đối với D2 về tội "Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có" quy định tại Điều 323 Bộ luật Hình sự là có căn cứ.

[10] Về đề nghị của đại diện Viện kiểm sát là phù hợp nên chấp nhận.

* Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH

  1. Về hình phạt
  2. - Tuyên bố bị cáo Trần Quốc H phạm tội “Trộm cắp tài sản

    - Áp dụng điểm g khoản 2 Điều 173; Điều 38; Điều 50; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự;

    Phạt bị cáo Trần Quốc H 03 (ba) năm tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị cáo bị tạm giữ, tạm giam 21/9/2024.

  3. Về án phí: Áp dụng Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;
  4. Bị cáo Trần Quốc H phải chịu 200.000đồng án phí hình sự sơ thẩm.

  5. Quyền kháng cáo: Áp dụng Điều 331 và Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự;

Bị cáo có mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án này trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án này trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc từ ngày niêm yết bản án.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Tiền Giang;
  • - VKSND tỉnh Tiền Giang;
  • - VKSND Thị xã Cai Lậy;
  • - CQĐT Công an Thị xã Cai Lậy;
  • - Chi cục THADS Thị xã Cai Lậy;
  • - Nhà tạm giữ;
  • - Bị cáo;
  • - Bị hại;
  • - Lưu.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Bùi Thị Cẩm Loan

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 14/2025/HS-ST ngày 26/02/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ CAI LẬY - TỈNH TIỀN GIANG về trộm cắp tài sản (hình sự sơ thẩm)

  • Số bản án: 14/2025/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản (Hình sự sơ thẩm)
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 26/02/2025
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ CAI LẬY - TỈNH TIỀN GIANG
  • Áp dụng án lệ:
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Trần Quốc H - Trộm
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger