TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN CÁI RĂNG THÀNH PHỐ CẦN THƠ | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
Bản án số: 14/2025/HNGĐ-ST Ngày 26/02/2025 V/v “Xin ly hôn” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN CÁI RĂNG
Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
- Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Phan Vũ Linh.
- Các Hội thẩm nhân dân:
- 1/ Ông Nguyễn Thanh Tùng.
- 2/ Bà Lê Thị Tuyết Mai.
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Hoài Anh – Thư ký Tòa án nhân dân quận Cái Răng.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Cái Răng tham gia phiên tòa: Bà Lâm Thị Trung Thu – Kiểm sát viên.
Ngày 26 tháng 02 năm 2025 tại trụ sở Tòa án nhân dân quận Cái Răng đưa ra xét xử sơ thẩm vụ án hôn nhân và gia đình thụ lý số: 259/2024/TLST-HNGĐ ngày 16/12/2024 về việc “Xin ly hôn”.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử sơ thẩm số: 16/2025/QĐXXST-HNGĐ ngày 24/01/2025, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Bà Nguyễn Thị Thu V, sinh năm 1983 (Xin giải quyết vắng mặt).
Địa chỉ: Số G khu V, phường P, quận C, thành phố Cần Thơ.
* Bị đơn: Ông Trần Văn P, sinh năm 1986 (Vắng mặt).
Địa chỉ: Số C khu V K, phường P, quận C, thành phố Cần Thơ.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
* Nguyên đơn bà Nguyễn Thị Thu V trình bày và yêu cầu: Bà và ông Trần Văn P tự nguyện đi đến hôn nhân vào năm 2006 và có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân phường P, quận C, thành phố Cần Thơ theo quy định. C sống hạnh phúc đến tháng 8 năm 2024 thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân do vợ chồng bất đồng quan điểm, thường xuyên cự cãi với nhau, nhiều lần hàn gắn nhưng không thành. Nhận thấy mâu thuẫn đã trầm trọng, không thể đoàn tụ, đời sống chung không thể kéo dài, nên bà V khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết:
Về quan hệ hôn nhân: Yêu cầu được ly hôn với ông Trần Văn P.
Về con chung: Trong thời gian chung sống có 02 (hai) con chung là Trần Phúc T (nam), sinh ngày 17/7/2004 và Trần Phúc T1 (nam), sinh ngày 04/5/2007; về con chung đối với cháu T đã trưởng thanh nên không yêu cầu, riêng đối với cháu T1 bà V yêu cầu được trực tiếp nuôi dưỡng cho đến khi trưởng thành, không yêu cầu ông P có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con.
Về tài sản chung và nợ chung: Trong thời gian chung sống vợ chồng không có tài sản chung và nợ chung nên không yêu cầu giải quyết.
Đối với bị đơn ông Trần Văn P đã được Tòa án triệu tập hợp lệ 02 (hai) lần đến tham gia phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải vụ án trên theo quy định, cụ thể vào các ngày 07/01/2025 và ngày 24/01/2025, tuy nhiên ông P vắng mặt mà không có lý do. Cho nên, vụ án thuộc trường hợp không tiến hành hòa giải được theo quy định tại khoản 1 Điều 207 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 và được đưa ra xét xử theo quy định của pháp luật.
Ý kiến phát biểu của Kiểm sát viên tại phiên tòa:
- Về thủ tục tố tụng kể từ khi thụ lý vụ án đến khi đưa vụ án ra xét xử, cũng như tại phiên tòa hôm nay: Thẩm phán và Hội đồng xét xử đã tuân thủ đúng quy định về trình tự, thủ tục tố tụng. Về quan hệ tranh chấp và thẩm quyền thụ lý giải quyết đúng quy định; Tòa án đã tiến hành thủ tục hòa giải, thu thập chứng cứ đúng trình tự, thủ tục quy định của pháp luật; không phát hiện vi phạm.
- Về việc chấp hành pháp luật của các đương sự: Đối với nguyên đơn bà V có yêu cầu giải quyết vắng mặt, đây là quyền của đương sự nên đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận; riêng đối với bị đơn ông Trần Văn P đã được triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai tham gia phiên toà nhưng vắng mặt không có lý do nên đề nghị xét xử vắng mặt theo quy định.
- Về nội dung: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn, cho bà Nguyễn Thị Thu V được ly hôn với ông Trần Văn P, do trong thời gian chung sống thì hôn nhân của bà V, ông P phát sinh mâu thuẫn trong cuộc sống vợ chồng nhưng hai người không tự giải quyết mâu thuẫn đã tồn tại. Về con chung: Đề nghị Hội đồng xét xử giao con chung là cháu Trần Phúc T1 (nam), sinh ngày 04/5/2007 cho bà V tiếp tục nuôi dưỡng cho đến khi trưởng thành, ghi nhận sự tự nguyện của bà V không yêu cầu ông P có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con. Đối với tài sản chung và nợ chung: bà V khai không có, tuy nhiên bị đơn ông P vắng mặt nên chưa được làm rõ, đề nghị tách ra xem xét giải quyết thành vụ án khác, nếu đương sự có yêu cầu.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, được thẩm tra tại phiên tòa, căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa. Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về quan hệ tranh chấp và thẩm quyền giải quyết:
Bà Nguyễn Thị Thu V và ông Trần Văn P tự nguyện đi đến hôn nhân và có đăng ký kết hôn đúng theo quy định của pháp luật, đã được Ủy ban nhân dân phường P, quận C cấp Giấy chứng nhận đăng ký kết hôn số 148, ngày 18/9/2006, nên hôn nhân của ông, bà là hợp pháp được pháp luật bảo vệ và điều chỉnh khi có yêu cầu. C sống được một thời gian thì phát sinh mâu thuẫn, không đạt được hạnh phúc như mong muốn nên bà V có đơn yêu cầu xin ly hôn với ông P, quan hệ tranh chấp được xác định là “Xin ly hôn”, vụ việc được Tòa án nhân dân quận Cái Răng thụ lý giải quyết theo quy định tại khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.
[2] Về thủ tục tố tụng: Đối với bị đơn ông Trần Văn P đã được triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai tham gia phiên toà nhưng vắng mặt không có lý do, Hội đồng xét xử quyết định tiến hành xét xử vắng mặt theo quy định tại khoản 2 Điều 227 và khoản 3 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015. Đối với nguyên đơn bà Nguyễn Thị Thu V có yêu cầu giải quyết vắng mặt, xét đây là quyền của đương sự và phù hợp quy định của pháp luật nên Hội đồng xét xử chấp nhận.
[3] Xét yêu cầu của các đương sự:
- Về quan hệ hôn nhân: Hôn nhân của bà V và ông P là hợp pháp trên cơ sở tự nguyện, trong thời gian chung sống thì tình cảm vợ chồng có sự rạn nứt, mâu thuẫn với nhau, giữa hai người không tìm ra cách giải quyết mâu thuẫn, không hàn gắn tiếp tục cuộc sống hôn nhân đã được xây dựng.
Xét thấy, để xây dựng hạnh phúc của gia đình, cũng như cuộc sống của vợ chồng phải được vun đắp từ tình cảm thật sự xuất phát từ bản thân của cả người vợ và người chồng, sự tự nguyện cả hai người đồng thời cùng duy trì, giữ gìn hạnh phúc đã xây dựng, cùng chăm lo cho nhau và nuôi dạy con chung, nhưng bà V và ông P không làm được điều này. Bà V cho rằng không còn tình cảm, không thể hàn gắn, kiên quyết ly hôn với ông P, nếu gán ép, duy trì sẽ không mang lại hạnh phúc. Riêng đối với bị đơn ông P đã được Tòa án thông báo đầy đủ các văn bản tố tụng theo quy định, nhưng vắng mặt mà không có lý do, không đưa ra ý kiến hay giải pháp nào để vợ chồng hàn gắn, đoàn tụ với nhau, chứng tỏ ông P không còn tha thiết duy trì cuộc hôn nhân với bà V. Vì vậy, Hội đồng xét xử xét thấy mục đích hôn nhân giữa bà V và ông P không đạt được, đời sống chung thực tế không tồn tại, nghĩ nên cho bà V được ly hôn với ông P là có căn cứ và phù hợp quy định của pháp luật.
- Về con chung: Có 02 (hai) con chung là Trần Phúc T (nam), sinh ngày 17/7/2004 và Trần Phúc T1 (nam), sinh ngày 04/5/2007; đối với Phúc T đã trưởng thành nên không đặt ra xem xét, giải quyết; riêng đối với Phúc T1 trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn bà V yêu cầu được trực tiếp nuôi dưỡng cho đến khi trưởng thành, tại văn bản ý kiến ngày 04/02/2025 (BL 43) cháu T1 có nguyện vọng sống với bà V. Xét thấy, để đảm bảo các điều kiện học tập, môi trường sống, cũng như nguyện vọng của con chung, nghĩ nên giao cháu T1 cho bà V tiếp tục nuôi dưỡng cho đến khi trưởng thành là phù hợp và có căn cứ.
Về cấp dưỡng nuôi con, trong quá trình giải quyết vụ án mặc dù đã được giải thích về cấp dưỡng nuôi còn là vì lợi ích của con chung, nhưng bà V có ý kiến là không yêu cầu ông P cấp dưỡng nuôi con. Xét đây là sự tự nguyện của bà V, không trái pháp luật và đạo đức xã hội nên chấp nhận.
Dành quyền thăm nom, chăm sóc và giáo dục con chung cho ông Trần Văn P theo quy định pháp luật, không ai được quyền ngăn cản.
- Về tài sản chung và nợ chung: Bà V khai không có, không có yêu cầu giải quyết, riêng ông P vắng mặt nên chưa được làm rõ. Trường hợp sau này có tranh chấp sẽ tách ra giải quyết thành vụ án khác, nếu có yêu cầu.
Xét quan điểm của đại diện Viện kiểm sát là phù hợp với nhận định trên của Hội đồng xét xử nên chấp nhận.
[3] Về án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm: Nguyên đơn bà Nguyễn Thị Thu V nộp 300.000₫ (Ba trăm nghìn đồng).
Vì các lẽ trên.
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 1, khoản 2 Điều 227, khoản 1, khoản 3 Điều 228, các Điều 147, 235, 266 và 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.
Căn cứ khoản 1 Điều 56, các Điều 57, 58, 81, 82 và 83 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014.
Căn cứ điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội.
Tuyên xử:
- Về quan hệ hôn nhân: Cho bà Nguyễn Thị Thu V được ly hôn với ông Trần Văn P.
- Về con chung: Có 02 (hai) con chung là Trần Phúc T (nam), sinh ngày 17/7/2004, cháu T đã trưởng thành nên không đặt ra xem xét giải quyết; và Trần Phúc T1 (nam), sinh ngày 04/5/2007, giao cháu T1 cho bà V tiếp tục nuôi dưỡng cho đến khi trưởng thành, bà V không yêu cầu ông P có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con.
Dành quyền thăm nom, chăm sóc và giáo dục con chung cho ông Trần Văn P theo quy định pháp luật, không ai được quyền ngăn cản.
- Về tài sản chung và nợ chung: Bà V khai không có, không có yêu cầu giải quyết, riêng ông P vắng mặt nên chưa được làm rõ. Trường hợp sau này có tranh chấp sẽ tách ra giải quyết thành vụ án khác, nếu có yêu cầu.
- Về án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm: Nguyên đơn bà Nguyễn Thị Thu V nộp 300.000₫ (Ba trăm nghìn đồng), được trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 300.000₫ (Ba trăm nghìn đồng) theo biên lai thu tiền số 0003937 ngày 06 tháng 12 năm 2024 của Chi cục Thi hành án dân sự quận Cái Răng, thành phố Cần Thơ; bà V đã nộp xong án phí.
- Về quyền kháng cáo: Các đương sự vắng mặt được quyền quyền kháng cáo bản án này trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc được niêm yết công khai theo quy định của pháp luật, để yêu cầu Tòa án cấp trên xét xử phúc thẩm theo quy định./.
* Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa Phan Vũ Linh |
Bản án số 14/2025/HNGĐ-ST ngày 26/02/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN CÁI RĂNG, THÀNH PHỐ CẦN THƠ về xin ly hôn
- Số bản án: 14/2025/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Xin ly hôn
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 26/02/2025
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN CÁI RĂNG, THÀNH PHỐ CẦN THƠ
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Xin ly hôn
