Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN TAM DƯƠNG

TỈNH VĨNH PHÚC

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 14/2025/HS-ST

Ngày 26-02-2025

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TAM DƯƠNG, TỈNH VĨNH PHÚC

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

    Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà: Ông Lê Minh Hoàng

    Các Hội thẩm nhân dân: Bà Kiều Thị Thắng và bà Nguyễn Thị Nghị

    Thư ký phiên toà: Bà Vũ Phương Anh - Thư ký Toà án nhân dân huyện Tam Dương

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tam Dương tham gia phiên toà: Ông Đầu Xuân Hưng - Kiểm sát viên.

Ngày 26 tháng 02 năm 2025, tại Nhà Văn hóa thôn C, xã H, huyện T, tỉnh Vĩnh Phúc xét xử sơ thẩm lưu động công khai vụ án hình sự thụ lý số 08/2025/TLST-HS ngày 17 tháng 01 năm 2025, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 10/2025/QĐXXST-HS ngày 12 tháng 02 năm 2025 đối với:

- Bị cáo Nguyễn Phương N, sinh ngày 07/02/1997 tại xã H, huyện T, tỉnh Vĩnh Phúc; nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: Thôn B, xã H, huyện T, tỉnh Vĩnh Phúc; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn L và bà Đỗ Thị T; vợ: Lê Thị P; con: Chưa có; tiền án, tiền sự: Không; nhân thân: Tại Bản án số 07/2022/HSST ngày 26/01/2022 của Tòa án nhân dân tỉnh Vĩnh Phúc xử phạt bị cáo Nguyễn Phương N 09 tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách 18 tháng về tội “Đánh bạc”, tháng 8 năm 2022 Nam chấp hành xong án phí và hình phạt bổ sung, ngày 26/7/2023 N chấp hành xong thời gian thử thách; bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 03/11/2024 đến nay, có mặt.

- Người làm chứng: Anh Nguyễn Quang C, sinh năm 1984, địa chỉ: TDP B, thị trấn H, huyện T, tỉnh Vĩnh Phúc, vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 09 giờ ngày 03/11/2024, Nguyễn Phương N đến khu vực bến xe V thuộc phường K, thành phố V, tỉnh Vĩnh Phúc để tìm mua ma túy về sử dụng. Tại đây, Nguyễn Phương N gặp và mua 01 gói nhỏ ma tuý của một người đàn ông không rõ tên, địa chỉ với số tiền 300.000đồng. Sau khi mua được ma túy, Nguyễn Phương N cất gói ma túy vào túi quần bên trái đang mặc rồi quay về nhà. Khoảng 14 giờ cùng ngày, Nguyễn Phương N đi tìm nơi vắng người để sử dụng trái phép chất ma tuý, khi đến khu vực cổng trường tiểu học xã H thuộc thôn G, xã H, huyện T thì bị tổ công tác của Phòng Cảnh sát điều tra tội phạm về ma túy - Công an tỉnh V kiểm tra, phát hiện và lập biên bản bắt người có hành vi phạm tội quả tang. Vật chứng thu giữ gồm: Thu giữ trong lòng bàn tay trái của Nguyễn Phương N 01 túi nilon, bên trong chứa viên nén màu hồng và tinh thể dạng đá màu trắng (N khai là ma túy đá và ma túy ngựa, tàng trữ để sử dụng), niêm phong ký hiệu A1 theo quy định, thu giữ tại túi quần phải của Nam 01 điện thoại di động nhãn hiệu OPPO, vỏ màu đỏ, đã qua sử dụng.

Tại Kết luận giám định số 3176/KL-KTHS ngày 07/11/2024 của Phòng K - Công an tỉnh V kết luận: “Tinh thể dạng đá màu trắng có trong mẫu ký hiệu A1 gửi giám định là ma túy, loại Methamphetamine có khối lượng 0,1352g (không phẩy một ba năm hai gam, không kể bao bì). Một mảnh viên nén màu hồng có trong mẫu ký hiệu A1 gửi giám định là ma túy, loại Methamphetamine có khối lượng 0,0726g (không phảy không bẩy hai sáu gam, không kể bao bì) ... Hoàn trả trực tiếp đối tượng giám định A1 còn lại sau giám định cho cơ quan trưng cầu gồm: A1 (hồng) = 0,0395 gam; A1 (trắng) = 0,1105 gam mẫu sau giám định cùng toàn bộ bao gói được niêm phong ...".

Đối với đối tượng do N khai đã bán ma túy cho N ngày 03/11/2024 (N không biết rõ họ tên, địa chỉ cụ thể của đối tượng này), Cơ quan điều tra đã xác minh nhưng không xác định được đối tượng trên, do đó không có căn cứ để xử lý.

Tại cơ quan điều tra, Nguyễn Phương N đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như đã nêu ở trên.

Tại Cáo trạng số 14/CT-VKSTD ngày 15/01/2025 Viện kiểm sát nhân dân huyện Tam Dương, tỉnh Vĩnh Phúc đã truy tố Nguyễn Phương N về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự.

Tại phiên toà, Kiểm sát viên trình bày lời luận tội đối với bị cáo; giữ nguyên quyết định truy tố bị cáo như Cáo trạng, đồng thời đề nghị Hội đồng xét xử: Tuyên bố bị cáo Nguyễn Phương N phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”. Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38 Bộ luật hình sự, phạt bị cáo Nguyễn Phương N từ 02 năm đến 02 năm 03 tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày tạm giữ, tam giam; đề nghị không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo và xử lý vật chứng theo quy định pháp luật. Về án phí: Buộc bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định pháp luật.

Bị cáo không bào chữa, tranh luận gì và đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các chứng cứ tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra - Công an huyện T, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Tam Dương, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo thừa nhận toàn bộ hành vi của mình như nội dung bản cáo trạng đã truy tố, thể hiện: Khoảng 14 giờ 30 phút ngày 03/11/2024, tại khu vực Trường tiểu học xã H thuộc thôn G, xã H, huyện T, tỉnh Vĩnh Phúc, Phòng Cảnh sát điều tra tội phạm về ma túy - Công an tỉnh V phát hiện, bắt quả tang Nguyễn Phương N có hành vi tàng trữ trái phép 01 túi nilon bên trong chứa chất tinh thể dạng đá màu trắng và một mảnh viên nén màu hồng có tổng khối lượng 0,2078g đều là ma túy Methamphetamine, mục đích để sử dụng thì bị bắt quả tang. Lời khai nhận của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo tại Cơ quan điều tra, phù hợp với biên bản bắt người phạm tội quả tang, vật chứng thu giữ, kết luận giám định, lời khai của người chứng kiến, người làm chứng và phù hợp với các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án mà Cơ quan điều tra đã thu thập được. Hành vi của bị cáo đã phạm vào tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” được quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật hình sự. Nội dung điều luật quy định:

“1. Người nào tàng trữ trái phép chất ma túy mà không nhằm mục đích mua bán, vận chuyển, sản xuất trái phép chất ma túy thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 01 năm đến 05 năm:

c) Methamphetamine.... có khối lượng từ 0,1 gam đến dưới 05 gam”;

[3] Xét tính chất của vụ án là nghiêm trọng, hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến chế độ quản lý của Nhà nước đối với chất ma tuý, gây mất trật tự trị an và an toàn xã hội. Ma tuý là tệ nạn cần phải loại bỏ ra khỏi đời sống xã hội. Ngoài ra, ma túy là nguyên nhân ảnh hưởng đến sức khỏe của con người, là nguyên nhân làm phát sinh nhiều loại tội phạm nguy hiểm khác. Vì vậy, cần phải xử phạt bị cáo mức hình phạt tù nghiêm khắc mới có tác dụng giáo dục riêng và răn đe phòng ngừa chung.

[4] Xét nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo, thấy rằng: Bị cáo không có tiền án, tiền sự nhưng là người có nhân thân xấu, năm 2022 bị cáo đã bị xử phạt 9 tháng tù cho hưởng án treo về tội Đánh bạc (đã được xóa án tích). Mặc dù nhận thức rõ về tác hại của ma túy nhưng bị cáo vẫn sử dụng ma túy dẫn đến vi phạm pháp luật. Tại Cơ quan điều tra và tại phiên tòa, bị cáo đã thành khẩn khai báo nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự. Ngoài ra bị cáo từng tham gia nghĩa vụ quân sự nên Hội đồng xét xử xem xét cho bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự. Khi quyết định hình phạt, Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo. Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự. Tuy nhiên, cần chấp nhận đề nghị của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa về hình phạt đối với bị cáo là phù hợp.

[5] Về áp dụng hình phạt bổ sung: Xét thấy bị cáo là đối tượng nghiện ma túy, không có nghề nghiệp và thu nhập ổn định nên Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.

[6] Về xử lý vật chứng: Đối với số ma túy còn lại sau giám định cùng toàn bộ bao gói cần tịch thu tiêu hủy.

Đối với 01 điện thoại di động nhãn hiệu OPPO, vỏ màu đỏ đã qua sử dụng thu giữ của Nguyễn Phương N, quá trình điều tra xác định là tài sản của N, không liên quan đến hành vi phạm tội cần trả lại cho bị cáo nhưng tiếp tục tạm giữ để đảm bảo thi hành án.

[7] Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn Phương N phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”. Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 38 Bộ luật hình sự, xử phạt: Bị cáo Nguyễn Phương N 02 (hai) năm tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt tạm giữ, tạm giam (ngày 03/11/2024).

2. Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự, Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự: Tịch thu, tiêu hủy toàn bộ mẫu vật sau giám định do Phòng K Công an tỉnh V hoàn lại, gồm: A1 (hồng) = 0,0395 gam, A1 (trắng) = 0,1105 gam cùng toàn bộ bao gói.

Trả lại bị cáo Nguyễn Phương N 01 điện thoại di động nhãn hiệu OPPO, vỏ màu đỏ đã qua sử dụng nhưng tiếp tục tạm giữ để đảm bảo thi hành án.

(Vật chứng có đặc điểm như Biên bản giao nhận vật chứng ngày 12/02/2025 giữa Công an huyện T và Chi cục Thi hành án dân sự huyện Tam Dương)

3. Áp dụng khoản 2 Điều 135, khoản 2 Điều 136 của Bộ luật tố tụng hình sự, Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án: Buộc bị cáo Nguyễn Phương N phải chịu 200.000đồng án phí hình sự sơ thẩm.

4. Bị cáo có quyền kháng cáo Bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Nơi nhận:

  • - VKSND tỉnh Vĩnh Phúc;
  • - Sở Tư pháp tỉnh Vĩnh Phúc;
  • - VKSND huyện Tam Dương;
  • - Chi cục THADS huyện Tam Dương;
  • - Công an huyện Tam Dương;
  • - Bị cáo;
  • - Lưu VP, HSVA.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Lê Minh Hoàng

THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Kiều Thị Thắng Nghị

Nguyễn Thị

Lê Minh Hoàng

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 14/2025/HS-ST ngày 26/02/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TAM DƯƠNG, TỈNH VĨNH PHÚC về tàng trữ trái phép chất ma tuý

  • Số bản án: 14/2025/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tàng trữ trái phép chất ma tuý
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 26/02/2025
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TAM DƯƠNG, TỈNH VĨNH PHÚC
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Nguyễn Phương N - Tàng trữ TP CMT
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger